Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
MỤC LỤC
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 1
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các thế kỷ XVI, XVII, XVIII lịch sử xã hội loài người đã từng chứng
kiến hàng loạt những trận cuồng phong của các cuộc cách mạng tư sản trước chế độ
phong kiến và lần đầu tiên trong giai đoạn lịch sử ấy con người được hít thở một
bầu không khí tự do sau hàng trăm năm ngột ngạt dưới đêm trường trung cổ. Bước
sang thế kỷ XX, thế giới một lần nữa chứng kiến một cơn bão táp cách mạng ở một
mức độ cao hơn, hoàn mỹ hơn. Cuộc cách mạng ấy không những đưa nhân loại
bước vào một thời kỳ mới với một tư tưởng mới, tiến bộ hơn mà còn xác lập một
mô hình nhà nước trong tương lai mà nhân loại đang hướng tới.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 là một sự kiện vĩ đại
trong tiến trình lịch sử nhân loại báo hiệu sự cáo chung của kỷ nguyên xã hội áp
bức giai cấp từng tồn tại mấy nghìn năm trên trái đất; nó tỏa ánh bình minh của một
ngày mới đang đến với loài người, mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. “Như ánh nắng mặt
trời rạng đông xua tan bóng tối, cuộc cách mạng tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng
mới vào lịch sử loài người” và “làm thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức
bóc lột trên trái đất” [34, tr.3,57].
Nối tiếp Cách mạng tháng Mười Nga, hàng loạt các phong trào cách mạng trên
thế giới liên tiếp bùng nổ như một phản ứng dây chuyền đập tan mọi xiềng xích bóc
lột của chủ nghĩa đế quốc. Thắng lợi của của cách mạng Trung Quốc, cách mạng
Việt Nam cùng với sự ra đời của hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ
XX đã chứng minh sự đúng đắn, tính tất yếu của hình thái kinh tế xã hội mới mà
nhân loại đang hướng tới.
Cách mạng tháng Mười Nga không những soi đường, chỉ lối cho các dân tộc bị
Cho đến nay ở Việt Nam số lượng các công trình nghiên cứu về cách mạng xã
hội chủ nghĩa tháng Mười tương đối nhiều so với các vấn đề lịch sử thế giới khác.
Đặc biệt có nhiều bài viết, bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt
Nam về cuộc cách mạng này như: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm
Văn Đồng…Các nhà hoạch định cách mạng, đồng thời là nhà nghiên cứu lịch sử
như: Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu…Bên cạnh đó, nhiều công trình chuyên khảo
đã được xuất bản: Bùi Công Trừng (1957), Cách mạng tháng Mười và sự thành lập
Đảng Cộng sản Đông Dương; Nguyễn Khánh Toàn (1968), Cách mạng tháng Mười
và vấn đề chính quyền; Nguyễn Xuân Trúc, Vũ Ngọc Oanh…(1987), Cách mạng
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 3
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
tháng Mười Nga; Nguyễn Huy Qúy (1982), Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng
Mười Nga vĩ đại; Nguyễn Quốc Hùng (2007),Cách mạng tháng Mười Nga 1917
lịch sử và hiện tại…
Tuy nhiên, vấn đề bạo lực Cách mạng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng
Mười Nga chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, mặc dù đã được đề cập
trong các công trình chung về cuộc cách mạng này. Những kết quả đạt được trong
nghiên cứu của các tác giả đi trước sẽ là tài liệu quý giá cho chúng tôi tham khảo
trong công trình của mình. Hy vọng, trong một chừng mực rất nhỏ bé kết quả
nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp góp phần khẳng định các bài học kinh nghiệm
cũng như tầm vóc vĩ đại của Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm
1917 trong tiến trình phát triển của nhân loại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình thức đấu tranh chính trị trong Cách
mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1917).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung đề tài nghiên cứu hình thức đấu tranh chính trị trong Cách mạng xã
hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1917).
quan đến vấn đề hình thức đấu tranh chính trị trong Cách mạng xã hội chủ nghĩa
tháng Mười Nga xuất bản tại Việt Nam.
- Ngoài ra tác giả khóa luận còn sử dụng một số tư liệu được công bố trong các
khóa luận tốt nghiệp, các bài viết trên mạng Internet.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Quán triệt quan điểm, lập trường của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng và nhà nước ta trong quá trình nghiên cứu bạo lực cách mạng nói
chung và hình thức đấu tranh chính trị trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch
sử với phương pháp logic, tận dụng ưu thế của phương pháp lịch sử để khôi
phục và tái hiện lại các sự kiện, tư liệu và nội dung có liên quan đến hình thức
đấu tranh chính trị trong Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (từ tháng 4
đến tháng 7 năm 1917), đồng thời qua đó áp dụng phương pháp logic để đánh giá,
nhìn nhận vấn đề.
Bên cạnh đó để hoàn thành đề tài nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như: phân tích, so sánh, tổng hợp, lập
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 5
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
bảng thống kê để đối chiếu làm rõ vấn đề, xử lý các nguồn tư liệu trước khi sử dụng
trong công trình nghiên cứu.
6. Đóng góp của khóa luận
- Về lí luận: Trên cơ sở những tư liệu lịch sử có được, tác giả khóa luận
sắp xếp, hệ thống hóa và xác lập một bức tranh tổng thể về tiến trình phát
triển của Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga từ tháng Tư đến tháng
7 năm 1917 thông qua hình thức đấu tranh chính trị dưới sự lãnh đạo của
Đảng Bônsêvích để giành chính quyền.
Nội dung khóa luận trong mức độ nhất định góp phần làm rõ hơn bản chất của
vấn đề bạo lực cách mạng trong cách mạng xã hội nói chung và cách mạng xã hội
Cộng sản; C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh vai trò của bạo lực cách mạng. Sang
thời đại đế quốc chủ nghĩa, Lênin – người kế tục vĩ đại nhất sự nghiệp Mác –
Ăngghen đã nói: Tư tưởng cách mạng bạo lực ấy là nền móng của toàn bộ học thuyết
Mác và Ăngghen. Người khẳng định: “Nhà nước tư sản không thể nhường chỗ cho
nhà nước vô sản (chuyên chính vô sản) bằng con đường tự tiêu vong được, mà chỉ có
thể, theo quy luật chung, bằng cuộc cách mạng bạo lực thôi” [13,tr.27].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì bạo lực là hành động dùng sức
mạnh có tổ chức của một giai cấp, một tập đoàn xã hội chống lại các giai cấp và các
tập đoàn xã hội khác để giành và giữ chính quyền, để bảo vệ mọi quyền lợi chính trị
và kinh tế đạt được.
Trong quá trình phát triển của lịch sử có hai loại bạo lực: bạo lực phản cách
mạng và bạo lực cách mạng. Bạo lực phản cách mạng là do bản chất phản động của
giai cấp bốc lột, chúng thường dùng bạo lực để đàn áp nhân dân lao động và khi đã
bị lật đổ, chúng tìm mọi cách tổ chức lực lượng để cố giành lại địa vị đã mất. Bạo
lực cách mạng là sức mạnh có tổ chức của giai cấp cách mạng để lật đổ những thế
lực phản động thống trị nhằm mục đích giành và giữ chính quyền, tước đoạt tư liệu
sản xuất từ tay giai cấp bóc lột và các nhóm phản động về tay nhân dân lao động,
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
bảo vệ những thành quả cách mạng, chống lại những âm mưu và hành động phá
hoại của thù trong giặc ngoài.
Bạo lực cách mạng dựa trên hai lực lượng chính: Lực lượng chính trị là lực
lượng quần chúng lao động đã được tổ chức lại; và lực lượng vũ trang tức là quân
đội và những tổ chức nhân dân cách mạng được vũ trang. Bạo lực cách mạng được
thể hiện qua hai hình thức: đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và sự kết hợp giữa
hai hình thức đó.
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định rằng: vấn đề cơ bản của một cuộc cách
mạng là vấn đề chính quyền. Trong cách mạng vô sản, giai cấp vô sản muốn giành
chính quyền về tay mình thì phải sử dụng con đường cách mạng bạo lực, chỉ có
đề sử dụng bạo lực cách mạng là một phương tiện cơ bản để đảm bảo sự thắng lợi
của cuộc cách mạng vô sản. Song chủ nghĩa Mác – Lênin cũng chỉ ra rằng cách
mạng vô sản phải biết tạo cho được những điều kiện cần thiết để tiến hành cuộc
cách mạng bạo lực đảm bảo giành được thắng lợi triệt để.
Mấy chục năm qua, trong điều kiện có sự cùng tồn tại và đấu tranh giữa hai hệ
thống xã hội thế giới, sự phát triển của nền dân chủ trong các nước tư bản chủ nghĩa
phát triển cao đã tạo ra cho phong trào cách mạng những khả năng lớn hơn trong
việc sử dụng phương pháp đấu tranh hòa bình để đi lên chủ nghĩa xã hội. Theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, bạo lực chỉ là phương tiện, là công cụ chứ không
phải là mục đích của cách mạng, là điều kiện chứ không phải nguyên nhân sản sinh
ra xã hội mới. Do đó, người macxít không phủ nhận khả năng tiến lên chủ nghĩa xã
hội bằng phương pháp hòa bình, kể cả việc sử dụng “con đường dân chủ” mà coi
đó là khả năng hiếm hoi nhưng rất quý báu.
Phương pháp hòa bình được hiểu là những hình thức đấu tranh không diễn ra
sự xung đột vũ trang đổ máu. Vì vậy, phương pháp hòa bình, theo quan điểm
macxít, không phải là sự loại trừ bạo lực cách mạng. Trái lại, khả năng tiến lên chủ
nghĩa xã hội bằng phương pháp hòa bình chỉ được thực hiện khi có bạo lực cách
mạng làm điều kiện.
Đối với những người mácxít, đấu tranh vũ trang không phải là một cứu cánh.
Những người cộng sản hoàn toàn không phải chủ trương sử dụng vũ khí trong bất
cứ lúc nào và bất cứ trường hợp nào. Mác đã dùng hình ảnh gọi bạo lực là bà đỡ đẻ
của mỗi chế độ xã hội mới. Nhưng bạo lực giữ vai trò đó không phải vì các giai cấp
cách mạng mong muốn nhất thiết phải dùng nó mà vì những giai cấp lỗi thời đã lợi
dụng bạo lực để bảo vệ của cải và đặc quyền của chúng. Trong bản sơ thảo về cuốn
Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Ph. Ăngghen đã đặt câu hỏi: có thể thủ tiêu chế độ tư
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 9
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
hữu bằng phương pháp hòa bình được không? “Rất mong muốn là có thể làm được
như thế, và tất cả những người cộng sản sẽ tán thành điều đó hơn cả… Nhưng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
C.Mác, Ph. Ăngghen và V.I.Lênin đã từng phải đấu tranh chống các trào lưu
cải lương chủ nghĩa đem quan điểm điều hòa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản
để đối lập với học thuyết về đấu tranh giai cấp. Những người “không tưởng tiểu tư
sản” ấy hình dung ngay cả việc cải tạo xã hội chủ nghĩa cũng theo cách mộng
tưởng, không phải là dưới hình thức lật đổ nền thống trị của giai cấp bóc lột, mà
dưới hình thức số ít êm ái phục tùng số đông đã có ý thức về nhiệm vụ của mình.
Đối với họ, phương pháp đấu tranh chủ yếu chỉ là đấu tranh nghị trường, sử dụng
chế độ bầu cử dân chủ tư sản thành công cụ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Họ không
kết hợp cuộc đấu tranh nghị trường với việc xây dựng những cơ sở bạo lực cách
mạng, và chuyên chính vô sản.
Thực tiễn lịch sử chính trị trong nhiều thập kỷ đã chứng minh rằng, thắng lợi
của “con đường dân chủ” chỉ có thể được đảm bảo khi có sức mạnh của phong trào
quần chúng làm hậu thuẫn. Xu thế “hòa hoãn” trong đời sống chính trị thế giới
hiện nay không bác bỏ quan điểm mácxít về bạo lực cách mạng. Xu thế đó không
có nghĩa là mọi xung đột vũ trang đều có thể giải quyết bằng giải pháp chính trị
theo ý muốn mà không có điều kiện nào. Cũng như nền hòa bình thế giới được duy
trì trong hơn bốn chục năm qua, xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại hiện nay
không phải được tạo ra bởi chủ nghĩa đế quốc đã trở nên “biết điều” hơn trước. Nó
được tạo ra chính bởi sự lớn mạnh của các phong trào cách mạng và hòa bình, bởi
sự cân bằng sức mạnh giữa cách mạng và phản cách mạng, và nói riêng “sự cân
bằng chiến lược về quân sự” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc. Chiến
lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc không loại trừ bạo lực mà là
“dựa trên sức mạnh”.
Như đã nói ở trên, bạo lực, theo quan điểm mácxít, chỉ là phương tiện của cách
mạng. Vì vậy, tùy theo hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, nhất là tùy theo sự so sánh lực
lượng giữa cách mạng và phản cách mạng, nó có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau. Bạo lực cách mạng là sức mạnh của phong trào quần chúng được đường
lối chính trị tiên tiến hướng dẫn vùng dậy chống giai cấp thống trị phản động. Đó
lãnh đạo mọi hình thức đấu tranh, sử dụng chúng trong một thể thống nhất để tạo
nên sức mạnh tổng hợp, tùy theo sự phát triển của cách mạng mà chuyển một cách
linh hoạt từ hình thức này sang hình thức khác; biết sử dụng bạo lực cần thiết vào
những giờ phút và chỗ quyết định để giành thắng lợi cho cách mạng.
1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bạo lực cách mạng
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 12
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
Đảng Cộng sản Việt Nam đội quân tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, ngay từ khi mới ra đời, dưới
ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin đã có cách nhìn nhận đúng đắn về bạo lực
cách mạng. Hồ Chủ tịch nói: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không còn con
đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”[28,tr.114]. Đảng ta cũng chỉ
rõ: “Việc dùng bạo lực cách mạng để đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản,
thiết lập ra ra nhà nước chuyên chính vô sản vẫn là quy luật phổ biến đối với cuộc
chiến tranh cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa trong
điều kiện hiện nay”[32,tr.39], còn ở các nước thuộc địa và phụ thuộc “vấn đề đấu
tranh vũ trang và khởi nghĩa vũ trang ở các nước đó là một quy luật thực sự phổ
biến” [32,tr.39].
Bạo lực mà Đảng ta chủ trương là bạo lực của quần chúng. Hồ Chủ tịch nói:
Muốn cách mạng thành công thì phải lấy dân chúng (công nông) làm gốc và Người
chỉ ra rằng: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù giai cấp và của dân tộc
cần dùng bạo lực cách mạng để chống bạo lực phản cách mạng”[28,tr.466] giành
lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Vì vậy, Đảng ta rất chú ý quan tâm vấn đề
bạo lực cách mạng.
Do nhận thức được vai trò to lớn của các tầng lớp nhân dân trong tiến trình
cách mạng, nên Đảng ta đã tuyên truyền, giác ngộ quần chúng và tập hợp họ trong
một mặt trận dân tộc thống nhất, cùng đoàn kết nhất trí với nhau dưới sự lãnh đạo
của Đảng nhằm tạo nên sức mạnh của toàn dân đánh giặc, phát huy sức mạnh tổng
hợp. Hồ Chủ tịch đã chỉ ra hình thức của cuộc chiến tranh giải phóng đất nước là
chính trị đó sẽ làm cho thắng lợi quân sự to lớn hơn”[29,tr.148] và không có lực
lượng chính trị và đấu tranh chính trị của quần chúng thì đấu tranh quân sự và lực
lượng vũ trang không thể giành được thắng lợi. Nhưng trong đó quân sự là trực tiếp
quyết định.
Đảng ta đề xuất đánh địch toàn diện trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng
bằng và thành thị với lực lượng vũ trang ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa
phương và dân quân du kích. Ngoài ra Đảng còn chú trọng đến vấn đề xây dựng căn
cứ địa và hậu phương vững chắc, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của
thời đại để tạo ra sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi cuối cùng cho đất nước, cho
nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Tóm lại, thấm nhuần quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề cách mạng
bạo lực. Đảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh, tình hình cụ thể của
nước ta. Với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 14
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
Minh đã vững tay lái, khéo chống chèo đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đến bờ
bến vinh quang.
Từ kinh nghiệm cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, cố Tổng bí
thư Lê Duẩn khẳng định rằng, con đường có tính quy luật đưa sự nghiệp giải phóng
của nhân dân ta đến thắng lợi về cơ bản là con đường bạo lực. Song, trong chiến
tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng của dân tộc ta, bạo lực cách mạng không
đồng nghĩa với đấu tranh vũ trang và chỉ dựa vào đấu tranh vũ trang, mà còn đòi hỏi
phải có lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị. Coi trọng xây dựng lực lượng vũ
trang và không ngừng tăng cường hiệu lực của đấu tranh quân sự là tuyệt đối cần
thiết, bởi vì có thắng địch về quân sự thì cuối cùng mới giành được thắng lợi cho
cách mạng, cho kháng chiến. Song xây dựng lực lượng chính trị, và phát huy vai trò
của đấu tranh chính trị cũng cần thiết như thế. Bởi vì, chính trị là chỗ mạnh tuyệt
đối tạo nên ưu thế của lực lượng cách mạng so với lực lượng phản cách mạng.
Chính trị ở đây là lòng dân và sức dân, là truyền thống yêu nước và cách mạng,
nhằm lật đổ ách thống trị của địch, thiết lập chính quyền của nhân dân. Phải đứng
trên quan điểm cách mạng để hiểu bạo lực quần chúng, và có hiểu bạo lực với nội
dung là sự vùng dậy của quần chúng bằng phương pháp vừa đấu tranh vừa chính
trị vừa quân sự thì mới thấy rõ thế tiến công của cách mạng” [7, tr.160].
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 16
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ TRONG CÁCH
MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THÁNG MƯỜI NGA
(TỪ THÁNG 4 ĐẾN THÁNG 7 NĂM 1917)
2.1. Đường lối bạo lực cách mạng của Đảng Bônsêvich trong Cách mạng
xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã đẩy nước Nga vào cuộc khủng hoảng trầm
trọng, phơi bày sự lạc hậu về kinh tế, quân sự của đất nước. Nền công nghiệp không
đáp ứng được yêu cầu của cuộc chiến, kinh tế kiệt quệ, sản xuất đình đốn, nạn đói
trầm trọng ở nông thôn, chiến tranh và sự yếu kém của nền kinh tế làm hàng triệu
người chết và bị thương. Nội bộ giai cấp thống trị mâu thuẫn với nhau, những kẻ
cầm đầu bộ máy chiến tranh mang nặng tâm lý chiến bại. Duma quốc gia bị giải tán,
chính quyền chuyển sang tay bọn độc tài quân sự. Chính phủ Nga hoàng muốn ký
hoà ước riêng với Đức để rảnh tay đối phó với phong trào cách mạng. Tuy nhiên,
giai cấp tư sản không muốn điều đó, bởi họ có lợi từ chiến tranh và nhờ đó mà có
thể thực hiện tham vọng đế quốc. Giai cấp tư sản muốn tiến hành một cuộc đảo
chính lật đổ Nga hoàng, đưa một phần tử tư sản lên nắm quyền.
Trong điều kiện lịch sử mới, Lênin cho rằng, nội dung xã hội của cuộc cách
mạng sắp nổ ra ở nước Nga chỉ có thể là nền chuyên chính dân chủ cách mạng của
giai cấp vô sản và giai cấp nông dân; cuộc cách mạng dân chủ tư sản sắp tới có
nhiều khả năng thuận lợi và “hết sức gần” để chuyển sang cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Trong tháng 1 năm 1917, hàng trăm ngàn công nhân tham gia bãi công,
sang tháng 2, con số này lên tới 400 ngàn người. Ngày 23-2, (tức ngày 8-3 công
lịch), đáp lời kêu gọi của Đảng bộ Bôsêvích Pêtrôgrat, chị em công nhân xuống
thiện tình hình đất nước. Nhân dân Nga tham gia cuộc đấu tranh cách mạng, không
tiếc xương máu, mạng sống của mình với mong muốn được hòa bình, tự do, bánh
mì và ruộng đất, nhưng Chính phủ tư sản không nghĩ đến việc chấm dứt chiến
tranh, mà lại tìm mọi cách để thúc đẩy cuộc chiến tranh xâm lược của mình với
khẩu hiệu “chiến tranh đến toàn thắng”. Họ nuôi hy vọng với sự tiếp diễn của chiến
tranh không chỉ đưa lại lợi nhuận cho giai cấp tư sản, mà quan trọng hơn là nhờ
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 18
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
chiến tranh để tiêu diệt lực lượng cách mạng và chấm dứt tình trạng hai chính quyền
song song tồn tại trong nước.
Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền và củng cố sức mạnh chính quyền của
giai cấp tư sản được sự ủng hộ ngấm ngầm (trong thời gian đầu), nhưng rất quyết
liệt của các đảng thỏa hiệp Xã hội Cách mạng và Mensêvích. Các đảng thỏa hiệp đã
tuyên truyền, lừa bịp rằng chế độ Nga hoàng đã bị lật đổ, tức là cách mạng đã kết
thúc, mục tiêu đặt ra cho cách mạng đã đạt được, do đó không cần thiết phải chuyển
sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Và vì, cách mạng đã giành được thắng lợi tính
chất của cuộc chiến tranh cũng thay đổi, nó không còn mang tính chất đế quốc chủ
nghĩa nữa. Các đảng thỏa hiệp kêu gọi nhân dân hãy “bảo vệ tổ quốc”. Để che giấu
sự phản bội của mình, Đảng Mensêvích (MSV) và Xã hội cách mạng hứa sẽ tổ chức
việc kiểm soát các hoạt động của chính phủ tư sản và đưa công thức “vì – cho nên”:
“vì” Chính phủ sẽ giải quyết những nhiệm vụ cách mạng “cho nên” cần ủng hộ
Chính phủ; nếu Chính phủ quay lại chế độ cũ thì phê bình Chính phủ nhưng bất cứ
trong trường hợp nào cũng không được lật đổ Chính phủ.
Có thể nói, sau Cách mạng tháng Hai, Đảng Bônsêvích đứng trước một thực tế
chưa từng có trong lịch sử, đó là sự tồn tại hai chính quyền song song. “Không phải
mỗi một lúc mà tất cả mọi người đều hiểu rõ ngay ý nghĩa giai cấp và vai trò của
các Xô viết. Cần phải tổ chức hành triệu quần chúng lại, cần phải vạch trần chính
sách của Chính phủ tư sản lâm thời và vai trò phản bội của bọn thỏa hiệp. Không
phải ngay một lúc mà toàn Đảng đều hiểu rõ những nhiệm vụ vô cùng lớn lao đó”
với chủ nghĩa vệ quốc cách mạng”. Người chỉ rõ: “Giai cấp vô sản giác ngộ chỉ có
thể tán thành một cuộc chiến tranh cách mạng nào thực sự biện hộ cho chủ nghĩa
vệ quốc cách mạng với điều kiện là: a) Chuyển chính quyền vào tay giai cấp vô sản
và những bộ phận nông dân nghèo đi theo giai cấp vô sản; b) Từ bỏ thật sự, chứ
không phải trên lời nói, tất cả các cuộc thôn tính; c) Hoàn toàn đoạn tuyệt thật sự
với tất cả các lợi ích của tư bản”[14,tr.137]. Lênin cho rằng, hiện tại ở nước Nga có
một bộ phận quần chúng khá rộng rãi đang ủng hộ chủ nghĩa vệ quốc cách mạng và
thừa nhận chiến tranh, vì họ thấy cần thiết chứ không phải vì mục đích xâm lược, và
quan trọng hơn là họ đang bị giai cấp tư sản lừa gạt. Cho nên nhiệm vụ của Đảng
Bôn sê vích và giai cấp vô sản cách mạng “cần phải giải thích một cách đặc biệt tỉ
mỉ, kiên trì, nhẫn nại để họ thấy được sai lầm của họ, phải giải thích cho họ hiểu
mối quan hệ khăng khít giữa tư bản và chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, phải chứng
minh cho họ thấy rằng nếu không đánh đổ được tư bản, thì không thể chấm dứt
được chiến tranh bằng một hòa ước thật sự dân chủ, không có tính chất cưỡng bức.
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 20
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
Tổ chức tuyên truyền hết sức rộng rải quan điểm ấy trong quân đội đang chiến đấu.
Bắt tay thân thiện giữa các binh sĩ đang giao chiến” [14,tr.137].
Vấn đề cơ bản của cách mạng xã hội là vấn đề giành chính quyền. Tình hình
nước Nga sau Cách mạng tháng Hai là sự tồn tại hai chính quyền song song. Theo
Lênin, “Tình trạng hai chính quyền song song tồn tại chỉ phản ánh một thời kỳ quá
độ trong sự phát triển của cách mạng, khi cuộc cách mạng này đã vượt quá khuôn
khổ của một cuộc cách mạng dân chủ tư sản thông thường, nhưng vẫn chưa đạt
được chuyên chính “thuần túy” của giai cấp vô sản và nông dân”[14,tr.188]. Trên
cơ sở thực tiễn của nước Nga, đặc biệt với nhãn quan chính trị thông thái, Lênin đã
giải thích nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng hai chính quyền song song tồn tại
sau cách mạng tháng Hai. Trước cách mạng, nước Nga bị “mê muội” về chính trị,
bị đè bẹp “dưới cái ách kinh khủng” của chế độ Nga hoàng, đến khi cách mạng
bùng nổ thì “hàng triệu và hàng chục triệu người đã thức tỉnh và hướng về chính
sản cơ hội chủ nghĩa. Người đề nghị Đảng Bônsêvích phải “giải thích cho quần
chúng hiểu rõ rằng chỉ có Xô viết đại biểu công nhân mới là hình thức chính phủ
cách mạng duy nhất có thể thừa nhận được, và do đó, chừng nào mà chính phủ đó
còn chịu ảnh hưởng của giai cấp tư sản, thì nhiệm vụ của chúng ta chỉ có thể là
giải thích một cách nhẫn nại, có hệ thống, kiên trì, đặc biệt thích hợp với nhu cầu
thực tiễn của quần chúng, thấy rõ những sai lầm trong sách lược của họ”
[14,tr.138].
Sau khi vạch ra phương châm đưa cách mạng tư sản dân chủ phát triển lên
cách mạng XHCN và chỉ rõ động lực của cuộc cách mạng mới, Lênin đã xác định
hình thức tổ chức chính quyền về mặt chính trị. Mầm móng của Nhà nước mới đó là
Công xã Pari và các Xô viết. Lênin khẳng định đó là Nhà nước của công nhân, cố
nông và nông dân, chứ không phải là nhà nước tư sản. Trong nhà nước này phải
thực hiện việc thay thế quân đội thường trực bằng vũ trang toàn dân, tức là “bãi bỏ
cảnh sát, quân đội và quan lại”[14,tr.138]. Người chứng minh rằng, các Xô viết là
tổ chức quần chúng cách mạng của đa số nhân dân, dân chủ hơn bất kỳ một nghị
viện nào, các Xô viết đảm bảo cho quần chúng nhân dân có thể tham gia trực tiếp và
tích cực vào việc xây dựng toàn bộ sinh hoạt nhà nước từ dưới lên trên. Đó là một
phát kiến khoa học vĩ đại, nó làm phong phú thêm học thuyết mác xít về chuyên
chính vô sản.
Từ sự xác định phương hướng phát triển, sự sắp xếp lực lượng đồng minh của
giai cấp vô sản và kẻ thù của cách mạng, Lênin đã đề ra khẩu hiệu có ý nghĩa chiến
lược quan trọng nhất: “Toàn bộ chính quyền về tay các Xô viết”. Đúng như nhận
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 22
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Lê Văn Anh
xét của I.V.Xtalin: “…theo khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các Xô viết”,
bằng cách đấu tranh để biến các Xô viết, từ các cơ quan động viên quần chúng
thành những cơ quan khởi nghĩa, thành những cơ quan chính quyền, thành bộ máy
của một nhà nước vô sản mới” [38,tr.117]. Khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay
các Xô viết” không có nghĩa là loại các bộ trưởng tư sản ra khỏi chính phủ và đưa
chiếm đa số trong các Xô viết đại biểu công nhân và binh lính. Giai đoạn thứ hai,
cuộc đấu tranh sẽ diễn ra trong nội bộ các Xô viết đại biểu nhằm thay thế các đảng
thỏa hiệp bằng những người Bônsêvích. Do bản chất thỏa hiệp, dao dộng, các đảng
thỏa hiệp sẽ không đáp ứng các yêu cầu chính đáng của nhân dân về: hòa bình, tự
do, bánh mì, ruộng đất; thực hiện những chính sách có lợi cho giai cấp tư sản. Quần
chúng nhân dân sẽ không còn tín nhiệm đối với họ nữa. Bằng kinh nghiệm chính trị
của những người Bônsêvích, quần chúng sẽ không còn ảo tưởng đối với các đảng
thỏa hiệp, thấy rõ bản chất của chúng, cuối cùng sẽ thay thế chúng bằng những đại
biểu của Đảng Bônsêvích. “Như vậy là cách mạng sẽ diễn ra bằng phương pháp
hòa bình, nền chuyên chính dân chủ cách mạng của giai cấp công nông sẽ chuyển
thành nền chuyên chính xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản”[35,tr.136].
Trong điều kiện nước Nga sau cách mạng tháng Hai, khi những người cách
mạng đang đứng trước ngã ba đường chưa tìm ra con đường thích hợp để tiếp tục
đẩy cách mạng tiến lên, thì Luận cương tháng Tư của Lênin có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng. Luận cương tháng Tư trở thành cương lĩnh chiến đấu của toàn đảng BSV và
giai cấp công nhân cách mạng. Luận cương là bó đuốc soi đường cho Đảng BSV và
giai cấp công nhân Nga nhanh chóng chuyển sang con đường mới, triển khai mạnh
mẽ cuộc đấu tranh vì sự thắng lợi của cách mạng XHCN.
2.2. Hình thức đấu tranh chính trị trong Cách mạng xã hội chủ nghĩa
tháng Mười Nga (từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1917)
Dưới ánh sáng của Luận cương tháng Tư, Đảng Bônsêvích đẩy mạnh phong
trào đấu tranh của quần chúng. Trong khi đó, chính phủ Lâm thời vẫn chủ trương
tiếp tục cuộc chiến tranh, làm cho dân chúng phẫn nộ. Các cuộc đấu tranh đình
công, bãi công biểu tình của quần chúng lại lan rộng.
Như đã trình bày ở trên, đường lối của Đảng sau Cách mạng tháng Hai là kiên
nhẫn giải thích chính sách Bônsêvích tố cáo hành động của các Đảng Mensêvích và
Xã hội cách mạng để cô lập những đảng này trong quần chúng và để chiếm đa số
trong các Xô viết.
Ngoài sự hoạt động trong các Xô viết, những người Bônsêvích còn hoạt động
trong các công đoàn, trong các ủy ban nhà máy, đặc biệt trong quân đội. Những tổ
Cuộc biểu tình tháng Tư ở Pêtrôgrat đã đóng góp mạnh mẽ vào việc giác ngộ ý
thức giai cấp cho quần chúng ở những trung tâm công nghiệp khác trong nước. Giai
cấp vô sản ở Mátxcơva hưởng ứng những sự kiện ở Pêtrôgrat bằng một cuộc biểu
tình đoàn kết. Một nhân viên sở An ninh Mátxcơva đã miêu tả những ngày tháng Tư
SVTH: Võ Thị Hạnh - Sử 4A 25