PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chưa có một trào lưu triết học nào gần gũi với cuộc sống như triết học
hiện sinh. Nú đó hình thành nên những xu hướng mới trong đời sống và để
lại những dấu ấn đậm nét trong văn học.
Chủ nghĩa hiện sinh, sau khi gây một phong trào mãnh liệt và sâu rộng
trong văn học nghệ thuật, sau gần 20 năm hoạt động ở bề nổi, nay dần đi
vào thế chỡm. Nú đó lắng lại trong tiềm thức của mỗi người. Ở Việt Nam,
triết học hiện sinh không còn là một thứ mốt cho người ta chạy theo. Nhưng
nó vẫn mang một sức hút khó cưỡng đối với nhiều nhà văn. Những tư tưởng
về nhân vị, tự do, về cuộc sống bất an và âu lo của chủ nghĩa hiện sinh, vẫn
tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn những nhà văn khi họ đối diện với
những đổi thay lớn lao của đất nước và thời đại.
Nhà văn nhìn cuộc sống không như những triết gia nhưng trong tác phẩm
của họ mang màu sắc triết học đó là vấn đề cảm quan. Cảm quan có sự hòa
hợp cảm quan cá nhân và cảm quan thời đại. Hiểu về cảm quan sẽ giúp
người đọc hình dung được những nền tảng sâu xa chi phối đến quá trình
sáng tác và những tư tưởng về thế giới, con người tác giả muốn gửi gắm.
Trên thế giới, có những tên tuổi bất hủ, gắn liền với chủ nghĩa phi duy lí
đặc biệt là chủ nghĩa hiện sinh: Franz Kafka, Albert Camus, Jean Paul
Sartre, Marcel Proust… Trong tầm nhìn của văn học so sánh, chúng ta có
thể thấy được sự tác động mạnh mẽ của trào lưu văn học này đến Việt Nam,
mặt khác, trong tương quan đồng điệu nào đó về văn hoá, thời đại cảm quan
hiện sinh đã nảy sinh và mang những nột riờng do hoàn cảnh xã hội đất
nước quy định. Nó đem đến cho văn học, những điều vừa quen vừa lạ.
Mỗi nhà văn trong bối cảnh văn hoá mới, với những hoang mang và cảm
thức thời đại đã trở thành những cây bút sung sức và khát khao thể hiện
mình. Tiểu thuyết trở thành đất dụng võ cho các cây bút thể nghiệm những
1
đổi mới của mình, từ nội dung đến hình thức. Bởi “Tiểu thuyết nhịp bước
cùng con người thường xuyên và trung thành từ buổi đầu thời hiện đại.
một cách tiếp cận cho những tiểu thuyết “khú đọc” hiện nay. Những tiểu
thuyết dang dở, mang những ám ảnh bi đát về thân phận con người.
2. Lịch sử vấn đề.
2.1 Lịch sử nghiên cứu cảm quan hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh là lí thuyết triết học và mĩ học được du nhập và
có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam
Việt Nam những năm 1954 – 1975. Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện khi chủ
nghĩa duy linh nhân vị sụp đổ. Nó nhanh chóng trở thành một phần trong
đời sống qua sự phổ biến của báo chí. “Những tờ tạp chí lúc đó như Đại học,
Sáng tạo, Văn, Bách khoa…đều có những bài viết hay số báo đặc biệt về trào
lưu triết học và văn học này cùng những tác gia của nó như Jean-Paul Sartre,
Albert Camus… Hỗ trợ có hiệu quả cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đó là nỗ
lực dịch thuật ngày càng sâu rộng những đứa con tinh thần của các tác gia
hiện sinh. Về lý thuyết là các công trình của F. Nietzsche, K. Jaspers, M.
Heidegger, J P. Sartre… Về sáng tác là tiểu thuyết, kịch bản văn học của A.
Camus, J P. Sartre, S. de Beauvoir, F. Sagan…”
Ngay từ 1942, Công trình của Nguyễn Đình Thi “triết học Nietzche”
đã đưa lại những hiểu biết ban đầu đúng đắn về Nietzche và gợi mở về chủ
nghĩa hiện sinh: “dùng trực giác chống lớ trớ, dựng bi quan chống lại lạc
quan, dùng phi đạo đức chống luõn lớ” [27 – 202]
Từ tháng 10-1961 đến tháng 9-1962, trên tạp chí Bách Khoa, dưới bút
hiệu Trần Hương Tử, Trần Thái Đỉnh đã viết một loạt bài giới thiệu chủ nghĩa
hiện sinh, về sau được tập hợp thành chuyên khảo Triết học hiện sinh (NXB
Thời mới, Sài Gòn, 1967, tái bản 1968). Tác giả đã trình bày tổng quan về
triết học hiện sinh với những đề tài chính và hai ngành: hiện sinh hữu thần và
hiện sinh vô thần. Tác giả đi sâu phân tích những quan niệm của các triết gia
3
tiêu biểu với Kierkegaard, Nietzsche, Husserl, Jaspers, Marcel, Sartre và
Heidegger
Tác giả Lê Tôn Nghiêm cũng có nhiều công trình chuyờn sõu về triết
Khi nghiên cứu về vấn đề hậu hiện đại, sự đổi mới của tiểu thuyết vấn
đề con người hoài nghi, vô minh, những cảm nghiệm chua chát ê chề về
thân phận được nhắc tới. Thực chất, nó rất gần gũi với cảm quan hiện sinh.
Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng là hai cây bút trẻ, thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, những người yêu văn
học. Có thể coi, cảm quan hiện sinh là một đóng góp độc đáo của hai tác giả
này.
2.2. Những nghiên cứu gợi mở về cảm quan hiện sinh trong tiểu
thuyết Nguyễn Việt Hà
Ngay khi xuất hiện với cuốn tiểu thuyết đầu tiên, Nguyễn Việt Hà đã
được coi là một hiện tượng văn học. Chỉ cần seach trên google cũng có thể
hiển thị đến hơn 13 triệu kết quả liên quan đến Nguyễn Việt Hà và những
tiểu thuyết của anh. Điều đó chứng tỏ sự quan tâm của công chúng đối với
nhà văn trẻ này. Trong đó có rất nhiều những ý kiến trái chiều.
Nhiều tác giả đã đánh giá cao, những nỗ lực cách tân tiểu thuyết của
Nguyễn Việt Hà. Từ ngôn ngữ, cấu trúc, điểm nhìn trần thuật, đến những
cảm quan mới trong tác phẩm.
Tác giả Đoàn Cầm Thi cho rằng “ Cơ hội của Chúa cuốn hút tôi
trên hết bởi nghệ thuật của nó. Tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà là một lò
thử nghiệm văn phong khổng lồ trong đó ta gặp lối kể chuyện ở ngôi thứ ba,
thể loại tự sự ở ngôi thứ nhất, văn nhái, truyện lồng truyện, tiểu luận.” [69]
Khải huyền muộn khi ra đời cũng cũng được không ít nhà văn tán
thưởng. Nhà văn Trung Trung Đỉnh: “Với tiểu thuyết Khải huyền muộn, nhà
5
văn Nguyễn Việt Hà đã tự mình bứt mình ra khỏi lối mòn của cấu trúc tiểu
thuyết và cách kể chuyện truyền thống”. Hoạ sĩ Lê Thiết Cương: “Trong
Khải huyền muộn có những đoạn luận văn học, những đoạn không bịa như
nhật ký. Cảm giác như đang xem phim truyện lại có một trường đoạn phim
tài liệu.” “Khụng cú kiếm tiền xong rồi, yêu xong rồi, sống xong rồi. Không
có kết. Khải huyền muộn là một kiểu siêu văn bản của nhiều văn bản dở
Nguyễn Hòa cho rằng tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà là một người đọc nhiều,
ưa triết lý, sính ngoại ngữ và khoái trích dẫn kim – cổ, đông – tây. Và
“Người làm sao của chiêm bao làm vậy”. [43] Đối với Cơ hội của Chúa, có
tác giả nhận xét đó chỉ là “món nộm” (Lê Hoàng) và “cái giọng trí thức bụi
bình dân cao cấp nhiều lắm cũng chỉ tạo nổi thứ văn chương hạng nhì”
(Hoàng Hưng)
Trong văn chương, người đọc có quyền dân chủ với tác giả và với
những độc giả khác. Vì thế, những ý kiến trái chiều cũng là điều dễ hiểu.
Trong nhiều nghiên cứu, nhận xét, có những tác giả đã nói đến dấu ấn
của chủ nghĩa hiện sinh trong tác phẩm của Nguyễn Việt Hà. Tuy nhiên, đó
thường là những vấn đề được các nhà nghiên cứu vô tình lướt qua và đả
động đến. Họ chưa có sự nghiên cứu chủ tâm về nó.
Các tác giả đã nhìn ra cái “tạng” của Nguyễn Việt Hà trong tiểu
thuyết. Nguyễn Việt Hà viết về cuộc sống chưa hoàn kết, tiểu thuyết “là một
kiểu siêu văn bản của nhiều văn bản dở dang” (Lê Thiết Cương). Trong tác
phẩm của anh mang những cảm quan bi đát về con người, sự hoài nghi trước
những biến động làm tha hoá con người. “Trong con người có tính thiện.
Nhưng khi phải đối mặt với hiện thực nghiệt ngã của xã hội, không ít người
đánh mất mình. Nếu để ý, trong các nhân vật của tôi dự cú trượt ngã đến
thế nào, người ta sẽ thấy một chút gì đó của những day dứt, trăn trở.” [45]
Trong những lo âu, bất an về thế giới, con người và cuộc sống, anh “luôn
7
hướng tới hy vọng hoặc đi vào những nghịch cảnh của sự tha hoỏ” bởi: “Nó
là những mặt thật trái chiều của cuộc sống.” [45]
Nguyễn Văn Dân trong phần khảo luận cuốn “Văn học phi lớ”, đã nói
đến bóng dáng của Kafka và Camus trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài và
Nguyễn Việt Hà. Cách xây dựng nhân vật Hoàng (Cơ hội của chúa): “cú cái
gì đó phảng phất không khí của kẻ xa lạ của Camus. Nhìn chung nhân vật
Hoàng cú cỏi vẻ giống các nhân vật cô đơn, không hòa nhập với cộng đồng
của văn học phi lớ.” [4-110]
truyện trinh thám với một cốt truyện và bố cục tinh vi.” [55]
Đoàn Minh Phượng cũng thường nhắc đến những trăn trở, lo âu được
gửi gắm trong trang viết của mình. Trong bài: “Cỏch kể chuyện của tôi rất
xưa” Đoàn Minh Phượng đã nói: “Nhõn vật tôi - người phụ nữ trong truyện
từ nỗi hoang mang khi người chồng tử nạn trong một tai nạn xe cộ đã hết
sức đau khổ và cảm thấy cuộc sống trống vắng, vô vị. Người phụ nữ nghĩ
đến cái chết và chọn lựa cuộc hành trình đi tìm cái chết trên những chuyến
tàu bình thường nhưng tưởng như vô định. Tâm trạng nhân vật mơ hồ,
hoang mang và luôn tự vấn “mỡnh là ai”. [78]
Tác giả nói nhiều đến nỗi u buồn, ám ảnh từ cuộc sống đi vào trong
câu chuyện của mỗi nhân vật. “Cú lẽ đến gần 20 năm sau, tôi mới thấy rõ
ràng mình là một người lưu lạc. Sự lưu lạc đó bắt đầu vào năm nào? Ngày
trước tôi sống ở thành phố, tôi không hiểu chiến tranh, tụi tỡm mọi cách
không nhìn thấy nú, tỡm mọi cách đặt mình bên ngoài câu chuyện chung
của đất nước mình. Sự lưu lạc bên trong đã bắt đầu trước khi tôi rời Việt
Nam và theo tôi hết phần lớn cuộc đời.” [48]
Thực ra, cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và
Đoàn Minh Phượng đã được gợi mở trong hướng nghiên cứu về chủ nghĩa
hiện sinh, trong nhiều nghiên cứu về đổi mới tiểu thuyết, về cảm thức hậu
hiện đại…
9
Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến những bất an, lo âu cùng với những thể
nghiệm mới trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng. Tuy
nhiên, chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề cảm quan hiện sinh
trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng. Đây vẫn là một
mảnh đất trống để chúng ta có thể đi sâu khai thác.
3. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn
Minh Phượng chúng tôi muốn khám phá những dấu ấn của chủ nghĩa hiện
sinh qua tiểu thuyết của hai tác giả này.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Phương pháp phân tích- tổng hợp.
11
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
GIỚI THUYẾT VỀ CẢM QUAN HIỆN SINH VÀ TIỂU THUYẾT
NGUYỄN VIỆT HÀ, ĐOÀN MINH PHƯỢNG
1.1. Giới thuyết sơ lược về chủ nghĩa hiện sinh
Cảm quan hiện sinh không còn là một vấn đề mới mẻ. Nhưng còn nhiều
quan điểm chưa thống nhất về vấn đề này. Thực chất, muốn tìm hiểu về cảm
quan hiện sinh phải bắt nguồn từ gốc của nó, chính là chủ nghĩa hiện sinh.
Chủ nghĩa hiện sinh là sản phẩm của sự khủng hoảng của xã hội và khoa
học kĩ thuật. Nguồn gốc của nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp từ các cuộc
chiến tranh thế giới tàn khốc mà còn là sự bại hoại tinh thần do chủ nghĩa duy
lý gây nên trong xã hội phương Tây thời công nghiệp và hậu công nghiệp.
Ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa hiện sinh đó cú một sức ảnh hưởng rất
mạnh mẽ và nhanh chóng tỏa rộng hấp lực của nó trên phạm vi toàn thế giới.
Tư tưởng hiện sinh đã được manh nha từ rất sớm: triết học của
Socrate; Thánh kinh, những nhân vật trong cựu ước và tân ước, thánh
Augustin, Pascal qua tác phẩm “Tư tưởng”. Đồng thời, nó thường xuyên
được phủ định, bổ xung bởi những triết gia cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX:
S. Kiekergaard, F. Neitzche, M. Heidergeer, J. P. Sartre…. và vẫn được tái
sinh trong hoàn cảnh hậu hiện đại.
Cho dù chủ nghĩa hiện sinh thường thấm đẫm tư tưởng bi quan, thất
bại nó vẫn mặc nhiên được coi như một đại diện cho tư tưởng nhân bản
trong triết học phương Tây hiện đại. Bởi, theo Bách khoa toàn thư Đất Việt:
Chủ nghĩa hiện sinh là một học thuyết mà đối tượng là sự tồn tại của con
người xét trong hiện thực cụ thể của nó. Cho rằng đầu tiên con người chỉ là
hư vô, và chỉ việc con người tồn tại thôi đã là “phi lớ” rồi, chủ nghĩa hiện
sinh kêu gọi con người sống là phải đem lại cho đời mình một ý nghĩa. [86]
Chủ nghĩa hiện sinh đã đem đến cho con người một luồng tư tưởng mới,
khơi dậy ở họ sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Đồng thời với việc khẳng định
nhân vị độc đáo, các nhà hiện sinh đã trao quyền tự sáng tạo mình cho con
người. Con người hiện sinh phải không ngừng vươn tới cái “sẽ là” của mình.
Vì thế, con người hiện sinh không chỉ là một nhân vị tự do, độc đáo mà
còn là con người cô đơn, mang nỗi ưu tư, lo âu trước những giới hạn. Con
người hiện sinh luôn đối diện với sự tha hoá: “Nó hành động như một cái
máy không hồn, nó đánh mất nhân vị của mình, “ăn theo tư tưởng của người
khác, của một tập đoàn nào đấy không sao dứt ra được. Tha hoá bám vào
con người như một tội tổ tông. (…) Với sự kinh hãi và khắc khoải của nó, con
người có thể có được sự nhận thức sâu xa và chắc chắn về thực tại – cái mà
các triết gia truyền thống gọi là “hữu thể” – hơn bất kỳ phân tích lý lẽ trừu
tượng, riêng lẻ nào có thể mang lại. Chân lý chỉ có thể chiếm hữu được bởi
nhà tư tưởng hiện sinh trong hoàn cảnh cá nhân của hắn, chứ không bởi tư
duy khách quan tách rời với cuộc hiện sinh của nhà tư tưởng.” [5, 108].
Chủ nghĩa hiện sinh mang cảm quan bi đát về đời sống. “Nỗi sợ, sự
buồn chán, sự lạc lõng trong xã hội (Social alienation), sự phi lý, tự do, cam
kết (commitment), và hư vô“ như là nền tảng của sự hiện sinh con người.”
[86] Thế giới bí ẩn của tâm hồn, những lặp lại vụ lớ và vô nghĩa, những tác
động khốc liệt từ bên ngoài của thế giới đầy cạm bẫy mà con người không
tránh thoát được trở thành nỗi quan hoài mãnh liệt.
Chủ nghĩa hiện sinh đóng một vai trò rất mực quan trọng đối với đối
với triết học, thần học, và ngày càng quan trọng hơn đối với các lãnh vực
khoa học xã hội, trong đó có văn chương và nghệ thuật.
1.2. Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại
Chủ nghĩa hiện sinh đã có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống của mỗi
con người. Ở phương Tây, nú đó tạo nên một trào lưu hiện sinh trong đời
14
sống, thu hút đông đảo tầng lớp thanh niên vào sống lối sống tự do, phóng
lịch sử.
Đây là gian đoạn đen tối của lịch sử, con người sống trong sự khét lẹt
của khúi sỳng, trong sự tuyệt vọng và ám ảnh của cái chết. Trong những tác
phẩm văn học của Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Thị
Hoàng… cái chết, sự hư vô, hiện diện thường trực.
Chủ nghĩa hiện sinh ở Sài Gũn cũn chịu ảnh hưởng từ phong trào
phản văn hoá Mĩ. Nó tác động mạnh mẽ đến tư tưởng nổi loạn của con
người. Tuy nhiên, nú đó biến đổi khỏi tư tưởng nổi loạn của triết học hiện
sinh. Không phải theo mệnh đề - tôi nổi loạn vậy tôi hiện hữu, mà là sự nổi
loạn chủ yếu hướng tới thoả mãn cá nhân, con người trốn tránh hiện thực
khốc liệt của cuộc chiến.
Theo PGS. TS Huỳnh Như Phương, “Sau chiến tranh, hoàn cảnh xã
hội đã thay đổi, chủ nghĩa hiện sinh không còn chỗ đứng trong sinh hoạt trí
thức.” Nhưng, chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành một phần trong đời sống tâm
hồn người Việt Nam, nó hướng con người đến cuộc sống tự do, khẳng định
nhân vị độc đáo của mình. Mặt khác, chủ nghĩa hiện sinh đã trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động vào quá trình “nhà văn nắm bắt hiện trạng phi lý của thế
giới duy lý hoá hiện đại, thấy được thân phận nhỏ bé của của con người
trước nền văn minh kĩ thuật của thế giới hiện đại” [5]
Trên thực tế, các nhà văn Việt Nam không đồng thời là những tư
tưởng gia của triết hiện sinh kiểu J. P. Sartre hay A. Camus, họ cũng không
là những kẻ phục chế những ý tưởng kinh điển của chủ nghĩa hiện sinh.
Nhưng trong tác phẩm của họ, ở mức độ này hay mức độ khác, bộc lộ một
tri giác về thực tại và con người mang màu sắc của triết học hiện sinh mà
chúng tôi tạm gọi là cảm quan hiện sinh. Biểu hiện của cảm quan hiện sinh ở
mỗi nhà văn và mỗi thế hệ rất khác nhau nhưng theo chúng tôi, đây là một
16
yếu tố khá quan trọng chi phối sâu sắc nội dung và hình thức của văn bản
nghệ thuật.
Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh văn học “khụng chỉ phản ánh
ngó xuống.” (Cỏ lau) Những thiên truyện này đã mở đường cho tiểu thuyết
việt Nam bước vào thời kì đổi mới.
Tiểu thuyết Phạm Thị Hoài, mang cảm nghiệm bi đát về thế giới xa
lạ, bí ẩn, thế giới chưa hoàn kết, đầy biến động. Trong Thiên sứ, thế giới
được nhìn dưới con mắt trẻ thơ. Nhưng thế giới ấy không thanh bình, thế
giới bị giới hạn: “Nhà độc 1 phòng, 16 mét vuông gạch men nõu; phũng độc
1 cửa sổ, lỗ thủng hình chữ nhật lúc thì màu xanh, lúc thì vàng óng, lắm khi
xám xịt, đóng khung lên thế giới men nâu của tôi. 400 ô vuông nâu và 1
khuôn chữ nhật biến ảo, xoay như xoay rubic.”(Thiờn sứ, 1) Thế giới phi lí
khi khước từ cái đẹp. Những thế giới tách rời, vô nghĩa. “Uy tín, danh dự,
thảy đều trừu tượng, thảy đều không hứa hẹn gì.”
Phạm Thị Hoài quan niệm kiếp người là một bất đắc dĩ, là một thảm
kịch, là thất bại vì vậy nó mang nặng chủ nghĩa bi quan xa lạ. Con người
được bé Hoài phân loại: homo – a và homo –z. Con người sống trong những
mối quan hệ lạ lùng, bị ràng buộc bởi những điều phi lí.
Con người vong thân, tha hóa thành những mô hình. Mô hình 1 -
Quang lùn, mô hình 2 - anh Hùng, mô hình 3 - người đàn bà công dân.
Quang lùn là mô hình của những con số. Một bộ máy hoạt động chuẩn xác
và khoa học: “Khụng giờ kém 1 phút ngày 29 tháng 3 năm 1979, anh ta
xuất hiện dưới cửa sổ tôi, 1m 26 phân chiều dài”. Sự xuất hiện của anh ta
gắn liền với những con số: “3 năm, hai, rồi lại 3 năm, xuất hiện theo chu
trình tiền định,” Anh ta trở thành con người tha hóa và vô nghĩa.
Anh Hùng là “kĩ sư máy tính điện tử vừa tốt nghiệp bằng đỏ
Lomonosov, niềm tự hào của bố mẹ và họ hàng thân thích”. Anh từng say
18
đắm bờn cụ vũ nữ, vật cược thân của một ván bài. Nhưng ba năm sau anh
lấy vợ, thông minh, biết điều lí lịch cơ bản… “Nhưng anh tôi không sao gạt
khỏi kí ức mối tình điên cuồng và thảm họa kéo dài đúng 3 tuần lễ với cô
gái lai mà giờ đây anh nguyền rủa đủ đường, anh Hùng tội nghiệp.” Anh ta
tội nghiệp chính bởi sự vong thân của mình.
Cảm quan hiện sinh tiếp tục in dấu trong những sáng tác của những
nhà văn trẻ như Thuận, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Bình Phương, đặc biệt đậm
nét trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng…
Chúng ta bắt gặp sự ê chề trong thân phận con người qua tác phẩm
của Thuận. Những con người nhỏ bé, mất tích trong thế giới hối hả của cuộc
sống. Rồi họ mất tích trong sự dửng dưng lạnh lùng của người thân. Họ là
những người bị lãng quên, những kẻ ngoại lề của cuộc sống.
Trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương có sự hoài nghi về thế giới
đầy dẫy chanh chấp Thiện – Ác. Con người với ám ảnh về “trớ nhớ suy tàn”
– sự suy tàn của lớ trớ, của những mối quan hệ và chính cuộc sống tẻ nhạt
hàng ngày. Con người luôn ấp ủ một chuyến đi, là con người ưu tư của hiện
sinh, không cam chịu cuộc sống như cỏ cây, khao khát tìm lại nhân vị tự do
của mình. Cảm quan hiện sinh như một ám ảnh u buồn day dứt. “Phải nói
thật nhanh vì trí nhớ đang suy tàn ghê ghớm, đang héo đi, đổ gục xuống và
tan ra “hoa ấy không quyến rũ, nó chỉ thực sự đẹp khi rụng xuống trong
những làn mưa nhè nhẹ lất phất đủ làm hè phố thẫm lại. Mà hè phố phải thật
rộng, thật vắng vẻ, tóm lại là một ảo ảnh hoang vu và cần phải…” Ý nghĩ bị
bỏ lửng không kịp truyền sang người đàn bà áo vàng vì thời gian đã cạn, trí
nhớ đã suy tàn.” [17, 127]
Cảm quan hiện sinh – cảm quan về thế giới phi lí, xa lạ, về cuộc sống
ê chề bi đát của kiếp người luôn là một ám ảnh đối với mỗi nhà văn. Nó chi
phối từ nội dung đến nghệ thuật của tác phẩm.
20
Tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng có lẽ gặp nhau
trong cảm quan u buồn về kiếp nhân sinh. Cả hai cây bút trẻ này đã thể hiện
những cảm nghiệm già dặn trong trang viết. Chúng tôi cố gắng kiếm tìm những
nét tương đồng ấy để gúp thờm một cách hiểu về những tác phẩm mà nhiều
người vẫn cho rằng chúng thiếu đi tính nhân văn, hoặc quá lai căng.
1.3. Vấn đề cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
và Đoàn Minh Phượng
thần của con người được lưu giữ, chuyển đổi trong trong vô thức và ý thức.
Hiện sinh, theo Trần Thái Đỉnh: “là ý nghĩa của đời sống; người ta
chỉ vươn lên hiện sinh khi nào người ta đã ý thức được rằng mình sống để
làm gì: sống để thể hiện cái định mệnh cao quý và độc đáo của mỡnh,
khụng sống để mà sống: đó là hiện sinh.”
Nhưng con người hiện sinh, trong thực tế lại vấp phải những giới hạn
không thể vượt qua: giới hạn của nhận thức, giới hạn cuộc sống “Cái chết
không phải là một vấn đề triết lí nhưng chính là việc “tụi chết” mới là vấn
đề triết lớ.” [9, 13] Thực chất, con người khó vươn tới hiện sinh. Khi mang
ý thức phản tỉnh con người luôn trăn trở vươn lên cuộc sống sinh tồn, lặp lại
đáng buồn nôn. Khi đó, con người mang những cảm nghiệm đầy bi đát về
định mệnh của mình.
Vì thế, hiện sinh là ý thức vươn lên cuộc sống “cao quý và độc đỏo”
của con người, nhưng là sự vươn lên đầy nhọc nhằn, thấm đượm cảm quan
bi thiết về cuộc sống, với những định mệnh khắc nghiệt con người không
thể vượt qua.
Cảm quan hiện sinh là cách nhìn, cách cảm nhận thế giới và cuộc
sống mang màu sắc hiện sinh của con người. Thực chất, cảm quan về thế
giới được soi chiếu từ chính cảm quan về con người. Thế giới như một mê
22
cung, một cạm bẫy mà con người dấn thân. Con người không hiểu được
mình, và ngơ ngác trước thế giới. Vì thế cảm quan hiện sinh thấm đẫm sự
hoài nghi. “Bất kì khuynh hướng nào trong triết học hiện sinh là triết học về
con người trước khi là triết học về vũ trụ. Theo thiên chúa hay không, triết
hiện sinh đều mang nặng tính chất bi đát của kinh nghiệm con người về định
mệnh của mỡnh” [8, 23]
Cảm quan hiện sinh xuất hiện trong thời kì “nền khoa học đã quy cả
thế giới lại chỉ còn đơn giản là một đối tượng khảo sát kĩ thuật và toán học
đã loại bỏ khỏi chân trời của nó cái thế giới cụ thể của sự sống”. [20, 10]
Sự phát triển của khoa học đã đẩy con người vào những đường hầm của
sống. Con người vốn khao khát là một nhân vị độc đáo, nhưng đồng thời họ
phải chấp nhận những giới hạn nhận thức, sự giòn ải của cuộc sống.
Cảm quan hiện sinh thể hiện qua cảm quan về thế giới phi lí, xa lạ và
phân rã; cảm quan về con người ngoại cuộc, con người dần trở thành người
thừa trong xã hội trong một quá trình tha nhõn hoỏ đầy nghiệt ngã, mang ám
ảnh vô minh, hoài nghi, với khát vọng khải huyền bất thành.
Cảm quan hiện sinh có thể được tác giả chủ động tiếp nhận và đưa
vào tác phẩm, cũng có thể là sự thẩm thấu của vô thức.
Trong văn học Việt Nam, cảm quan hiện sinh đã xuất hiện trong
nhiều tác phẩm, trong đó phải kể đến những tên tuổi: Phạm Thị Hoài,
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Thuận….
Trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng cảm quan
hiện sinh trở thành một đóng góp độc đáo.
1.3.3. Vài nét về tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng.
Bối cảnh hiện sinh với nền tảng văn hoá, xã hội, những dấu ấn thời
hậu chiến đã tạo nên cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
và Đoàn Minh Phượng
Nguyễn Việt Hà viết không nhiều, không nhanh, viết cho mình trước,
viết những gì gần gũi với mình. Nhưng một độc giả đã kinh ngạc thốt lên:
truyện của Nguyễn Việt Hà thật đến phát sợ.
24
Từ tiểu thuyết: Cơ hội của Chúa (1999) đến Khải huyền muộn (2005),
tập truyện ngắn Của rơi, Nhà văn thì chơi với ai, tản văn Mặt của đàn ông,
đã thể hiện được nột duyờn riờng, một thương hiệu mang tiên Nguyễn Việt
Hà trên văn đàn.
Qua những trang văn có thể hình dung Nguyễn Việt Hà như một
công chức nhợt nhạt nơi công sở, khép nép đi vào phòng sếp, năm nào cũng
nghỉ phép quá hạn, nhưng chất chứa nhiều day dứt và dằn vặt. Con người
này tìm đến rượu để quờn, tỡm đến văn chương để tự thanh lọc chính mình.
Văn chương làm anh sống tốt hơn, anh đã từng tâm sự: “Viết văn là