ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ HƢƠNG GIANG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN LƢƠNG THỰC THÁI NGUYÊN:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Quốc Chính
ii LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy cô giáo và sự giúp
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
iv
Danh mục các bảng, biểu
v
Danh mục các hình
vi
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2
2.1. Mục tiêu chung
2
2.2. Mục tiêu cụ thể
3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3
4. Những đóng góp mới của luận văn
3
5. Bố cục của luận văn
3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN
4
24 iv
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
28
2.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
28
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
28
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
28
2.1.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
29
2.2.3. Phương pháp xử lý thông tin
30
2.2.4. Phương pháp phân tích thông tin
31
2.2.4.1. Phương pháp so sánh
31
2.2.4.2. Phương pháp đồ thị
31
2.2.4.3. Phương pháp phân tích SWOT
31
2.2.4.4. Phương pháp chuyên gia
32
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
32
2.3.1. Chỉ tiêu về Doanh thu
3.2.2.2. Môi trường bên trong
51
3.2.2. Kết quả kinh doanh của công ty
61
3.2.2.1. Các mặt hàng kinh doanh của công ty
61
3.2.2.2. Tóm tắt một số chỉ tiêu đã đạt được của CTCP Lương thực Thái
Nguyên giai đoạn 2009-2011
61
3.2.2.3. Doanh thu của từng mặt hàng qua các năm
63 v
3.2.2.4. Lãi gộp của các mặt hàng kinh doanh
64
3.2.2.5. Tình hình tài chính của công ty
66
3.2.3. Đánh giá chung thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty
71
3.2.3.1. Những điểm mạnh
71
3.2.3.2. Những điểm yếu
72
3.2.3.3. Những cơ hội
74
3.2.3.4. Những nguy cơ
74
3.2.3.5. Phân tích SWOT
89
KẾT LUẬN
90
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
vi DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Chữ viết tắt
CNCT
Chi nhánh công ty (CTCP Lương thực Thái Nguyên
có 8 chi nhánh trực thuộc)
CTCP
Công ty cổ phần
FAO
Tổ chức Lương Nông của Liên Hợp quốc
TCT
Tổng công ty
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
Cơ cấu nguồn vốn của công ty giai đoạn 2009-2011
52
2
Bảng 3.2
Tình hình biến động chung của lao động công ty giai
đoạn 2008-2011
55
3
Bảng 3.3
Chất lượng lao động của công ty giai đoạn 2009-2011
55
4
Bảng 3.4
Thu nhập bình quân của người lao động tại công ty giai
đoạn 2009-2011
57
5
Bảng 3.5
Thu nhập bình quân của người lao động giai đoạn 2009-
2011 tại các đơn vị cùng ngành và khối thi đua
58
6
Bảng 3.6
Tóm tắt một số chỉ tiêu đạt được giai đoạn 2009-2011
62
7
Bảng 3.7
Cơ cấu doanh thu của từng mặt hàng giai đoạn 2009-
2011
63
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Hình
Nội dung
Trang
1
Sơ đồ 3.1
Bộ máy tổ chức hoạt động của công ty
43
2
Biểu đồ 3.1
Trình độ lao động
56
3
Biểu đồ 3.2
Tỷ trọng doanh thu các mặt hàng kinh doanh của
công ty
năm 2011
64
4
Biểu đồ 3.3
Tỷ trọng lãi gộp các mặt hàng kinh doanh của công ty
năm 2011
65
Như vậy, phát triển sản xuất lúa gạo Việt Nam không chỉ trở thành mặt
hàng xuất khẩu mũi nhọn đem lại phồn vinh cho Tổ quốc mà còn góp một
phần quan trọng vào chiến lược đảm bảo an ninh lương thực của Tổ chức
Nông Lương Liên hợp quốc (FAO).
Tuy nhiên kinh tế thế giới những năm vừa qua biến động không ngừng,
nhiều nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái, trong đó có Việt Nam. 2
Việc Ấn Độ tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo giá rẻ lại đang là đối thủ
cạnh tranh lớn của nước ta làm cho tình hình kinh doanh lương thực ngày
càng khó khăn. Dự báo về tình hình xuất khẩu gạo từ 2012 - 2015, FAO nhận
định: Nhìn chung trong 4 năm tới số lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ ổn
định ở mức 6 triệu tấn/năm, nhưng chất lượng gạo sẽ thay đổi và thị trường
cạnh tranh gay gắt từ các nguồn cung cấp mới như: Myanma, Campuchia,
Do đó, Việt Nam cần nâng cao chất lượng lúa gạo trên cơ sở chọn giống và
thiết lập các vùng nguyên liệu chất lượng cao, từng bước hình thành thương
hiệu sản phẩm riêng. Với các doanh nghiệp kinh doanh lương thực tại Việt
Nam cần phải có nhiều biện pháp để có hướng đi lâu dài hơn, đem lại hiệu
quả cao hơn trong việc sản xuất và kinh doanh lương thực.
CTCP Lương thực Thái Nguyên là doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi
sang loại hình CTCP và là thành viên của TCT Lương thực Miền Bắc. Công
ty kinh doanh đa dạng các mặt hàng từ kinh doanh lương thực, phân bón, vật
liệu xây dựng đến kinh doanh siêu thị ….Trong những năm qua, tình hình
kinh doanh của công ty có nhiều biến động, doanh thu có nhiều biến đổi, lợi
nhuận không cao, việc kinh doanh của công ty vẫn dựa trên việc thực hiện các
kế hoạch có sẵn, những mục tiêu ngắn hạn, chưa tiến hành phân tích thị
trường, môi trường kinh doanh, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, do
đó hiệu quả kinh doanh của công ty vẫn chưa xứng với năng lực hiện có của
- Nêu được thực trạng về hoạt động kinh doanh của CTCP Lương thực Thái
Nguyên.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh
của CTCP Lương thực Thái Nguyên.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của CTCP
Lương thực Thái Nguyên. 4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm về kinh doanh hàng hoá:
Kinh doanh hàng hoá là dùng tiền của, công sức vào việc buôn bán hàng
hoá nhằm mục đích kiếm lợi. Kinh doanh hàng hoá, trước hết đòi hỏi phải có
vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh là các khoản vốn bằng tiền, bằng tài sản
khác. Có thể lúc đầu vốn kinh doanh là khoản tích luỹ, vốn góp, vốn huy
động hay vốn vay, có vốn mới thực hiện được chức năng lưu thông hàng hoá.
Thứ hai, kinh doanh hàng hoá đòi hỏi hành vi mua để bán. Xét trên toàn
bộ và cả quá trình thì hoạt động kinh doanh hàng hoá phải thực hiện hành vi
mua hàng, nhưng mua hàng không để mình dùng mà mua hàng để bán cho
người khác, đó là hoạt động buôn bán.
hỏi các doanh nghiệp phải năng động, sáng tạo, thúc đẩy cải tiến ký thuật,
phát huy sáng kiến để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ
trên thị trường. Điều đó góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
nhanh chóng, giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường
cạnh tranh gay gắt hiện nay.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2.1. Môi trường bên ngoài
Do sự biến động của môi trường kinh doanh trong nước cũng như trên
thế giới, việc xác định những yếu tố môi trường bên ngoài ngày càng trở nên
quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích ảnh
hưởng của môi trường bên ngoài và môi trường ngành trong quá trình kinh
doanh sẽ xác định, chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và các
nguy cơ, những mối de dọa đối với hoạt động của doanh nghiệp trong tương
lai. Các tác động của môi trường đến quá kình kinh doanh của Doanh nghiệp
bao gồm:
6
- Môi trƣờng quốc tế
Việc nghiên cứu môi trường quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp xác định được
mức độ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp mình.
Khu vực hóa và toàn cầu hóa đã, đang và sẽ là xu hướng tất yếu mà Chính phủ,
các ngành và các doanh nghiệp đều phải tính đến.
Một quốc gia ổn định về chính trị, có bầu không khí chính trị tốt, hệ
thống các chính sách chế độ rõ ràng và nhất quán, việc tuân thủ pháp luật
nghiêm minh, có mối quan hệ hợp tác tốt với các nước trong khu vực và trên
thế giới sẽ luôn là điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư, và bản thân các
tiếp nhất. Thiên tai không chỉ ảnh hưởng cây trồng trên đồng ruộng, làm giảm
năng suất lúa và các cây lương thực khác hay mất mùa mà còn phá huỷ các
kho tàng sau thu hoạch, các công trình thuỷ lợi Khả năng hạn hán cũng sẽ
tăng do thời tiết khô nóng xuất hiện nhiều hơn làm tăng nguy cơ sa mạc hoá
đồng ruộng và tăng nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, biến
đổi khí hậu sẽ làm thay đổi điều kiện khí hậu nông nghiệp, thay đổi cơ cấu
thời vụ, phá vỡ tập quán canh tác từ lâu đời của nông dân.
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 75% dân số sống bằng nông
nghiệp và 70% lãnh thổ là nông thôn. Sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn chủ
yếu dựa trên các hộ cá thể, quy mô nhỏ, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao
và còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, khí hậu. Khi nhiệt độ, tính biến động
và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất
nông nghiệp, nhất là trồng trọt, làm tăng dịch bệnh, dịch hại, giảm sút năng
suất của mùa màng.
- Tác động của yếu tố kinh tế
Bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nền kinh
tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hối đoái tất cả các
yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả
những thách thức với doanh nghiệp. Để đảm bảo thành công của hoạt động
doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi,
phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính 8
sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những
cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa.
- Tác động của yếu tố khoa học công nghệ
Đây là nhân tố có những ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến chiến lược của các
Việc phân tích các đối thủ cạnh tranh sẽ giúp cho việc xác định khác đầy
đủ các áp lực cạnh tranh, chỉ ra được các cơ hội và những mối đe dọa thực sự
có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các đối thủ
cạnh tranh cụ thể là:
+ Đối thủ hiện tại.
Đối thủ cạnh tranh hiện tại là những doanh nghiệp đang hoạt động trong
ngành và cạnh tranh trực tiếp tới doanh nghiệp mình (hiện nay các Công ty
lương thực trực thuộc tổng Công ty Lương thực Miền Bắc đang là những đối
thủ cạnh tranh trực tiếp với Công ty Lương thực Thái Nguyên). Trong mô
hình kinh doanh truyền thống, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, đối thủ sẽ
đẩy lợi nhuận tiến dần tới con số 0, nhưng trong cuộc cạnh tranh ngày nay,
các doanh nghiệp sẽ không dễ dàng gì chịu chấp nhận giá một cách thụ động.
Trên thực tế, các doanh nghiệp đều cố gắng để có được lợi thế cạnh tranh,
năng lực cạnh tranh bền vững do với các đối thủ của mình. Cường độ cạnh
tranh thay đổi khác nhau tùy theo từng ngành và các nhà phân tích chiến lược
rất quan tâm đến những điểm khác biệt đó.
Cường độ cạnh tranh có thể ở các cấp độ tàn khốc, mạnh mẽ, vừa phải
hoặc yếu tùy theo việc các doanh nghiệp nỗ lực giành lợi thế cạnh tranh đến
mức nào.
Để có được lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh bền vững so với
các đối thủ, doanh nghiệp có thể thực hiện một số động thái cạnh tranh bao
gồm thay đổi giá, gia tăng sự khác biệt của sản phẩm, dịch vụ, sử dụng các
kênh phân phối một cách sáng tạo.
+ Đối thủ tiềm năng
Không chỉ là các đối thủ hiện tại mới tạo ra nguy cơ đe doạ tới các doanh
nghiệp trong một ngành mà còn những doanh nghiệp mới gia nhập ngành
cũng có khả năng ảnh hưởng đến cạnh tranh. Xét về mặt lý thuyết, bất cứ
doanh nghiệp nào cũng có thể tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường, nếu như
11
- Nhà cung cấp
Một ngành sản xuất đòi hỏi phải có các nguyên liệu thô bao gồm lao
động, vật tư, thiết bị… các bộ phận cấu thành, cũng như các đầu vào khác.
Điều này dẫn đến quan hệ giữa bên mua và bên cung cấp giữa các ngành sản
xuất và các doanh nghiệp cung cấp các nguyên liệu thô để chế tạo sản phẩm.
Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao
dịch của họ đối với doanh nghiệp. Những nhà cung cấp nhỏ, yếu thế có thể
phải chấp nhận các điều kiện mà doanh nghiệp đưa ra, nhờ đó doanh nghiệp
giảm được chi phí và tăng lợi nhuận trong sản xuất. Ngược lại, những nhà
cung cấp lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất, có thể bằng cách đặt
giá bán nguyên liệu cao hơn để san sẻ phần lợi nhuận của ngành…Đối với
lĩnh vực hoạt động kinh doanh lương thực, gạo nguyên liệu nhiên liệu chiếm
tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Công ty nào chiếm lĩnh được vùng
nguyên liệu và tự khai thác tốt được thì sẽ chủ động trong hoạt động kinh
doanh.
Nói tóm lại, việc phân tích môi trường bên ngoài nhằm chỉ ra cho chúng
ta thấy được những tác động của những nhân tố bên ngoài đến hoạt động của
ngành mình và của doanh nghiệp mình, sẽ tạo ra cho chúng ta những cơ hội
tiềm năng hoặc đang tiềm ẩn những thách thức gì.
1.1.2.2. Môi trường bên trong
Việc phân tích môi trường bên trong rất cần thiết để giúp tìm ra những
điểm mạnh và điểm yếu của một doanh nghiệp. Nhóm nhân tố bên trong
Doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp
như: vốn, lao động, cơ sở vật chất,
- Vốn
muốn tồn tại vững chắc trên thị trường. Doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng
để đảm bảo cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, để tài trợ cho các dự án của
doanh nghiệp.
- Nguyên liệu
Nhân tố đầu vào nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản
xuất, trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm. Để quá trình sản xuất kinh 13
doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách lên tục, không bị gián đoạn
tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh thì vấn đề nguyên vật liệu
cần được đáp ứng đầy đủ cả về số lượng, chủng loại và thời gian …vấn đề dự
trữ nguyên vật liệu cần được tính toán trước khi tiến hành thu mua, khai thác.
Chi phí nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ lệ lớn trong giá thành sản
phẩm, nếu tiết kiệm được nguyên vật liệu, sử dụng chúng một cách hợp lý sẽ
giảm được giá thành sản phẩm.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật
Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với sự phát triển của tư liệu
lao động. Sự phát triển của tư liệu lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng
năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành. Như
vậy cơ sở vật chất kỹ thuật là một nhân tố hết sức quan trọng, là điều kiện tiên
quyết để tăng hiệu quả kinh doanh. Nếu xét trong mối liên hệ với lao động thì
cơ sở vật chất kỹ thuật vừa là công cụ, vừa là môi trường tốt để nâng cao năng
lực của đội ngũ lao động.
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã thực sự nâng
cao năng suất và chất lượng sản phẩm ở tất cả các hãng kinh doanh. Nếu
doanh nghiệp chỉ có cơ sở vật chất yếu kém, máy móc lạc hậu, không đồng bộ
thì việc bán sản phẩm sẻ thực sự khó khăn.
Thực tế trong những năm chuyển đổi kinh tế vừa qua cho thấy: Doanh
Ngoài ra, hiệu quả của hoạt động kinh doanh còn phụ thuộc rất lớn vào ý
thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác, phối hợp, khả năng thích ứng với những
thay đổi, nắm bắt thông tin nhanh nhạy, kịp thời của người lao động trong
doanh nghiệp. Lực lượng lao động có trình độ, có trách nhiệm, ý thức tổ chức
kỷ luật cao là động cơ để phát huy hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp.
Để có được đội ngũ lao động có trình độ, tinh thần, ý thức trách nhiệm
cao thì doanh nghiệp phải chăm lo đến việc đào tạo, bồi dưỡng, và nâng cao
trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động trong đơn vị mình.
- Yếu tố quản trị doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh lương thực
nói riêng, yếu tố quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh. Yếu tố này tác động đến hoạt động kinh doanh thông qua một 15
loạt các kênh nội tại của doanh nghiệp như cơ cấu lao động, cơ sở vật chất kỹ
thuật Công tác quản trị doanh nghiệp được tiến hành tốt sẽ giúp doanh
nghiệp tạo dựng một hướng đi đúng trong xác lập thị trường, xác định mặt
hàng, xác định đối tác chiến lược trong xây dựng chiến lược kinh doanh,
trong xác định hợp lý các mục tiêu kinh doanh ngắn và dài hạn.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp hợp lý không những giúp
cho điều hành hoạt động kinh doanh tốt mà còn giảm các chi phí quản lý và
xây dựng một cơ cấu điều phối lao động tối ưu, góp phần xây dựng và lựa
chọn hợp lý các phương án huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực đầu vào phục vụ cho mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhà quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt bằng
phẩm chất đạo đức và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất, có ý
nghĩa quyết định đối với sự thành đạt của doanh nghiệp. Để có thể tạo dựng
hệ thống quản trị doanh nghiệp tốt, đòi hỏi nhà quản trị phải có kiến thức
định nhu cầu thị trường về lương thực và dịch vụ liên quan. Đây là bước
đầu tiên trong quá trình hoạt động kinh doanh nhằm trả lời các câu hỏi: Cần
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ gì ? chất lượng ra sao ? số lượng bao nhiêu ?
mua bán lúc nào ? ở đâu ?
Thứ hai: là quá trình huy động và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên
để thoả mãn các nhu cầu của xã hội. Trong điều kiện cạnh tranh của nền
kinh tế, việc tạo nguồn để đáp ứng các nhu cầu và nâng cao năng lực cạnh
tranh là công việc hết sức quan trọng.
Thứ ba: là quá trình tổ chức các mối quan hệ kinh tế. Ở khâu công tác
này, cần giải quyết các vấn đề về kinh tế, tổ chức và pháp luật phát sinh
giữa các doanh nghiệp trong quá trình mua bán hàng hoá.
Thứ tư: là quá trình tổ chức hợp lý các kênh phân phối và tổ chức
chuyển giao hàng hoá, dịch vụ. Đây là quá trình liên quan tới việc điều hành
và vận chuyển hàng hoá, dịch vụ từ nơi sản xuất đến người sử dụng với
những điều kiện hiệu qủ tối đa. Quá trình này giải quyết các vấn đề: thay
đổi quyền sở hữu tài sản, di chuyển hàng hoá qua các khâu vận chuyển, dự
trữ, bảo quản, đóng gói bốc dỡ, cung cấp thông tin thị trường cho nhà sản
xuất.