Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của nông hộ sau khi được giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp trên địa bàn huyện hàm yên – tỉnh tuyên quang - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------

PHẠM ANH TOÀN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NÔNG HỘ
SAU KHI GIAO ĐẤT NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số
: 60.85.01.03

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC NÔNG

THÁI NGUYÊN - 2012


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 11 năm 2012


MỤC LỤC
Trang phụ bìa ...................................................................................................i
Lời cam đoan ...................................................................................................ii
Lời cảm ơn ......................................................................................................iii
Mục lục ............................................................................................................iv
Danh mục viết tắt .............................................................................................v
Danh mục bảng ................................................................................................vi
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1.

Tính cấp thiết của đề tài ..............................................................................1

2.
2.1
2.2

Mục đích và yêu cầu của đề tài ...................................................................2
Mục đích của đề tài ........................................................................................2
Yêu cầu của đề tài ..........................................................................................2

CHƯƠNG I ................................................................................................................3
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .......................................................3
1.1 Cơ sở pháp lý của công tác giao đất ...........................................................3
1.2
1.2.1
1.2.2
1.2.3
1.2.4
1.2.5

Kết quả được giao đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình ....................31
Kết quả được giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình......................................31
Tình hình sử dụng đất sau khi được giao đất ...............................................32

CHƯƠNG II ............................................................................................................34
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............................................34
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................34
2.2 Nội dung nghiên cứu ..................................................................................34
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên – kinh tế xã hội của huyện Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang cụ thể trên địa bàn 3 xã đại diện 3 tiểu vùng sinh thái. ......................34


v

2.2.2 Đánh giá tình hình giao đất nông, lâm nghiệp cho các hộ gia đình tại 3 xã
đại diện cho 3 vùng sinh thái, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. ........................34
2.2.3 Điều tra tình hình đầu tư và kết quả sản xuất kinh doanh của các hộ nông
dân trước và sau khi giao đất nông, lâm nghiệp. ......................................................34
2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông, lâm nghiệp sau khi thực hiện chính
sách giao đất ổn định lâu dài cho các hộ nông dân. ..................................................34
2.2.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông, lâm nghiệp sau
khi được giao đất .......................................................................................................34
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.3.5
2.3.6
2.3.7

CHƯƠNG III ...........................................................................................................40
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .....................................................40
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội...........................................................40
3.1.1 Điều kiện tự nhiên cảnh quan môi trường ....................................................40
3.1.2 Các nguồn tài nguyên ..................................................................................41
3.1.2.1 Thảm thực vật và động vật ............................................................................41
3.1.2.2 Tài nguyên khoáng sản................................................................................42
3.1.2.3 Tài nguyên đất đai ........................................................................................43
3.1.2.4 Tài nguyên nhân văn ....................................................................................44
3.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ...........................................................45
3.1.3.1 Thực trạng phát triển kinh tế .......................................................................45
3.1.3.2 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn ..........................51
3.1.4 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Hàm Yên - Tỉnh Tuyên Quang .............52
3.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Hàm Yên ......53
3.2
3.2.1
3.2.1.1
3.2.1.2
3.2.1.3
3.2.2

Tình hình sử dụng đất của 3 xã.................................................................55
Tình hình khái quát 3 xã điều tra .................................................................55
Xã Yên Phú ..................................................................................................55
Xã Minh Khương ..........................................................................................55
Xã Đức Ninh .................................................................................................56
Tình hình quản lý và sử dụng đất ở 3 xã trước khi được giao đất ...............57


vi

3.4
3.4.1
3.4.2
3.4.3
3.4.4

Ý kiến của người dân về chính sách giao đất và các quyền sử dụng đất ....86
Tư tưởng của người dân khi được giao đất ..................................................86
Về hạn mức giao đất và thủ tục giao đất ......................................................86
Các quyền lợi của người sử dụng đất sau khi nhận đất ................................87
Tình hình hỗ trợ sản xuất cho nông hộ sau khi nhận đất .............................88

3.5 Những vấn đề tồn tại sau khi giao đất, giao rừng và giải pháp trong quá
trình thực hiện chính sách giao đất, giao rừng ................................................90
3.5.1 Những vấn đề tồn tại sau khi giao đất giao rừng .........................................90
3.5.1.1 Về phía cơ quan quản lý Nhà nước ..............................................................91
3.5.1.2 Về phía hộ gia đình nhận đất .......................................................................92
3.5.2 Những giải pháp trong quá trình thực hiện công tác giao đất, giao rừng ....92
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .....................................................................................94
1.

Kết luận .......................................................................................................94

2.

Đề nghị .........................................................................................................94


v



Giá trị sản xuất

HĐBT

Hội đồng Bộ trưởng

KHKT

Khoa học kỹ thuật

HTX

Hợp tác xã

KT - XH

Kinh tế - xã hội

LN

Lâm nghiệp

NQ

Nghị quyết



Nghị định


Uỷ ban nhân dân

V.A.C.

Vườn, ao, chuồng, rừng

XDCB

Xây dựng cơ bản


vi

DANH MỤC BẢNG
STT
2.1
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
3.10
3.11
3.12
3.13

Tình hình sử dụng đất của 3 xã năm 2011
Cơ cấu sử dụng đất năm 2011 của 3 xã điều tra
So sánh cơ cấu sử dụng đất của 3 xã trước và sau khi giao đất
Diện tích đất các hộ gia đình sử dụng năm 2011 của 3 xã
So sánh diện tích đất nông lâm nghiệp giao cho hộ gia đình
(Trước và sau khi giao đất giao rừng 2000 – 2011)

47
52
56
58
60
60
62
64
65
66

Tình hình đầu tư tư liệu sản xuất của các hộ gia đình ở 3 xã
điều tra (trước và sau khi giao đất giao rừng)

46

67
69

Tình hình vay vốn của các hộ gia đình ở 3 xã điều tra điều tra
Hướng ưu tiên đầu tư của hộ gia đình ở 3 xã điều tra
Cơ cấu diện tích một số cây trồng của các hộ gia đình sau khi
giao đất giao rừng ở 3 xã điều tra

1.

Tính cấp thiết của đề tài
Đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi

trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh và quốc phòng. Ở Việt Nam có khoảng 80% dân số cả nước sống
chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, nhất là đồng bào dân tộc, những người
sống ở miền núi trung du. Do tính đặc thù của đất đai có tính cố định về vị trí,
không tăng về số lượng, vì vậy việc bảo vệ, quản lý và sử dụng đất bền vững
nói chung và đất nông nghiệp nói riêng là vấn đề quan trọng. Xác định được
tầm quan trọng của đất đai, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách
đúng đắn, phù hợp trong công tác quản lý và khai thác sử dụng tài nguyên đất.
Giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông, lâm nghiệp theo quy hoạch
và kế hoạch là một chủ chương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước từ nhiều
năm nay, nhằm gắn lao động với đất đai tạo động lực phát triển sản xuất nông,
lâm nghiệp, từng bước ổn định và phát triển tình hình kinh tế - xã hội, tăng
cường quốc phòng - an ninh.
Thực tiễn những năm qua cho thấy chính sách giao đất nông, lâm
nghiệp đã đi vào cuộc sống và đáp ứng được nguyện vọng đông đảo nhân dân
các dân tộc, tạo việc làm và thu nhập để cải thiện cuộc sống của nhân dân.
Chính nhờ đó mà hiện nay diện tích rừng nước ta đã tăng lên nhanh chóng sau
một thời gian dài rừng bị tàn phá nghiêm trọng, giảm sút cả về diện tích và
chất lượng. Trong điều kiện Việt Nam, việc áp dụng các chính sách giao đất
nông, lâm nghiệp ở từng địa phương có nhiều điểm khác biệt về cách thức
tiến hành, về nhận thức và mức độ chấp nhận của người dân.
Bên cạnh những ưu điểm và kết quả đạt được vẫn còn bộc lộ những bất
cập đòi hỏi chính sách giao đất lâm nghiệp cần được sửa đổi bổ sung và hoàn
thiện, hiệu quả sử dụng đất sau khi giao đất chưa đạt như mong muốn. Xuất

phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004
của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất .


4

- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ
quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất.
- Thông tư số 06/2007/TT-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày
25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ.
1.2

Chính sách đất đai của một số nước trên thế giới

1.2.1 Chính sách đất đai của Trung Quốc
Trong những năm qua, việc khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên
rừng ở Trung Quốc được điều chỉnh bởi hàng loạt các văn bản chính sách
pháp luật của Chính phủ đã giúp cho lâm nghiệp nhân dân phát triển.
Đất canh tác được Nhà nước bảo hộ đặc biệt, khống chế nghiêm ngặt
việc chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang đất khác. Mỗi hộ nông dân chỉ
được dùng một nơi làm đất ở với diện tích giới hạn trong định mức quy định tại
địa phương. Đất thuộc sở hữu tập thể thì không được chuyển nhượng, cho thuê
vào mục đích phi nông nghiệp. Đối với đất lâm nghiệp trước những năm 1970,
Chính phủ Trung Quốc đã chỉ đạo nông dân trồng cây bằng biện pháp hành
chính, nên hiệu quả trồng rừng thấp, giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích của

Từ đó, các trại rừng kinh doanh hình thành bước đầu đã có hiệu quả. Lúc đó
ngành lâm nghiệp được coi như công nghiệp có chu kỳ dài nên được Nhà
nước đầu tư hỗ trợ các mặt như:
- Vốn, khoa học kỹ thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ dự án
chống cát bay.
- Mỗi năm Chính phủ trích 10% kinh phí để đầu tư cho quá trình khai
khẩn đất phát triển nông, lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo [11].
- Quy định trích 20% tiền bán sản phẩm lại để làm vốn phát triển nông,
lâm nghiệp.
1.2.2 Chính sách đất đai của Nhật Bản
Tháng 12 năm 1945, Nhật Bản đã ban hành Luật cải cách ruộng đất lần
thứ nhất với mục đích là xác định quyền sở hữu ruộng đất cho người dân và
buộc địa chủ chuyển nhượng ruộng đất nếu có trên 5 ha.


6

Quá trình cải cách ruộng đất lần thứ nhất tại Nhật Bản ban đầu đã mang
lại kết quả đáng kể, song lúc đó vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với đất
đai chưa được chặt chẽ. Do vậy, Nhật Bản tiến hành cải cách ruộng đất lần
thứ hai với nội dung:
- Nhằm xác lập vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với việc thực hiện
chuyển nhượng quyền sở hữu ruộng đất là thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
- Xác lập quyền sử hữu ruộng đất của nông dân nhằm giảm địa tô.
- Nhà nước đứng ra mua và bán đất phát canh của địa chủ nếu vượt quá 1
ha. Ngay cả với tầng lớp phú nông, có diện tích quá 3 ha nếu sử dụng không
hợp lý Nhà nước cũng trưng thu một phần.
Như vậy, qua hai lần cải cách ruộng đất bằng những chính sách cụ thể đã
làm thay đổi quan hệ sở hữu cũng như kết cấu sở hữu ruộng đất ở Nhật Bản đó
là: Nhà nước đã khẳng định được vai trò kiểm soát đối với việc quản lý và sử

bán cho người khác.
- Từ năm 1993, các bất động sản dùng cho nông nghiệp được hưởng
quy chế miễn giảm. Miễn giảm đương nhiên trong thời gian 3 năm cho một số
đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng. Miễn giảm
thuế đối với đất đai mới giành cho ươm trồng cây hạnh nhân với thời gian tối
đa là 8 năm và cho đất trồng các loại cây khác là 15 năm.
- Khuyến khích việc tích tụ đất đai bằng cách xác định các chủ đất có
nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau thì làm việc với chủ đất trong vòng 2 - 3
năm để thu thập số liệu, đàm phán với các chủ đất để tiến hành chuyển đổi
ruộng đất, tạo điều kiện tập trung các thửa đất nhỏ thành các thửa đất lớn,
thực hiện tích tụ đất đai.
- Việc bán đất nông nghiệp hay đất đô thị đều phải nộp thuế đất và thuế
trước bạ là 10%. Đất này được ưu tiên bán cho những người láng giềng để tạo
ra các thửa đất có diện tích lớn hơn.
- Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người
mua. Muốn bán đất phải xin phép và khi được phép thì phải ưu tiên bán cho
người đang thuê đất. Khi họ không mua thì mới bán cho người khác.
- Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát các hoạt
động mua - bán - chuyển nhượng đất đai theo hướng hạn chế việc mua bán đất.


8

Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và trực tiếp tham gia mua
đất. Chẳng hạn, nếu người A muốn bán đất cho người B thì cơ quan này can
thiệp bằng giải pháp kinh tế. Nếu người B không đủ điều kiện mua thì cơ quan
này mua để tăng quỹ đất thuộc sở hữu Nhà nước.
- Mức chi phí chuyển đổi đất đai là khoảng 152,5 Euro/ha (kể cả việc lập
bản đồ, đàm phán). Văn tự chuyển đổi chủ sở hữu đất đai do Toà án Hành
chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi.

hồi đất, đăng ký quyền sở hữu, hệ thống đăng ký.
Thụy Điển từ nhiều thập kỷ qua đã thành lập một hệ thống thanh tra
Nhà nước về việc chuyển đổi đất nông nghiệp và đất rừng. Những người mua
những loại đất này cần phải được phép của cơ quan có thẩm quyền. Nếu như
không được sự đồng ý, hợp đồng đó coi là không có hiệu lực. Những qui định
trên vào năm 1990 được thay đổi một phần cùng với những thay đổi về chính
sách nông nghiệp của Thụy Điển. Nhưng quan trọng hơn là những qui định đó
vẫn được tiếp tục áp dụng đến tận bây giờ, ví dụ như việc hạn chế quyền của
những tổ chức pháp nhân trong việc phân bố đất rừng [9].
1.2.5 Chính sách đất đai của Ô-xtrây-lia
Ô-xtrây-lia có lịch sử hình thành từ thuộc địa của Anh, nhờ vậy Ôxtrây-lia có được cơ sở và hệ thống pháp luật quản lý xã hội nói chung và
quản lý, sở hữu và sử dụng đất đai nói riêng từ rất sớm. Trong suốt quá trình
lịch sử từ lúc là thuộc địa đến khi trở thành quốc gia độc lập, pháp luật và
chính sách đất đai của Ô-xtrây-lia mang tính kế thừa và phát triển một cách
liên tục, không có sự thay đổi và gián đoạn do sự thay đổi về chính trị. Đây là
điều kiện thuận lợi làm cho pháp luật và chính sách đất đai phát triển nhất
quán và ngày càng hoàn thiện được xếp vào loại hàng đầu của thế giới. Vì
luật đất đai của Ô-xtrây-lia đã tập hợp và vận dụng được hàng chục luật khác
nhau của đất nước.
Luật đất đai của Ô-xtrây-lia quy định đất đai của quốc gia thuộc hai
loại sở hữu: đất thuộc sở hữu Nhà nước và đất thuộc sở hữu tư nhân (gọi tắt là
đất của Nhà nước và đất của tư nhân). Đất của Nhà nước do Nhà nước làm
chủ và định đoạt, dự trữ hoặc cho thuê. Đất tư nhân do Nhà nước chuyển
nhượng lại và do tư nhân làm chủ. Đất đai phải được chủ sở hữu đăng ký và


10

phải thực hiện các nghĩa vụ về thuế và lệ phí.
Luật đất đai của Ô-xtrây-lia công nhận Nhà nước và tư nhân có quyền


cộng hoà liên bang Đức liên quan đến phần đất đai ở phía Đông đã được
thống nhất là không phải hoàn toàn loại bỏ tính xã hội và phát triển sự trao
đổi quyền sở hữu tư nhân về đất đai, việc hình thành quá trình sản xuất nông
nghiệp có hiệu quả lao động cao, phù hợp với những yêu cầu về kinh tế và
khả năng cạnh tranh với thị trường Tây Âu. Ở đây bảo toàn hình thức kinh tế
tập thể, mà hình thức đó được thiết lập trên cơ sở cơ chế mới ở trong nước, có
tính đến mối quan hệ với thị trường. Ở phần đất phía Tây của nước Đức thống
nhất kinh tế nông thôn có diện tích đất trung bình là 18 ha, ở phía Đông là 90
ha, còn trong các cơ sở sản xuất nông nghiệp thì ở trong khoảng 1030 - 1710
ha. Các chuyên gia phương Tây cho rằng những hình thức kinh tế như thế có
thể so sánh một cách tương đối với hình thức sản xuất nhỏ của gia đình,
khẳng định mức tăng năng suất lao động trong khu vực kinh tế trồng trọt lớn
thuộc đất đai phía Đông vào những năm gần đây.
Tại Đức tất cả những hợp đồng trưng mua, sung công, trưng dụng đất
nông nghiệp và cũng như đất rừng phải được thông qua quyết định cho phép
của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền, hơn nữa ở đây còn có thể có vấn đề
khiếu nại (nếu như nó mang lại sự suy giảm, không có lợi cho nền kinh tế
hoặc cho việc phân chia đất đai, nếu như giá đất đưa ra không phù hợp với giá
trị thực tế của mảnh đất đó). Luật pháp cũng khẳng định quyền ưu tiên khi
mua đất đối với những người dân sống tại khu vực đang tiến hành phân bố lại
đất và những người chủ yếu sống bằng nghề nông [9].
1.2.7 Chính sách đất đai ở Thái Lan
Tại Thái Lan bước sang chế độ quân chủ, Luật ruộng đất được ban
hành năm 1954 đã thúc đẩy mạnh mẽ chính sách kinh tế xã hội của đất nước.
Luật ruộng đất đã công nhận toàn bộ đất đai bao gồm đất khu dân cư đều có
thể được mua, tậu lại từ cá thể. Các chủ đất có quyền tự do chuyển nhượng,
cầm cố một cách hợp pháp, từ đó Chính phủ có được toàn bộ đất trồng (có
khả năng trồng trọt) và nhân dân đã trở thành người làm công trên đất ấy. Tuy
nhiên, trong giai đoạn này Luật ruộng đất quy định chế độ lĩnh canh ngắn, chế

hộ gia đình trong làng được cấp từ 2- 4 ha đất và được hưởng quyền sử dụng,
thừa kế, nhưng không được bán, mua hay chuyển nhượng diện tích đất đó.
Quá trình sản xuất của làng được sự hỗ trợ của Nhà nước về điều kiện cơ sở


13

hạ tầng, tiếp thị và đào tạo nghề. Đi cùng với chương trình này là việc thành lập
các hợp tác xã nông, lâm nghiệp hoạt động dưới sự bảo trợ của ban chỉ đạo
HTX (Hợp tác xã). Cục Lâm nghiệp Hoàng gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn
cho các HTX yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh giá hiệu quả đầu tư
trên đất được giao đó. Đất gắn liền với rừng cho cộng đồng dân cư sống gần
rừng, diện tích mỗi hộ gia đình được nhận trồng rừng từ 0,8 ha đến 8 ha.
Hiện nay Thái Lan đang tiến hành thí điểm giao rừng được trên
200.000 ha. Nhà nước hỗ trợ cho mỗi hộ trồng rừng tối thiểu là 5 rai (1 rai ≈
1600 m2). Thái lan dự kiến áp dụng chính sách nông, lâm nghiệp toàn diện,
chú trọng tới các vấn đề xã hội, môi trường và người nghèo, lấy cộng đồng
làm đơn vị cơ sở [25].
Bước sang thời kỳ những năm 90, Chính phủ Thái Lan tiếp tục chính sách
ruộng đất theo dự án mới. Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân
nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hoá và
giải quyết việc làm. Dự án này có sự thoả thuận giữa Chính phủ, chủ đất và nông
dân nhằm chia sẻ quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng ruộng đất.
Theo dự án này Chính Phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư
trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo [10].
1.2.8 Nhận xét và đánh giá chung
Lịch sử phát triển xã hội loài người gắn liền với lịch sử phát triển các
quan hệ đất đai và phân chia lãnh thổ. Các nước trong khu vực và trên thế giới
có chế độ chính trị, cơ chế kinh tế và tổ chức xã hội khác nhau, nhưng với quá
trình phát triển lâu đời đã có lịch sử lâu dài phát triển các hoạt động quản lý đất

đến năm 1900, diện tích đồn điền đã lên tới 322.000 ha, trong đó 78.000 ha ở
Nam kỳ và 198.000 ha ở Bắc kỳ [26].
Vào năm 1952-1953, giai cấp nông dân lao động bao gồm trung nông, bần
nông, cố nông chiếm 92,5% dân số và 70,7% tổng diện tích đất canh tác, bước đầu
đã có sự thay đổi về cơ cấu sở hữu và sử dụng. Tuy nhiên, chính sách ruộng đất
vẫn chưa được giải quyết cơ bản theo yêu cầu "người cày có ruộng"; số hộ nông
dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng còn nhiều. Bất công trong quan hệ ruộng đất
còn tồn tại trên diện rộng. Vào lúc đó trên các mặt trận chiến trường đang cần
động viên sức người, sức của gấp bội để dốc toàn lực lượng vào cuộc quyết chiến
chiến lược. Trong bối cảnh đó, hội nghị TW 5 khóa II họp tháng 11/1953 đã thông
qua Cương lĩnh ruộng đất và quyết định tiến hành cải cách ruộng đất; ngay sau đó
tháng 12/1953 Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất [20].


15

Do hoàn cảnh còn kháng chiến nên cuộc cải cách ruộng đất chưa thể
triển khai rộng khắp; cho đến trước khi hòa bình lập lại (tháng 7/1954) mới
tiến hành được 5 đợt giảm tô và bắt đầu đợt 1 cải cách ruộng đất trong các
vùng tự do ở 53 xã thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Thanh Hóa...
Thời gian này có hàng ngàn héc ta ruộng đất và một số tư liệu sản xuất khác
của giai cấp địa chủ bị tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua và sau đó đem chia
trực tiếp cho nông dân. Thành quả bước đầu đã tác động tích cực đến tinh
thần chiến đấu của các chiến sĩ ngoài mặt trận và đời sống nông dân ở những
nơi tiến hành cải cách ruộng đất được cải thiện một bước.
Như vậy, ruộng đất chia cấp cho nông dân trong thời kỳ cách mạng dân
tộc dân chủ ở miền Bắc (1945-1954) là 810.000 ha, trong đó ruộng đất của
thực dân Pháp là 30.000 ha, của địa chủ là 380.000 ha, ruộng đất công và nửa
công là 375.700 ha. Về cơ bản trên toàn miền Bắc sau cải cách ruộng đất, chế
độ sở hữu ruộng đất của thực dân và phong kiến đã chuyển thành chế độ sở

tế từ tập thể ngày càng giảm, trong khi đó thu nhập của xã viên từ đất 5% để lại
làm kinh tế phụ gia đình trở thành bộ phận thu nhập quan trọng, có nơi chiếm
tới trên dưới 50% tổng thu nhập của hộ gia đình. Từ cuối năm 1973 đến đầu
năm 1975 có đến 1.098 HTX tan rã, nhiều HTX đành phải chấp nhận những
biện pháp nhằm nới lỏng cho xã viên mượn đất, gia công chăn nuôi cho hộ gia
đình, hoặc khoán trắng cho đội sản xuất quản lý, ăn chia theo đội sản xuất.
Đến năm 1975, HTX nông nghiệp ở miền Bắc bộc lộ ngày càng nhiều
mặt hạn chế, yếu kém mặc dù cơ sở vật chất tăng lên rõ rệt, mức đầu tư cũng
tăng lên nhiều, nhưng diện tích gieo trồng bị giảm sút, chi phí sản xuất tăng
vọt, sản lượng lương thực dậm chân tại chỗ, bình quân đầu người về lương
thực giảm sút, thu nhập của xã viên thấp, tệ nạn tham ô, lãng phí, thất thoát
của tập thể, tiêu hao tiền vốn, vật tư tăng lên đến mức nghiêm trọng [20].
1.3.2 Chính sách giao đất thời kỳ trước 1976 – 1986.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, Đảng đặc biệt chú
trọng xây dựng sự thống nhất về cơ cấu kinh tế - xã hội. Năm 1976, để xóa bỏ
những tàn tích làm cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng, đồng thời
để tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc cải tạo XHCN và xây dựng CNXH ở
nông thôn miền Nam, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 188/CP ngày


17

25/09/1976 về chính sách xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các
hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam; những vấn đề cần được ưu
tiên tập trung giải quyết là quốc hữu hóa toàn bộ đất đai và chia cấp đất ruộng
cho nông dân lao động.
- Quyết định số 272/CP ngày 03/10/1977 của Hội đồng Chính phủ “Về
chính sách đối với HTX mở rộng diện tích phát triển nông, lâm nghiệp, xây
dựng vùng kinh tế mới, thực hiện định canh, định cư”.
- Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/1/1981 của Ban Chấp hành Trung ương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status