Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM ANH TOÀN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NÔNG HỘ
SAU KHI ĐƢỢC GIAO ĐẤT NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
năm nay, nhằm gắn lao động với đất đai tạo động lực phát triển sản xuất nông,
lâm nghiệp, từng bước ổn định và phát triển tình hình kinh tế - xã hội, tăng
cường quốc phòng - an ninh.
Thực tiễn những năm qua cho thấy chính sách giao đất nông, lâm
nghiệp đã đi vào cuộc sống và đáp ứng được nguyện vọng đông đảo nhân dân
các dân tộc, tạo việc làm và thu nhập để cải thiện cuộc sống của nhân dân.
Chính nhờ đó mà hiện nay diện tích rừng nước ta đã tăng lên nhanh chóng sau
một thời gian dài rừng bị tàn phá nghiêm trọng, giảm sút cả về diện tích và
chất lượng. Trong điều kiện Việt Nam, việc áp dụng các chính sách giao đất
nông, lâm nghiệp ở từng địa phương có nhiều điểm khác biệt về cách thức
tiến hành, về nhận thức và mức độ chấp nhận của người dân.
Bên cạnh những ưu điểm và kết quả đạt được vẫn còn bộc lộ những bất
cập đòi hỏi chính sách giao đất lâm nghiệp cần được sửa đổi bổ sung và hoàn
thiện, hiệu quả sử dụng đất sau khi giao đất chưa đạt như mong muốn. Xuất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
phát từ nhu cầu thực tiễn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu
quả sử dụng đất của nông hộ sau khi được giao đất nông nghiệp, lâm
nghiệp trên địa bàn huyện Hàm Yên – tỉnh Tuyên Quang” nhằm đề xuất
những giải pháp đẩy mạnh công tác giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp và nâng
cao hiệu quả sử dụng đất.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
- Đánh giá một số hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp trên địa bàn
nghiên cứu và tìm hiểu ý kiến của người dân sau khi được giao đất rừng để
đánh giá hiệu quả sử dụng đất của nông hộ nhằm đề xuất các giải pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng đất tại tỉnh Tuyên Quang.
2.2 Yêu cầu của đề tài
Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định
181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
năm 2003 .
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính
phủ về thu tiền sử dụng đất;
- Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính
phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính
phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ-CP.
- Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 142/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005
của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Thông tư số 141/2007/TT-
BTC ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Tài chính Hướng dẫn sửa đổi, bổ
sung Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30/12/2005.
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính
phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất .
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ
quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất.
khen thưởng, ngược lại sẽ bị xử lý.
Giai đoạn từ năm 1979-1992 Trung Quốc đã ban hành 26 văn bản về
Pháp luật, Nghị định, Thông tư và Quy định liên quan đến công tác quản lý
bảo vệ tài nguyên rừng.
Bên cạnh đó, quá trình quy hoạch đất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi bảo
vệ nguồn nước, phát triển công nghiệp, dân số và giao thông nhằm sử dụng đất
có hiệu quả ở miền núi được Chính phủ Trung Quốc quan tâm. Trung Quốc
từng bước đưa sản xuất nông, lâm nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để
tăng trưởng kinh tế, loại bỏ nghèo nàn. Bắt đầu từ năm 1987, Nhà nước đã thực
hiện chương trình giúp đỡ nhân dân thoát khỏi nghèo nàn trong những huyện
nghèo, có thu nhập bình quân đầu người dưới 200 nhân dân tệ, đặc biệt là
những huyện nghèo ở miền núi là đối tượng quan trọng thích hợp để phát triển
lâm nghiệp [11].
Trung Quốc đã thực hiện chính sách phát triển trại rừng, kinh doanh đa
dạng, sau khi thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).
Từ đó, các trại rừng kinh doanh hình thành bước đầu đã có hiệu quả. Lúc đó
ngành lâm nghiệp được coi như công nghiệp có chu kỳ dài nên được Nhà
nước đầu tư hỗ trợ các mặt như:
- Vốn, khoa học kỹ thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ dự án
chống cát bay.
- Mỗi năm Chính phủ trích 10% kinh phí để đầu tư cho quá trình khai
khẩn đất phát triển nông, lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo [11].
- Quy định trích 20% tiền bán sản phẩm lại để làm vốn phát triển nông,
lâm nghiệp.
1.2.2 Chính sách đất đai của Nhật Bản
Tháng 12 năm 1945, Nhật Bản đã ban hành Luật cải cách ruộng đất lần
thứ nhất với mục đích là xác định quyền sở hữu ruộng đất cho người dân và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
bảo lợi ích song hành. Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng
liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình.
Chỉ có lợi ích công cộng mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường bước và
trong trường hợp đó lợi ích công cộng phải thực hiện bồi thường thiệt hại một
cách công bằng và tiên quyết đối với lợi ích tư nhân. Ở Pháp có chính sách quản
lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm bảo sản xuất nông sản bền vững và
tuân thủ việc phân vùng sản xuất các loại nông sản thuộc cộng đồng châu Âu.
Luật quy định những điểm cơ bản sau:
- Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở
cũng phải xin phép chính quyền cấp xã quyết định. Tuy nhiên, chỉ có thể làm
nhà ở cho bản thân gia đình mình và nghiêm cấm xây nhà trên đất canh tác để
bán cho người khác.
- Từ năm 1993, các bất động sản dùng cho nông nghiệp được hưởng
quy chế miễn giảm. Miễn giảm đương nhiên trong thời gian 3 năm cho một số
đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng. Miễn giảm
thuế đối với đất đai mới giành cho ươm trồng cây hạnh nhân với thời gian tối
đa là 8 năm và cho đất trồng các loại cây khác là 15 năm.
- Khuyến khích việc tích tụ đất đai bằng cách xác định các chủ đất có
nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau thì làm việc với chủ đất trong vòng 2 - 3
năm để thu thập số liệu, đàm phán với các chủ đất để tiến hành chuyển đổi
ruộng đất, tạo điều kiện tập trung các thửa đất nhỏ thành các thửa đất lớn,
thực hiện tích tụ đất đai.
- Việc bán đất nông nghiệp hay đất đô thị đều phải nộp thuế đất và thuế
trước bạ là 10%. Đất này được ưu tiên bán cho những người láng giềng để tạo
ra các thửa đất có diện tích lớn hơn.
- Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người
đất đai với hoạt động của toàn xã hội với 36 bộ luật khác nhau. Vì vậy, qua
nhiều thập kỷ mà có ít thay đổi.
Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển về cơ bản dựa trên sở hữu
tư nhân về đất đai và kinh tế thị trường có sự giám sát chung của xã hội trên
nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như phát triển đất đai gắn với bảo vệ môi trường.
Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển từ năm 1970 trở lại đây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
gắn liền với việc giải quyết những vấn đề liên quan đến pháp luật bất động
sản tư nhân: quy định các vật cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc
mua bán đất đai, việc thế chấp, quy định về hoa lợi, quyền thông hành địa
dịch và đăng ký các quyền về bất động sản, chuyển nhượng và thế chấp, cho
thuê và các hoạt động khác: vấn đề bồi thường, quy hoạch sử dụng đất và thu
hồi đất, đăng ký quyền sở hữu, hệ thống đăng ký.
Thụy Điển từ nhiều thập kỷ qua đã thành lập một hệ thống thanh tra
Nhà nước về việc chuyển đổi đất nông nghiệp và đất rừng. Những người mua
những loại đất này cần phải được phép của cơ quan có thẩm quyền. Nếu như
không được sự đồng ý, hợp đồng đó coi là không có hiệu lực. Những qui định
trên vào năm 1990 được thay đổi một phần cùng với những thay đổi về chính
sách nông nghiệp của Thụy Điển. Nhưng quan trọng hơn là những qui định đó
vẫn được tiếp tục áp dụng đến tận bây giờ, ví dụ như việc hạn chế quyền của
những tổ chức pháp nhân trong việc phân bố đất rừng [9].
1.2.5 Chính sách đất đai của Ô-xtrây-lia
Ô-xtrây-lia có lịch sử hình thành từ thuộc địa của Anh, nhờ vậy Ô-
xtrây-lia có được cơ sở và hệ thống pháp luật quản lý xã hội nói chung và
quản lý, sở hữu và sử dụng đất đai nói riêng từ rất sớm. Trong suốt quá trình
lịch sử từ lúc là thuộc địa đến khi trở thành quốc gia độc lập, pháp luật và
chính sách đất đai của Ô-xtrây-lia mang tính kế thừa và phát triển một cách
1.2.6 Chính sách đất đai của cộng hoà dân chủ Đức
Ở nước cộng hoà dân chủ Đức trước đây Luật nông nghiệp hiện đại
cấm tình trạng phân tán kinh tế nông thôn và đất đai của họ dưới bất kỳ hình
thức, mức độ sử hữu nào, kể cả sự thừa kế, sử dụng đất nông nghiệp không
đúng mục đích hoặc không có hiệu quả; uỷ ban kiểm tra quốc gia sẽ tiến hành
giám sát các hoạt động trên đất đai và đối với những mảnh đất có vi phạm
những điều trên, thì tạo điều kiện để cải thiện đất tốt nhất là chuyển mảnh đất
đó sang cho người có nhu cầu, có khả năng thực sự sử dụng dưới hình thức
cho thuê. Trên thực tế không có cản trở việc tích luỹ đất đai đối với các cá
nhân tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp, nhờ ban hành lệnh đình chỉ
phân bố lại đất đai theo hướng cấm không được bán lại đất cho những người
không phải là những chuyên gia về nông nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Mục đích của những chính sách về sản xuất nông nghiệp của chính phủ
cộng hoà liên bang Đức liên quan đến phần đất đai ở phía Đông đã được
thống nhất là không phải hoàn toàn loại bỏ tính xã hội và phát triển sự trao
đổi quyền sở hữu tư nhân về đất đai, việc hình thành quá trình sản xuất nông
nghiệp có hiệu quả lao động cao, phù hợp với những yêu cầu về kinh tế và
khả năng cạnh tranh với thị trường Tây Âu. Ở đây bảo toàn hình thức kinh tế
tập thể, mà hình thức đó được thiết lập trên cơ sở cơ chế mới ở trong nước, có
tính đến mối quan hệ với thị trường. Ở phần đất phía Tây của nước Đức thống
nhất kinh tế nông thôn có diện tích đất trung bình là 18 ha, ở phía Đông là 90
ha, còn trong các cơ sở sản xuất nông nghiệp thì ở trong khoảng 1030 - 1710
ha. Các chuyên gia phương Tây cho rằng những hình thức kinh tế như thế có
thể so sánh một cách tương đối với hình thức sản xuất nhỏ của gia đình,
khẳng định mức tăng năng suất lao động trong khu vực kinh tế trồng trọt lớn
thuộc đất đai phía Đông vào những năm gần đây.
những trường hợp quá hạn mức Nhà nước tiến hành trưng thu để chuyển giao
cho tá điền, với mức đền bù hợp lý .
Đối với đất rừng, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng, bắt
đầu từ năm 1979, Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền
hoa lợi, trong rừng dự trữ Quốc gia. Theo chương này, mỗi mảnh đất được
chia làm hai phần. Phần từ phía dưới nguồn nước là miền đất có thể dùng để
canh tác nông nghiệp, phần ở phía trên nguồn nước thì lại hạn chế và giữ
rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác mà trước đây những người dân đã
chiếm dụng (dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người dân một giấy chứng nhận
quyền hưởng hoa lợi. Đến năm 1976 đã có 600.126 hộ nông dân có đất được
cấp giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi. Cùng với chương trình này, đến
năm 1975 Cục Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã thực hiện chương trình
làng lâm nghiệp nhằm giải quyết cho những hộ gia đình được ở trên đất rừng,
quá trình thực hiện chương trình này đã thành lập được 98 làng lâm nghiệp
với 1 triệu hộ gia đình tham gia.
Chương trình làng lâm nghiệp được quy định một cách chặt chẽ, mỗi
hộ gia đình trong làng được cấp từ 2- 4 ha đất và được hưởng quyền sử dụng,
thừa kế, nhưng không được bán, mua hay chuyển nhượng diện tích đất đó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Quá trình sản xuất của làng được sự hỗ trợ của Nhà nước về điều kiện cơ sở
hạ tầng, tiếp thị và đào tạo nghề. Đi cùng với chương trình này là việc thành lập
các hợp tác xã nông, lâm nghiệp hoạt động dưới sự bảo trợ của ban chỉ đạo
HTX (Hợp tác xã). Cục Lâm nghiệp Hoàng gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn
cho các HTX yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh giá hiệu quả đầu tư
trên đất được giao đó. Đất gắn liền với rừng cho cộng đồng dân cư sống gần
rừng, diện tích mỗi hộ gia đình được nhận trồng rừng từ 0,8 ha đến 8 ha.
Hiện nay Thái Lan đang tiến hành thí điểm giao rừng được trên
đất, giao rừng của Nhà nước.
1.3 Chính sách giao đất nông, lâm nghiệp ở Việt Nam
1.3.1 Chính sách giao đất thời kỳ trước 1945-1975
Giai đoạn 1945-1954
Chỉ sau một ngày tuyên bố độc lập, ngày 03/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ký sắc lệnh "toàn dân tham gia sản xuất nông nghiệp", sau đó là sắc lệnh
giảm tô, tịch thu và chia cấp ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian phản
động cho dân nghèo, chia lại công điền công thổ.
Ngay sau khi đánh chiếm được Gia Định và các tỉnh miền Đông Nam
bộ, thực dân Pháp đã tìm cách chiếm đoạt những thửa ruộng vắng chủ (do sợ hãi
hay không muốn hợp tác với địch, đã rời nhà cửa, ruộng vườn ra vùng tự do)
để cấp cho các chủ đất người Pháp và bọn tay sai. Hậu quả là nhiều chủ sở
hữu khi trở về đã bị mất đất và trở thành tá điền ngay trên mảnh đất của mình.
Từ cuối thế kỷ XIX, ngày càng xuất hiện nhiều đồn điền với diện tích
rộng lớn. Nếu năm 1890 mới có 116 đồn điền của người Âu với 11.390 ha thì
đến năm 1900, diện tích đồn điền đã lên tới 322.000 ha, trong đó 78.000 ha ở
Nam kỳ và 198.000 ha ở Bắc kỳ [26].
Vào năm 1952-1953, giai cấp nông dân lao động bao gồm trung nông, bần
nông, cố nông chiếm 92,5% dân số và 70,7% tổng diện tích đất canh tác, bước đầu
đã có sự thay đổi về cơ cấu sở hữu và sử dụng. Tuy nhiên, chính sách ruộng đất
vẫn chưa được giải quyết cơ bản theo yêu cầu "người cày có ruộng"; số hộ nông
dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng còn nhiều. Bất công trong quan hệ ruộng đất
còn tồn tại trên diện rộng. Vào lúc đó trên các mặt trận chiến trường đang cần
động viên sức người, sức của gấp bội để dốc toàn lực lượng vào cuộc quyết chiến
chiến lược. Trong bối cảnh đó, hội nghị TW 5 khóa II họp tháng 11/1953 đã thông
qua Cương lĩnh ruộng đất và quyết định tiến hành cải cách ruộng đất; ngay sau đó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Thực chất của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp là tập thể hóa các tư
liệu sản xuất chủ yếu của nông dân, hàng đầu là ruộng đất và sức lao động.
Có thể nói đây là "cuộc cải cách ruộng đất" lần thứ hai nhằm thiết lập chế độ sở
hữu tập thể về ruộng đất trong các tổ chức HTX, theo từ mức độ từ thấp lên
cao. Năm 1957, mới có 45 HTX nhưng đến năm 1975, mô hình tập thể hóa
nông nghiệp đạt tới đỉnh điểm, số HTX nông nghiệp có 17.000, trong đó HTX
bậc cao chiếm 90%; tổng số hộ xã viên chiếm 95,6% số hộ nông dân toàn miền
Bắc, tổng số hộ xã viên bậc cao chiếm 96,4% tổng số hộ xã viên. Bình quân số
hộ xã viên một HTX là 199 hộ, bình quân số lao động trong độ tuổi của một
HTX là 337 người. Bình quân số diện tích canh tác một HTX là 115 ha [20].
Thực tế cho thấy, HTX có quy mô càng lớn, quản lý tập trung thống nhất
thì hiệu quả kinh tế mang lại càng thấp. Các hộ gia đình xã viên thu nhập kinh
tế từ tập thể ngày càng giảm, trong khi đó thu nhập của xã viên từ đất 5% để lại
làm kinh tế phụ gia đình trở thành bộ phận thu nhập quan trọng, có nơi chiếm
tới trên dưới 50% tổng thu nhập của hộ gia đình. Từ cuối năm 1973 đến đầu
năm 1975 có đến 1.098 HTX tan rã, nhiều HTX đành phải chấp nhận những
biện pháp nhằm nới lỏng cho xã viên mượn đất, gia công chăn nuôi cho hộ gia
đình, hoặc khoán trắng cho đội sản xuất quản lý, ăn chia theo đội sản xuất.
Đến năm 1975, HTX nông nghiệp ở miền Bắc bộc lộ ngày càng nhiều
mặt hạn chế, yếu kém mặc dù cơ sở vật chất tăng lên rõ rệt, mức đầu tư cũng
tăng lên nhiều, nhưng diện tích gieo trồng bị giảm sút, chi phí sản xuất tăng
vọt, sản lượng lương thực dậm chân tại chỗ, bình quân đầu người về lương
thực giảm sút, thu nhập của xã viên thấp, tệ nạn tham ô, lãng phí, thất thoát
của tập thể, tiêu hao tiền vốn, vật tư tăng lên đến mức nghiêm trọng [20].
1.3.2 Chính sách giao đất thời kỳ trước 1976 – 1986.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, Đảng đặc biệt chú
trọng xây dựng sự thống nhất về cơ cấu kinh tế - xã hội. Năm 1976, để xóa bỏ
huy, tài nguyên đồi rừng ngày càng cạn kiệt, đời sống của nông dân vẫn
nghèo nàn và lạc hậu ”, TW chủ trương thực hiện việc giao đất, giao rừng
đến hộ nông dân, gắn quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích vật chất để khuyến
khích nông dân trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc; nông dân được quyền
thừa kế tài sản trên đất trồng rừng và cây công nghiệp dài ngày đối với vùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
núi cao không nhất thiết tổ chức HTX mà phát triển kinh tế hộ gia đình và
thiết lập quan hệ Nhà nước - nông dân theo đơn vị bản, buôn; trong HTX thực
hiện cơ chế khoán gọn cho hộ xã viên.
Riêng đối với nông nghiệp miền Nam, Ban Bí thư có Chỉ thị số 19-
CT/TU ngày 03/05/1983 "về hoàn thành điều chỉnh ruộng đất, đẩy mạnh cải tạo
XHCN đối với nông nghiệp" và Thông báo số 44-TB/TW ngày 13/07/1984 của
Ban Bí thư "về ý kiến tiếp tục cải tạo XHCN đối với nông nghiệp miền Nam",
đã chỉ ra: " hỗ trợ những nông dân nghèo mới được chia cấp ruộng đất để có
điều kiện sử dụng ruộng đất có hiệu quả, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống
ở những nơi đã điều chỉnh, song còn chênh lệch ít nhiều về ruộng đất trong nội
bộ nông dân, thì kết hợp với xây dựng tập đoàn và thực hiện khoán sản phẩm để
giải quyết tiếp " Chỉ thị nêu rõ: "các tập đoàn sản xuất và HTX nông nghiệp đã
thu hút 45,6% nông hộ, 38% diện tích đất đai; có nơi như Tiền Giang đã có đến
trên 80% nông hộ tham gia lối làm ăn tập thể ".
Như vậy, trong vòng 5 năm thi hành Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và các
Chỉ thị, Nghị quyết khác của Trung ương về cải tạo và quản lý nông nghiệp, có
liên quan về chính sách ruộng đất, mặc dù vần còn gặp rất nhiều khó khăn về
vốn đầu tư, về vật tư cung ứng cho nông nghiệp nhưng sản lượng lương thực
tăng 27%, năng suất lúa tăng 23,8%, diện tích cây công nghiệp tăng 62,1%, đàn
trâu, bò tăng 33,2%, đàn lợn tăng 22,1%. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình
quân hàng năm cao hơn hẳn các thời kỳ trước. Tổng sản lượng nông nghiệp
chủ (khoán hộ), thực hiện chính sách một giá, thương mại hoá vật tư, nông
dân chỉ có một nghĩa vụ nộp thuế. Với chính sách đúng đắn này, nghị quyết
10 đã làm cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn có những chuyển biến tích
cực, làm nền móng cho chính sách đổi mới trong nông nghiệp và nền kinh tế
quốc dân [16].
Giai đoạn 1986-1993
Chủ trương của Nhà nước trong giai đoạn này là phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, ngoài thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, Nhà nước có
chủ trương giao đất cho hộ gia đình và cá nhân, điều này đã khuyến khích rất
nhiều người nhận diện tích đất trống, đồi núi trọc để đầu tư vốn trồng rừng.
Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh bằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
nhiều hình thức thích hợp tuỳ điều kiện cụ thể theo từng vùng như vườn rừng,
trại rừng, vườn cây công nghiệp, cây ăn quả, lương thực, thực phẩm, dược
liệu kết hợp với cây rừng (nông, lâm kết hợp) [16].
Song song với việc thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/04/1988
của Bộ Chính trị, ngày 19/08/1991 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được
Nhà nước công bố, Điều 1 của Luật đã xác định: “Nhà nước giao rừng, đất
trồng rừng cho tổ chức và cá nhân để phát triển và sử dụng ổn định, lâu dài
theo quy hoạch và kế hoạch của Nhà nước”; Tổ chức và cá nhân đang sử dụng
hợp pháp đất trồng rừng được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật, điều 3:
“Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu
tư lao động, tiền vốn, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ vào các
việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến”.
Ngày 15/09/1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định
327/QĐ-CT (gọi tắt là chương trình 327): “Về việc ban hành một số chủ trương,
chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, bãi bồi, ven biển và mặt nước
các quyền "Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, góp vốn" tạo cơ
sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về sử
dụng và kinh doanh trên đất được giao.
- Đã khẳng định đất có giá và Nhà nước xác định giá đất để tính thuế
chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao
đất, bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất.
Ngoài ra, Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001
còn đề cập nhiều vấn đề đổi mới khác như: quy định mức hạn điền, thời hạn
sử dụng đất, đất dành cho nhu cầu công ích. Đây là những quy định cụ thể
hoá bằng các Nghị định 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993, Nghị định
85/1999/NĐ-CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ ban hành quy định về giao
đất nông nghiệp và Nghị định số 02/1994/NĐ-CP ngày 15/01/1994, Nghị
định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục
đích lâm nghiệp [5],[6],[7],[8].
a. Những quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
Chủ trương giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp được quy định tại Điều 18 Hiến
pháp 1992, Điều 1, Điều 12 Luật Đất đai năm 1993, Nghị định 64/CP ngày
27/09/1993, Nghị định 85/CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ ban hành quy
định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài
vào mục đích nông nghiệp, được thể hiện bằng các quy định về đối tượng được
giao, quỹ đất được giao, nguyên tắc giao, thời hạn và hạn mức giao [5].
* Đối tượng được giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài:
- Các nhân khẩu thường trú tại địa phương kể cả những người đang làm
nghĩa vụ quân sự.
GCNQSDĐ ổn định lâu dài.
- UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét và cấp GCNQSDĐ trên
cơ sở đề nghị của UBND xã, phường, thị trấn [19].
* Thời hạn giao đất nông nghiệp:
- Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản thì thời hạn
giao là 20 năm.
- Đất nông nghiệp trồng cây lâu năm thì thời hạn giao là 50 năm.
* Thời điểm giao đất:
- Hộ gia đình và cá nhân được giao đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993
trở về trước thì được tính thống nhất tính từ ngày 15/10/1993.
- Đối với hộ gia đình, cá nhân được giao đất sau ngày 15/10/1993 thì
được tính từ ngày giao đất [5].
* Hạn mức giao đất nông nghiệp:
- Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm:
+ Các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long thì hạn mức
giao đất không quá 3 ha.
+ Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không quá 2 ha.
- Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm:
+ Các xã đồng bằng giao không quá 10 ha.
+ Các xã trung du, miền núi giao không quá 30 ha
- Đối với đất trống, đồi núi trọc, khai hoang, lấn biển thì hạn mức của
hộ gia đình cá nhân thì căn cứ vào quỹ đất của địa phương và khả năng sản
xuất của họ mà UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
Qua việc thực hiện giao đất nông nghiệp theo NĐ 64/CP và NĐ 85/CP
đã làm cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư vốn và sức lao động vào sản
xuất để đáp ứng nhu cầu của họ phù hợp với cơ chế thị trường và các điều