Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KỸ THUẬT
GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU KHI XÂY DỰNG NỀN
ĐƯỜNG ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU TẠI KHU VỰC QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG ÔTÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ
Thành Phố Hồ Chí Minh – 2014
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1.Tính cấp thiết của đề tài 6
2.Mục êu nghiên cứu của đề tài 7
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.Phương pháp nghiên cứu 7
5.Kết cấu của luận văn: nội dung đề tài bao gồm: 7
6.Độ n cậy của đề tài 8
Đề tài dùng số liệu địa chất của các công trình có quy mô lớn đã hoàn thành đưa vào khai thác, sử
dụng các phương pháp Dnh ổn định và Dnh lún nền đường đất yếu theo phần mềm phổ biến hiện
nay đồng thời áp dụng theo quy trình thiết kế hiện hành. Kết quả Dnh toán có so sánh với các dự
án đã hoàn thành nên có thể đủ độ n cậy 8
7.Ý nghĩa khoa học và thực ễn của đề tài 8
Đề tài xây dựng được 03 giải pháp ứng với 03 loại đặc điểm địa hình - địa chất đặc trưng cho khu
vực xây dựng nền đắp trên địa bàn quận 7 8
Bước đầu lựa chọn chiều dài cọc gia cố xi măng, giếng cát hợp lý cho từng giải pháp 8
CHƯƠNG 1 9
TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM KHAI THÁC
CỦA CÁC TUYẾN ĐƯỜNG ĐÃ VÀ SẼ ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN KHU
2.2.2.Thoát nước cố kết theo phương thẳng đứng (sử dụng bấc thấm, giếng cát) 33
2.2.2.1.Giếng cát: 35
2.2.2.2.Bấc thấm: 37
2.2.3.Cố kết hút chân không 39
2.2.3.1.Ưu điểm 40
2.2.3.2.Nhược điểm 40
2.2.3.3.Giá thành 40
2.2.4.Gia cố nền đất yếu bằng cọc đất gia cố vôi hoặc xi măng 40
2.2.4.1.Ưu điểm: 43
2.2.4.2.Nhược điểm 43
2.2.5.Cải tạo đất bằng cọc vật liệu rời 44
2.2.5.1.Khái niệm chung 44
2.2.5.2.Những phương pháp thi công cọc vật liệu rời 46
2.2.5.3.Độ lún của cọc vật liệu rời 51
2.2.5.4.Triển vọng của việc sử dụng vật liệu rời 52
2.3.Một số công trình đã áp dụng biện pháp xử lý đất yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh 53
2.4.KẾT LUẬN CHƯƠNG 2: 57
CHƯƠNG 3 57
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ ĐẤT YẾU Ở KHU VỰC QUẬN 7 - TP. HỒ
CHÍ MINH 58
3.1.Kiểm toán ổn định trượt và biến dạng lún của nền đường khi chưa xử lý 58
Trang 3
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
3.2.Tính toán và so sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật của các giải pháp 62
3.2.1.Vùng địa chất 1: 63
3.2.1.1Thay một phần đất yếu kết hợp với vải địa kỹ thuật gia cường 63
3.2.1.2Xử lý đất yếu bằng phương pháp giếng cát: 64
3.2.1.2.1Tính toán với chiều cao đắp 2m, chiều sâu đất yếu 5m, chiều dài giếng cát 5m 64
3.2.1.2.2Tính toán với chiều cao đắp 2m, chiều sâu đất yếu 8,5m, chiều dài giếng cát 8,5m 65
3.2.1.2.3Tính toán với chiều cao đắp 2m, chiều sâu đất yếu 12m, chiều dài giếng cát 12m 66
3.2.3.1Xử lý đất yếu bằng phương pháp cọc gia cố xi măng 75
3.2.3.2Xử lý đất yếu bằng phương pháp giếng cát: 78
3.2.3.3Khái toán chi phí xây dựng của 2 giải pháp trên: 80
3.2.3.4Kiến nghị lựa chọn phương pháp 80
Qua Dnh toán trên tác giả nhận thấy: 80
+ Cả hai giải pháp đều đảm bảo về hệ số ổn định và độ lún cho phép 80
+ Giải pháp Cọc đất gia cố xi măng đạt hệ số ổn định cao, độ lún còn lại nhỏ, nhưng xét về mặt kinh
tế giải pháp cọc đất xi măng chi phí lớn chỉ thích hợp với các công trình có Dnh cấp thiết và quan
trọng cần thông xe ngay 80
+ Giải pháp giếng cát mặc dù thi công lâu nhưng giảm được một lượng chi phí đáng kể 81
Chính vì vậy đối với Vùng địa chất 3, tác giả kiến nghị lựa chọn giải pháp giếng cát 81
Qua Dnh toán sơ bộ tác giả cũng nhận thấy chỉ nên dùng cọc đất gia cố xi măng khi tuyến đường
chiều cao đất đắp lớn như ở khu vực quận 2 có chiều cao đất đắp lớn hơn 5m 81
3.3.Đề xuất giải pháp xử lý hợp lý khi xây dựng đường ô tô đắp trên đất yếu khu vực quận 7 –
TP.HCM 82
Qua Dnh toán với đường cấp IV, Bề rộng đường = 30m, Chiều cao đắp 2m ứng với 3 vùng địa chất,
tác giả đã tổng hợp: 82
82
Đề xuất giải pháp xử lý hợp lý khi xây dựng đường ô tô đắp trên đất yếu khu vực quận 7 như sau:
82
CHƯƠNG 4 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
4.1.Kết luận: 85
4.2.Kiến nghị: 87
4.3.Đối với việc triển khai áp dụng kết quả đề tài: 88
Trang 5
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trên lưu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Q7, chiều cao đắp trung bình khu vực quận 7 với điều kiện địa chất yếu thì đâu
là giải pháp đạt hiệu quả được lẫn kinh tế, kỹ thuật và thi công. Những đặc điểm
chung nhất cũng như những giải pháp xử lý nền đất đã được áp dụng ở các dự
án trước để đề xuất được các giải pháp xử lý hợp lý với điều kiện địa chất và
chiều cao đắp cũng như tính chất, qui mô xây dựng công trình là đề tài có tính
khoa học và thực tiễn cấp thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Rà soát lại các giải pháp xử lý đất yếu dưới nền đắp để lựa chọn giải pháp
phù hợp nhất với điều kiện khu vực, có những hiệu chỉnh thích đáng đối với
biện pháp xử lý;
Đề xuất giải pháp xử lý hợp lý khi xây dựng đường ôtô đắp qua đất yếu
với điều kiện địa chất khu vực Q7 Tp. Hồ Chí Minh, sẽ góp phần nhanh chóng
lựa chọn phương án xử lý hợp lý, cũng đồng nghĩa với việc rút ngắn được quá
trình chuẩn bị đầu tư cho một dự án đầu tư xây dựng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu điều kiện địa chất, các công trình thiết kế cấp IV trở lên và
đánh giá hiệu quả kinh tế kỹ thuật để đưa ra các giải pháp xử lý nền đất yếu
trong xây dựng đường ôtô trên địa bàn Q7 Tp. Hồ Chí Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lý thuyết, kết hợp với số
liệu thống kê thực tế và tính toán. Dựa vào các công trình đã và đang được triển
khai để phân tích, đánh giá, trên kết quả đó để đưa ra những giải pháp xử lý khi
xây dựng đường ôtô đắp trên đất yếu phù hợp với điều kiện cụ thể của khu vực
nghiên cứu.
5. Kết cấu của luận văn: nội dung đề tài bao gồm:
Phần mở đầu: Nêu tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Trang 7
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
Chương 1: Tổng quan điều kiện địa chất và đặc điểm khai thác của các công
trình đã và đang được xây dựng trên khu vực Q7 – TP. Hồ Chí Minh.
VỰC Q7 – TP. HỒ CHÍ MINH.
1.1. Đặc điểm địa chất TP. Hồ Chí Minh.
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích
Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt.
Trầm tích Pleixtoxen (trầm tích phù sa cổ): chiếm hầu hết phần phía Bắc,
Tây Bắc và Ðông Bắc thành phố, gồm phần lớn các huyện Củ Chi, Hóc môn,
Bắc Bình Chánh, quận Thủ Ðức, Bắc - Ðông Bắc quận 9 và đại bộ phận khu
vực nội thành cũ.
Ðiểm chung của tướng trầm tích này, thường là địa hình đồi gò hoặc lượn
sóng, cao từ 20-25m và xuống tới 3-4m, mặt nghiêng về hướng Ðông Nam.
Dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên như sinh vật, khí hậu, thời
gian và hoạt động của con người, qua quá trình xói mòn và rữa trôi , trầm tích
phù sa cổ đã phát triển thành nhóm đất mang những đặc trưng riêng. Nhóm đất
xám, với qui mô hơn 45.000 ha, tức chiếm tỷ lệ 23,4% diện tích đất thành phố.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc
màu; đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu
chiếm phần lớn diện tích. Ðất xám nói chung có thành phần cơ giới chủ yếu là
cát pha đến thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy nơi và tùy
mùa biến động sâu từ 1-2m đến 15m. Ðất chua, độ pH khoảng 4,0-5,0, đất xám
tuy nghèo dinh dưỡng, nhưng đất có tầng dày, nên thích hợp cho sự phát triển
của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp, có khả năng cho năng suất và hiệu
qủa kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh, thâm canh tốt. Nền đất xám,
phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng cơ bản.
Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh,
trầm tích này có nhiều nguồn gốc-ven biển, vũng vịnh, sông biển, aluvi lòng
Trang 9
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
sông và bãi bồi nên đã hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa
có diện tích 15.100 ha (7,8%), nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn
mặn (45.500 ha (23,6). Ngoài ra có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha
Nhà Bè và hầu như toàn bộ huyện Cần Giờ. Theo độ mặn và thời gian ngập
mặn, nhóm đất mặn được chia làm hai loại: đất phèn mặn theo mùa và đất phèn
mặn Thường xuyên (còn gọi là đất mặn dưới rừng ngập mặn).
Ðất phèn mặn theo mùa có diện tích 10.500 ha, phân bố ở Nhà Bè và bắc
huyện Cần Giờ. Thời gian bị mặn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6 hoặc tháng 7
năm sau. Ðất thịt, giàu mùn, chứa nhiều xác hữu cơ dưới môi trường yếm khí,
chất dinh dưỡng khá; phản ứng của đất từ chua đến rất chua, pH ở độ sâu tầng
sinh phèn xuống tới 2,4-2,7. Tuy nhiên, về mùa lũ, mặn bị đẩy ra xa và nước
được pha loãng trong thời gian dài 4-5 tháng; đồng thời đất có lớp phủ phù sa
dày tới 20-30 cm.
Ðất mặn dưới rừng ngập mặn: Loại đất này rộng 35.000 ha, chiếm phần
lớn diện tích huyện Cần Giờ. Ðất thịt trung bình, màu xám đen, nhiều mùn nhão
lẫn xác hữu cơ bán phân giải, bị ngập triều thường ngày, nói chung đất còn ở
dạng bùn lỏng chưa cố định, giàu chất dinh dưỡng, độ pH tầng đất trên 5,8-6,5.
Ðất ngập mặn, phù hợp với duy trì và phát triển các loại cây rừng ngập mặn,
nhằm giữ bờ lấn biển, bảo vệ môi trường cảnh quan, phục vụ phát triển du lịch
sinh thái và nuôi dưỡng hệ sinh thái giàu tiềm năng ở vùng ven biển phía nam
của thành phố.
Nhược điểm chung của hai loại đất phèn mặn là nền đất yếu, nhất là đất
phèn mặn thường xuyên; do đó có mặt hạn chế trong xây dựng cơ bản, phát
triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên, lại rất thuận lợi đối với phát triển giao
thông đường thủy, bởi hệ thống sông rạch tự nhiên mật độ rất dày, chiếm tới
gần 1/3 diện tích lãnh thổ của cả nhóm đất.
1.2. Đặc điểm và phân vùng địa chất ở khu vực Q7.
Dựa vào hình trụ hố khoan của các công trình tham khảo ở khu vực quận
7: Đường nối Khu A Nam Sài Gòn đến cầu Phú Mỹ [1], Sữa chữa Nâng cấp
đường Nguyễn Thị Thập[2], Xây dựng mới Đường và Cầu Tân Thuận[3], Xây
Trang 11
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
dựng trục Bắc Nam[4], Cầu Phú Mỹ - đường đầu cầu …. trong phạm vi độ sâu
1,7 – 1,95
g/cm3
1,8 – 2,4
g/cm3
- Dung trọng khô
(g/cm3)
0,7 – 0,98
g/cm3
1,6 – 1,8
g/cm3
1.15 – 1.60
g/cm3
1,35 – 1,70
g/cm3
- Giới hạn chảy WL 60 – 90% 20 – 30% 40 – 60% 20 – 40%
Trang 12
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
(%)
- Giới hạn dẻo Wp
(%)
20 – 50 % 10 – 20 % 15 – 40 % 15 – 30 %
- Chỉ số dẻo Ip (%) 20 – 60 10 – 15 20 – 40 % 8 – 16 %
1.2.2. Phân vùng địa chất đất yếu công trình:
Đề tài tiến hành phân vùng đất yếu phân chia khu vực Quận 7 ra các khu
vực có đặc điểm tương đồng về loại đất yếu. Nguyên tắc phân chia dựa trên sự
đồng nhất của đơn vị địa mạo theo nguyên tắc nguồn gốc hình thái (vùng địa
chất) cũng như sự đồng nhất về thạch học, và trật tự cấu trúc của các phức hệ
thạch học (khu địa chất) và các số liệu thu thập được từ các lỗ khoan địa chất.
Địa chất quận 7 có thể chia làm 3 vùng:
Bảng 1.2 Phân vùng địa chất:
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
Hình 1.2 Mặt cắt địa chất 03 vùng
Trang 15
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
1.3. Đặc điểm khai thác của các tuyến đường đã và sẽ được xây dựng trên
khu vực Q7.
1.3.1. Đặc điểm khai thác của tuyến đường đã được xây dựng trên khu vực
quận 7
Đường Nguyễn Văn Linh
+ Quy mô mặt cắt ngang:
Lộ giới đường: 120m;
Số làn xe: 10 làn xe;
Giải phân cách ở giữa rộng 18 – 36m.
+ Mặt đường: láng nhựa.
+ Tải trọng trục 120 kN.
+ Chiều cao đắp trung bình 2-3m.
+ Chiều sâu đất yếu: 20m.
Đường Nguyễn Hữu Thọ
+ Quy mô mặt cắt ngang:
Lộ giới đường: 14m,
Số làn xe: 4 làn xe
+ Mặt đường: Bê tông nhựa
+ Tải trọng trục 120 kN.
+ Chiều cao đắp trung bình 1-1,5m.
+ Chiều sâu đất yếu: 10m
Đường Nguyễn Thị Thập[2]
+ Quy mô công trình:
Loại công trình : Đường trong đô thị.
Cấp công trình : cấp II.
Chiều rộng vỉa hè : 8.0m
Tổng cộng 25.0m
+ Đoạn từ nút giao Nguyễn Hữu Thọ – trục Bắc Nam đến đường Nguyễn
Văn Linh (theo quy hoạch đường Nguyễn Hữu Thọ, lộ giới 60m):
Chiều rộng mặt đường chính (giữa) : 6 làn
Chiều rộng dải phân cách giữa : 3.0m
Chiều rộng mặt đường nội bộ (bên) : 4 làn
Chiều rộng dải phân cách bên : 4.0m
Chiều rộng vỉa hè : 14.0m
Tổng cộng 60.0m
Trang 17
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
1.4. Quy hoạch của khu vực quận 7 đến năm 2020
Xây dựng khép kín đường vành đai 2 với tổng chiều dài 65 km theo các
trục và các điểm khống chế: Ngã ba Gò Dưa - Ngã tư Bình Phước - Ngã tư An
Sương - cắt đường Đông-Tây - đường Nguyễn Văn Linh - cầu Phú Mỹ - cắt
đường cao tốc Sài Gòn - Long Thành-Dầu Giây - ngã tư Bình Thái-đường Kha
Vạn Cân - Ngã ba Gò Dưa thành đường đô thị cấp I 8-10 làn xe, chiều rộng
120m, trong đó đoạn đã có tuyến đạt tiêu chuẩn là 38,5 km, đoạn đã có tuyến
nhưng chưa đạt tiêu chuẩn là 5,5 km và đoạn chưa có tuyến là 21,5km.
Xây mới đường Bắc-Nam đoạn Nguyễn văn Linh - khu công nghiệp Hiệp
Phước đến ranh Long An dài 16,5 km thành đường 6 làn xe, rộng 60 m.
Mở rộng đường Lê Văn Lương thành 6 làn xe lộ giới 35m, mở rộng
đường Nguyễn Hữu Thọ thành 10 làn xe lộ giới 60m. Xây dựng Đoạn tuyến
làm mới từ Cầu Long Kiểng đến đường Nguyễn Hữu Thọ.
Theo Thông báo số 817/TB-SGTVT của Sở giao thông vận tải ngày
29/12/2010: quy mô đường trục Bắc – Nam đoạn qua địa bàn quận 4, quận 7 tối
thiểu 10 làn xe và đang được triển khai.
Tuyến metro số 4 chạy từ quận 12 đến đại lộ Nguyễn Văn Linh, quận 7,
dài 24km (19km đi ngầm và 5 km đi trên cao), có 20 ga (15 ga ngầm và 5 ga
2.1.1. Đắp nền theo từng giai đoạn
Khi cường độ ban đầu của nền đất yếu rất thấp, để đảm bảo cho nền đường
ổn định cần áp dụng biện pháp tăng dần cường độ của nó bằng cách đắp đất từng
lớp một, chờ cho đất nền cố kết, sức chịu tải tăng lên, có khả năng chịu được tải
trọng lớn hơn thì mới đắp lớp đất tiếp theo.
Đắp trực tiếp trên đất yếu chỉ đảm bảo ổn định khi chiều cao đất đắp (bao
gồm cả phần đắp dự phòng lún) ≤ chiều cao đắp giới hạn Hgh. Do vậy để áp
dụng được giải pháp này phải tính dự báo độ lún tổng cộng và phải xác định
được Hgh tuỳ thuộc vào sức chống cắt ban đầu và bề dày tầng đất yếu.
Để xác định Hgh một cách nhanh chóng ngoài việc sử dụng các chương
trình tính toán ổn định đã được lập sẵn như Geo - Slope rất nhiều các tác giả
đã tính và lập sẳn các toán đồ tiện dụng để tra Hgh tuỳ theo các yếu tố nói trên
(toán đồ Taylor, Madel Salencom ). Rõ ràng khi chiều cao đất đắp cao và độ
lún lớn thì không thể đắp trực tiếp được.
Trang 21
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
Hình 2.1. Giải pháp đắp nền đường đầu cầu theo từng giai đoạn
Đắp dần theo giai đoạn (vừa đắp vừa chờ) là lợi dụng tối đa quảng thời gian
thi công cho phép để tăng chiều cao đất đắp trực tiếp lên trị số Hgh. Theo cách
này đất đắp đến Hgh gọi là giai đoạn I, tiếp đó duy trì tải trọng đắp trong một
thời gian t1 nhất định để chờ đất yếu phía dưới cố kết (tức là chờ cho sức chống
cắt của đất yếu tăng thêm theo mức độ cố kết đạt được trong thời gian t1) nhờ đó
có thể tăng chiều cao đắp lên đến HghII (chiều cao đắp giới hạn sau khi đắp đến
Hgh và chờ một thời gian t1). Đến đây lại có thể chờ để đắp giai đoạn III lên
HghIII. Trong quá trình đắp để tăng độ an toàn thi công nhiều tư vấn nước ngoài
đã khống chế tốc độ đắp trung bình là 5cm/ngày trong một số xây dựng qua
vùng đất yếu của nước ta.
Giải pháp này rõ ràng bị khống chế bởi thời gian chờ cho phép phụ thuộc
vào cách tính toán dự báo cố kết U=f(t))
2.1.2. Đắp bệ phản áp
được nhỏ quá (thường từ 2 ÷ 3m) và thời gian duy trì tải trọng đắp thêm này ít
nhất là 6 tháng. Phần đắp gia tải trước không cần đầm nén và có thể dùng cả đất
xấu lẫn hữu cơ.
Khi áp dụng giải pháp này cần đặc biệt chú ý kiểm toán sự ổn định của nền
đắp khi có thêm tải trọng đắp gia tải trước và theo dõi khống chế tốc độ đắp
phần đắp gia tải trước, nếu không rất dễ xảy ra mất ổn định trong quá trình đắp
gia tải trước khi chiều cao đắp tổng cộng vượt quá chiều cao đắp giới hạn Hgh.
Do đó giải pháp đắp gia tải trước cũng thường được kết hợp với giải pháp bệ
phản áp.
Gia tải phải phù hợp với điều kiện ổn định của nền đắp. Phương pháp này
chỉ nên dùng khi chiều cao tới hạn cao hơn nhiều so với chiều cao thiết kế.
Hình 2.3. Giải pháp gia tải nền đường đắp cao đầu cầu
2.1.4. Nền đắp nhẹ
Nền đắp nhẹ là giải pháp giảm trọng lượng nền đắp tác dụng lên đất yếu. Có
thể sử dụng hai cách sau đây:
- Giảm chiều cao nền đắp đến trị số tối thiểu cho phép căn cứ vào điều kiện
địa chất thủy văn (đảm bảo chiều cao tối thiểu của nền đường cũng như chiều
cao tối thiểu trên mực nước tính toán theo quy phạm). Nếu là nền đường ở bãi
sông có thể giảm mực nước dâng bằng cách tăng khẩu độ cầu.
Trang 24
Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật
- Dùng vật liệu nhẹ để đắp nền đường: sử dụng các vật liệu đắp có trọng
lượng thể tích nhỏ thì có thể loại trừ các yếu tố bất lợi ản hưởng đến sự ổn định
của nền đắp cũng như giảm nhỏ độ lún.
Hiện nay ở các nước thường dùng:
- Tro bay của nhà máy nhiệt điện để đắp nền trên đất yếu. Để dễ đầm nén nên
ung loại tro bay cỡ hạt từ 0,001 ÷ 2mm, trong đó lượng hạt < 0,074mm nên
chiếm dưới 45% và phải có lượng tổn thất khi nung là dưới 12%, loại này
thường có dung trọng khô là 0,9 ÷ 1,2T/m3 (tỉ trọng 2,1 ÷ 2,2T/m3); lực dính và
góc nội ma sát theo kết quả cắt phẳng tương ứng độ chặt 95% ở trạng thái bão