Đánh giá chính sách kích cầu của Việt Nam - Pdf 24

Đề tài: Đánh giá chính sách kích cầu
của Việt Nam
1. MỞ ĐẦU:
Năm 2008 thế giới đã rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ
nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933. Cuộc khủng hoảng này khởi đầu
bằng cuộc khủng hoảng cho vay địa ốc dưới chuẩn ở Mỹ, nhưng lý do sâu xa
của nó là sự mất cân bằng quốc tế của các khu vực kinh tế trụ cột trên thế giới
và những vấn đề nội tại của hệ thống ngân hàng Mỹ và châu Âu. Cuộc khủng
hoảng ở Mỹ lan rộng và đẩy nền kinh tế thế giới rơi vào cuộc suy thoái toàn
cầu. Mỹ, châu Âu và Nhật Bản lần lượt rơi vào suy thoái.
Đối với nền kinh tế Việt Nam: một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào
nền kinh tế khác và phụ thuộc nhiều vào đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nên
rơi vào khủng hoảng là điều không thể tránh khỏi. Năm 2007 tốc độ tăng
trưởng Việt Nam là 8,46%, năm 2008 giảm xuống còn 6,31%. Cụ thể là trong
nước sản xuất đình đốn, đầu tư tăng thấp, tiêu dùng có dấu hiệu chậm lại, tình
trạng thất nghiệp gia tăng nhanh…Trước tình hình này, nhà nước phải đưa ra
biện pháp để giải quyết. Một là kích cầu và phải đương đầu với tình hình lạm
phát gia tăng, hai là không làm gì cả nhưng sự chờ đợi sẽ rất lâu và sự hồi
phục có thể không xảy ra. Và chính sách kích cầu được đánh giá nhanh và
phù hợp trong thời điểm hiện tại.
1 | P a g e
2. CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU VIỆT NAM NĂM 2009
Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ (hay còn
gọi là tiêu dùng công cộng), từ đó gia tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng
kinh tế.
2.1 Giới thiệu chính sách kích cầu của Việt Nam 2009:
Trong năm 2009, chính phủ Việt Nam đã thực hiện biện pháp kích cầu
thông qua chính sách hỗ trợ lãi suất 4% đối với các doanh nghiệp, các
chương trình miễn, giảm và giãn thuế, bảo lãnh cho các doanh nghiệp, ngân
hàng thương mại…
Ngày 12/5/2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố chính thức về gói

vực đều có chuyển biến rõ nét. GDP khu vực công nghiệp và xây dựng năm
2009 tăng 5,4%; khu vực dịch vụ tăng 6,5% so với thời kỳ trước khủng
hoảng.
Ba, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2009 đạt khoảng 68,8 tỷ
USD, giảm 14,7% so với năm 2008. Trong đó khối doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài đạt 24,87 tỷ USD, chiếm 36,1% tổng kim ngạch nhập khẩu của
cả nước, giảm 10,8% so với năm 2008, khối doanh nghiệp 100% vốn trong
nước đạt khoảng 43,96 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 63,9% , giảm 16,8% so với
năm 2008. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2009 đạt khoảng 56,6 tỷ
USD bằng 87,6% so với kế hoạch. Xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài vẫn giữ vị trí quan trọng. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tham gia xuất khẩu hầu hết các mặt hàng chủ lực và chiếm tỷ trọng cao trong
xuất khẩu nhiều mặt hàng, đặc biệt là nhóm hàng công nghiệp chế biến.
Bốn, các cân đối và chỉ số kinh tế vĩ mô, như thu chi ngân sách, tiền tệ,
tín dụng, cán cân thanh toán quốc tế tương đối ổn định. Chỉ số lạm phát (chỉ
số giá tiêu dùng) ở mức thấp. Lạm phát đã giảm từ 19,9% năm 2008 xuống
còn 6,5% năm 2009. Chỉ số giá tháng 4 năm 2009 so với tháng 12 năm 2008
chỉ tăng 1,68%, cùng với lãi suất giảm và hỗ trợ lãi suất 4% năm vừa tạo
thêm thuận lợi giúp cho doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, phục hồi sản xuất,
vừa hỗ trợ cho việc phát triển ổn định và an toàn của hệ thống các tổ chức tín
dụng.
4 | P a g e
Biểu đồ 2: Chỉ số giá tiêu dùng theo tháng từ năm 2008 đến 2012
Nguồn: Tổng cục thống kê
Năm, trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng
và động lực của sự phát triển xã hội cả hiện tại, cũng như tương lai.
Sáu, nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kịp thời của “gói kích
cầu” đã có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng sản xuất, từ đó góp phần giảm
bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội, tiếp tục hướng vào xoá đói

trợ lãi suất của các doanh nghiệp không đồng đều.
6 | P a g e
Bốn, gói hỗ trợ lãi suất 4% có thể dẫn đến sự suy giảm khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam do chi phí vốn không được tính đúng
và đầy đủ.
Năm, gói kích cầu không đáp ứng hoàn toàn 3 yêu cầu: kịp thời, đúng
đối tượng và vừa đủ (ngắn hạn). Mặc dù gói kích cầu được chính phủ kịp thời
đưa ra nhưng tình hình triển khai còn chậm do vấn đề thủ tục hành chính.
Việc chậm triển khai gói kích cầu có thể làm giảm hiệu quả của gói kích cầu.
Mặt khác, việc duy trì gói kích cầu trong dài hạn có thể làm suy yếu khả năng
cạnh tranh của nền kinh tế.
Sáu, toàn bộ qui trình kiểm tra, giám sát, theo dõi và đánh giá việc thực
hiện các giải pháp kích cầu đã không được thiết kế và vận hành một cách
đồng bộ. Do thiếu sự giám sát chặt chẽ dẫn đến các hành vi trục lợi có thể xảy
ra ngay tại các tổ chức tài chính.
Bảy, chính sách kích cầu không trực tiếp giúp giải quyết khó khăn lớn
nhất của các doanh nghiệp hiện nay là thiếu nhu cầu thị trường. Do tác động
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế thế giới đang suy thoái, làm
giảm mạnh cầu về hàng xuất khẩu. Sức mua giảm, khả năng tiêu thụ trong
nước đang suy giảm, hàng sản xuất ra tồn đọng.
Tám, số tiền cung ứng vào lưu thông tạo ra tiểm ẩn rủi ro lạm phát cao.
Với việc triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ cùng với chính sách nới lỏng tiền tệ
dẫn đến khối lượng tiền cung ứng vào nền kinh tế tăng ở mức cao, gây sức ép
tăng lạm phát là rất lớn.
2.3 Liên hệ chính sách kích cầu của một số nước đã, đang phát triển:
7 | P a g e
Trung Quốc và Mỹ chưa bao giờ thực hiện những chính sách giống
nhau. Xét về góc độ kinh tế, Trung quốc quá nặng về tiết kiệm, còn Mỹ
quá nặng về tiêu dùng. Có thể nói Trung Quốc và Mỹ luôn ở hai thái cực
đối ngược nhau như âm và dương.

phê duyệt.
Nội dung gói kích cầu 2:
 Hỗ trợ các doanh nghiệp để tạo thêm 2,5 triệu công ăn việc
làm thông qua một số biện pháp như cho các doanh nghiệp
nợ thuế khoảng 3000 USD đối với mỗi lao động thuê mới;
xóa bỏ thuế đối với lãi trên vốn cho các doanh nghiệp SME
(Vừa và nhỏ).
 Đầu tư vào công trình công cộng ( công nghệ cao, băng thông
rộng, y tế, đường xá, các tiện ích công cộng…).
 Hỗ trợ các gia đình khó khăn (giảm thuế cho các cá nhân và
gia đình), nâng cao bảo hiểm thất nghiệp.
 Hỗ trợ các chủ sở hữu nhà gặp khó khăn.
 Quỹ dự trữ chống khủng hoảng tài chính.
2.3.2 Chính sách kích thích kinh tế của Trung quốc:
Chính phủ Trung Quốc đã thông qua kế hoạch chi tiêu để kích thích
nền kinh tế trị giá 586 tỷ USD trong vòng hai năm.
9 | P a g e
Nội dung gói kích cầu:
 Xây dựng các chương trình hỗ trợ đối với nông dân.
 Cải thiện hệ thống phúc lợi xã hội.
 Tăng chi tiêu của chính phủ: chi cho khu vực Tứ Xuyên bị
động đất tàn phá; đầu tư vào giao thông vận tải.
 Tăng chi tiêu vào đào tạo dạy nghề.
 Tăng hoàn thuế xuất khẩu đối với một loạt mặt hàng, từ
những mặt hàng sử dụng nhiều lao động như dệt may, đến
những mặt hàng có giá trị cao như các mặt hàng điện tử.
 Khuyến khích các ngân hàng tăng cường cho vay đối với
khối doanh nghiệp nhỏ và vừa.
3. LIÊN HỆ TÌNH HÌNH VIỆT NAM HIỆN TẠI VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM:

Gói kích cầu thứ nhất đã mang lại một số hiệu quả nhất định như hỗ trợ
kịp thời các doanh nghiệp, giúp Việt Nam thoát khỏi nguy cơ suy thoái kinh
tế. Tuy nhiên cũng bộc lộ một số vấn đề như định hướng chính sách kích cầu
là không rõ ràng, gói kích cầu tạo sự cạnh tranh không lành mạnh, bất bình
đẳng giữa các doanh nghiệp dẫn đến sự suy giảm khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp. Từ những nhận định trên, Việt Nam cần rút ra bài học kinh
nghiệm cho mình:
11 | P a g e
o Chỉ nên đưa ra gói kích cầu khi thực sự cần thiết và duy trì trong
ngắn hạn nhằm tránh sự mất cân đối hàng tiền, vi phạm quy luật lưu
thông tiền tệ dẫn đến lạm phát.
o Cần phải có định hướng chính sách và mục tiêu kích cầu một cách
rõ ràng. Tránh sự nhầm lẫn giữa kích cầu và kích cung.
o Tập trung gói kích cầu hơn nữa vào các đối tượng dễ bị tổn thương
là người lao động thu nhập thấp và người nghèo. Tiến hành xây
dựng hệ thống an sinh xã hội, mà cụ thể là hệ thống bảo hiểm thất
nghiệp.
o Đối với doanh nghiệp nên sử dụng các biện pháp khuyến khích thuế
có thời hạn. Đối với các hạng mục chi tiêu của chính phủ, nên tập
trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế; tập trung vào các
công trình sử dụng nhiều lao động, có thể thực hiện được ngay, tiến
độ giải ngân sớm.
o Khi thực hiện chính sách kích cầu, cần phải đảm bảo rằng gói kích
cầu sẽ phát huy tác dụng, nhà nước cần có sự giám sát kiểm tra một
cách chặt chẽ việc thực hiện, sự phân bổ nguồn lực của gói kích
cầu, tránh sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp.
o Chính sách kích cầu chỉ mang tính giải cứu, hỗ trợ tạm thời để đưa
nền kinh tế thoát khỏi thời kì khủng hoảng nên khi nền kinh tế đã
vượt qua giai đoạn khó khăn và bước đầu ổn định thì nhà nước cần
có chính sách và biện pháp linh hoạt, dài hạn để đưa nền kinh tế

2.2.2 Tác động tiêu cực 4
2.3 Liên hệ chính sách kích cầu của một số nước đã, đang phát triển 5
2.3.1 Chính sách kích thích kinh tế của Mỹ 5
2.3.2 Chính sách kích thích kinh tế của Trung Quốc 6
3. LIÊN HỆ TÌNH HÌNH VIỆT NAM HIỆN TẠI VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM 7
3.1 Tình hình Việt Nam hiện tại 7
3.2 Bài học kinh nghiệm 7
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
15 | P a g e


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status