Luận văn: Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH ôtô hoa mai - Pdf 24

Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn lưu động là một bộ phận cấu thành của vốn kinh doanh. Đây là loại
vốn linh hoạt, như dòng máu luôn vận động tuần hoàn nuôi sống doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì quá trình sản xuất kinh doanh sẽ gặp khó
khăn, không diễn ra một cách thường xuyên liên tục; nếu doanh nghiệp thừa
vốn sẽ dẫn tới tình trạng sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả. Do vậy, sự thành
bại của các doanh nghiệp mặc dù là hệ quả của nhiều yếu tố nhưng phải đặc biệt
thừa nhận ảnh hưởng rất lớn của quản trị vốn lưu động.
Trong thời gian qua, qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tình hình tài
chính của công ty TNHH ôtô Hoa Mai năm 2008, em nhận thấy trong công tác
tổ chức, sử dụng vốn lưu động của công ty còn một số hạn chế nhất định.
Những hạn chế này là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử
dụng vốn của công ty.
Vì vậy em đã chọn đề tài “Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH ôtô Hoa
Mai”.
Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp lý luận thực tiễn, trên cơ sở số
liệu thực tế của Công ty qua các năm. Luận văn của em đi sâu phân tích tình
hình tổ chức, sử dụng vốn lưu động của công ty: tình hình quản lý vốn bằng
tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho; qua đó đánh giá chung về hiệu quả tổ
chức, sử dụng vốn lưu động và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại công ty.
Kết cấu bài luận văn gồm ba chương:
Chương I: Lý luận chung về vốn lưu động và sự cần thiết phải nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại
công ty TNHH ôtô Hoa Mai.
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02
Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ

cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục. Phù hợp với đặc điểm
trên của TSLĐ, vốn lưu động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động
qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp sản xuất: sự vận động của VLĐ trải qua 3 giai
đoạn:
T – H – SX – H’ – T’
Trong đó: T’=T+T
+ Giai đoạn mua sắm dự trữ vật tư: ở giai đoạn này, vốn lưu động từ hình
thái vốn bằng tiền chuyển sang hình thái vật tư dự trữ.
+ Giai đoạn sản xuất: vốn lưu động từ hình thái vật tư dự trữ chuyển sang
hình thái sản phẩm dở dang, bán thành phẩm. Kết thúc quá trình sản xuất
chuyển sang hình thành vốn thành phẩm.
+ Giai đoạn tiêu thụ: vốn lưu động từ hình thái sản phẩm hàng hoá
chuyển sang hình thành vốn bằng tiền.
Đối với doanh nghiệp thương mại: sự vận động của vốn lưu động qua 2
giai đoạn:
T – H – T’
Trong đó: T’=T + T
+ Giai đoạn mua: vốn từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vốn hàng
hoá dự trữ.
+ Giai đoạn bán: vốn lưu động từ hình thái hàng hoá dự trữ chuyển sang
vốn bằng tiền.
Sự vận động của vốn lưu động từ hình thái ban đầu là vốn bằng tiền
chuyển qua các hình thái khác nhau của các giai đoạn trong quá trình sản xuất
kinh doanh cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu của nó gọi là sự tuần hoàn của
vốn lưu động. Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một
cách thường xuyên liên tục nên vốn lưu động tuần hoàn không ngừng, được lặp
đi lặp lại có tính chất chu kì và được gọi là sự chu chuyển của vốn lưu động. Do
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02

K43/11.02
Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
Cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý biết được chức năng của
từng loại có biện pháp phát huy từng loại hay định mức tiêu hao của từng loại
cũng như kết cấu để điều chỉnh cho kết cấu đó hợp lý hơn.
1.1.2.2. Dựa vào vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh
doanh.
Theo cách phân loại này thì vốn lưu động được chia làm 3 loại: VLĐ
trong khâu dự trữ sản xuất, VLĐ trong khâu lưu thông, trong đó dựa vào công
dụng thì các loại VLĐ này lại được chia thành các khoản vốn:
*Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất:
Bao gồm:
- Vốn dự trữ vật liệu phụ: là giá trị những vật tư dự trữ dùng trong sản
xuất giúp cho việc hình thành sản phẩm tuy nhiên không đóng vai trò chủ yếu
tạo nên thực thể sản phẩm.
- Vốn dự trữ nhiên liệu, động lực phụ tùng thay thế: là những loại nhiên
liệu, động lực phụ tùng thay thế phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm của
doanh nghiệp.
- Vốn dự trữ công cụ dụng cụ: là giá trị những tư liệu lao động có giá trị
thấp, thời gian sử dụng không đủ tiêu chuẩn trở thành tài sản cố định.
*Vốn lưu động trong khâu sản xuất:
Bao gồm:
- Giá trị sản phẩm dở dang dùng trong quá trình sản xuất, xây dựng hoặc
đang nằm tại các địa điểm làm việc chờ chế biến tiếp, chi phí trồng trọt dở dang,
chi phí chăn nuôi dở dang, súc vật nhỏ và nuôi béo…
- Bán thành phẩm là giá trị các sản phẩm dở dang nhưng khác sản phẩm
đang chế tạo ở chỗ nó đã hoàn thành một hay nhiều giai đoạn chế biến nhất
định.
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02

Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động.
- Các nhân tố về mặt cung ứng, dự trữ vật tư, thành phẩm:
Biểu hiện của sự ảnh hưởng này được thể hiện ở những điểm sau:
+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với nguồn vật tư: ảnh hưởng tới việc
dự trữ nguyên vật liệu, vật tư của doanh nghiệp, khoảng cách này càng gần thì
mỗi lần mua nguyên vật liệu càng ít dẫn tới nhu cầu dự trữ giảm, còn nếu
khoảng cách này càng xa thì mỗi lần mua phải mua nhiều lên làm cho nhu cầu
dự trữ tăng.
+ Khả năng cung cấp của thị trường: nếu thị trường trong giai đoạn đang
trong thời gian khan hiếm hàng hoá vật tư thì doanh nghiệp phải dự trữ nhiều để
đảm bảo sản xuất kinh doanh được diễn ra bình thường và liên tục. Ngược lại,
nếu thị trường luôn sẵn sàng đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguyên vật liệu hàng hoá
của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ không cần phải dự trữ nhiều.
+ Kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư mỗi lần cung cấp: kỳ hạn dài,
khối lượng vật tư nhiều thì doanh nghiệp phải dự trữ nhiều và ngược lại.
+ Tính thời vụ và sự khan hiếm của vật tư: đối với nguyên vật liệu theo
mùa như hàng nông sản chẳng hạn thì lượng hàng tồn kho sẽ lớn vào thời điểm
thu hoạch và sẽ ít vào thời điểm cuối vụ. Ví dụ điển hình là dự trữ hàng tồn kho
của các doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực thu mua nông sản
như gạo, càphê,…thường tăng cao vào khi vào vụ thu hoạch của nông dân.
+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với thị trường tiêu thụ: điều này ảnh
hưởng đến việc dự trữ thành phẩm của doanh nghiệp. Thị trường tiêu thụ càng gần
thì doanh nghiệp càng dễ tiêu thụ hàng hoá cho nên mức dự trữ cũng được giảm đi.
+ Hợp đồng giao bán và khối lượng hàng hoá bán ra.
+ Hàng hoá tiêu thụ có tính chất thời vụ: ảnh hưởng đến khối lượng hàng
tồn kho của doanh nghiệp tại mỗi thời điểm.
- Những nhân tố về mặt sản xuất:
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02

K43/11.02
Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
phần; Vốn bổ sung từ lợi nhuận để lại nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô
sản xuất của doanh nghiệp …
- Các khoản nợ phải trả (nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp):
+ Nguồn vốn tín dụng: là số vốn vay của các ngân hàng thương mại, các
tổ chức tín dụng hoặc qua phát hành trái phiếu.
+ Nguồn vốn chiếm dụng: phản ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng
một cách hợp pháp của các chủ thể khác. Trong nền kinh tế thị trường phát sinh
các quan hệ thanh toán như: phải trả người bán, phải nộp ngân sách, phải trả
công nhân viên…
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được
hình thành từ vốn bản thân hay từ các nguồn ngoại sinh. Từ đó có các quyết
định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động một cách hợp lý, đảm
bảo an toàn về tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp. Thông thường các
doanh nghiệp luôn có các cách sử dụng kết hợp cả hai loại này.
1.1.4.2. Căn cứ theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn.
Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định dài
hạn mà doanh nghiệp có thế sử dụng. Nguồn vốn này có thể huy động từ nguồn
vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu dài hạn hoặc có thể vay dài hạn từ các
ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng.
Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất
thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn
vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các
khoản nợ ngắn hạn khác…
Mỗi doanh nghiệp có cách thức phối hợp khác nhau giữa nguồn vốn lưu
động thường xuyên và nguồn vốn lưu động tạm thời trong công việc đảm bảo
nhu cầu chung về vốn lưu động của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Hạnh Lớp

- Là cơ sở, căn cứ để tổ chức huy động các nguồn tài trợ đáp ứng đầy đủ
và kịp thời nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Là cơ sở cho doanh nghiệp sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm tránh tình
trạng ứ đọng, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
- Là nhân tố quan trọng để quá trình sản xuất diễn ra liên tục, tránh tình
trạng căng thẳng giả tạo về vốn.
1.1.5.2. Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.5.2.1. Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động.
Nội dung cơ bản của phương pháp này là: Căn cứ vào các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến lượng vốn lưu động của doanh nghiệp phải ứng ra để xác
định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên.
Việc xác định nhu cầu vốn lưu động theo phương pháp này có thể thực
hiện theo trình tự sau:
- Xác định nhu cầu vốn để dự trữ hàng tồn kho cần thiết cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Xác định chính sách tiêu thụ sản phẩm và khoản tín dụng cung cấp cho
khách hàng.
- Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp.
- Tổng hợp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.5.2.2 Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động.
Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn. Ở
đây có thể chia làm 2 trường hợp.
- Trường hợp thứ nhất: Là dựa vào kinh nghiệm theo thực tế của các doanh
nghiệp cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu vốn cho doanh nghiệp mình.
Việc xác định nhu cầu VLĐ theo cách này là dựa vào hệ số vốn lưu động
tính theo doanh thu được rút từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp cùng
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02
Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
loại trong ngành. Trên cơ sở đó xem xét quy mô kinh doanh dự kiến theo doanh

hoạt động kinh doanh của mình. Một trong những vấn đề cần phải quan tâm
phát triển và nâng cao đó là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng.
Hiệu quả sử dụng vốn là sử dụng và điều hoà vốn thích hợp với tình
hình sản xuất kinh doanh của từng thời kỳ, từng thời điểm sao cho tốt nhất
cho doanh nghiệp.
Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng VLĐ phải được hiểu trên
hai khía cạnh:
+ Một là, với số vốn hiện có có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm
với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Hai là, đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản
xuất để tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng
trưởng của lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn.
Hai khía cạnh cũng chính là mục tiêu cần đạt được trong công tác tổ chức
quản lý và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và VLĐ nói riêng. Nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ngày càng là một vấn đề cốt yếu trọng
doanh nghiệp vì những lý do sau:
Trước hết, xuất phát từ mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Trong thời kỳ bao
cấp, các doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước,
vốn được bao cấp, kết quả kinh doanh phải giao nộp cho nhà nước. Do vậy đã
không tạo được động lực để khuyến khích các nhà quản lý doanh nghiệp nâng
cao sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường thì đã có sự thay đổi
trong tư duy quản lý kinh tế do đó các doanh nghiệp độc lập phải tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh, nếu sử dụng đồng vốn không có hiệu quả, không
sinh lời và bảo toàn được vốn thì doanh nghiệp đó sẽ không thể tồn tại và phá
sản là một kết quả tất yếu. Cho nên việc không ngừng nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn đã trở thành một mục tiêu quan trọng trong chiến lược tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp trong thời kỳ hiện nay.
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02

Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
trọng trong công tác quản lý tài chính, là vấn đề quyết định đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta thường sử dụng một
số chỉ tiêu sau:
1.2.2.1. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được thể hiện bằng hai chỉ tiêu:
+ Số lần luân chuyển vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết trong một thời
kỳ nhất định vốn lưu động luân chuyển được bao nhiêu lần (hay vốn lưu động
quay được bao nhiêu vòng).
Công thức:
M
L =
V


Trong đó:
L : Là số lần luân chuyển vốn lưu động trong kỳ.
M: Là tổng mức luân chuyển vốn lưu động (doanh thu thuần).
V

: Vốn lưu động bình quân trong kỳ.
+ Kỳ luân chuyển vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết
để hoàn thành một vòng luân chuyển vốn lưu động.
Công thức:
360 360
K = hay K = V

x

1
L
0

Trong đó:
V
tk
: Vốn lưu động tiết kiệm.
K
0,
K
1
: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo và năm kế hoạch
L
0
, L
1
: Số lần luân chuyển vốn năm báo cáo và năm kế hoạch
M
1
: Tổng mức luân chuyển năm kế hoạch (doanh thu thuần )
1.2.2.3. Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động (doanh lợi vốn lưu động)
Công thức:
Lợi nhuận trước (hoặc sau thuế) hđ sxkd
Doanh lợi VLĐ =
VLĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
cho biết một đồng vốn lưu động sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trước thuế hoặc sau thuế. Mức doanh lợi vốn lưu động cao thì chứng tỏ
hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn.

lưu động thường xuyên ứng với quy mô mà doanh nghiệp hoạt động. Lượng
vốn này thể hiện nhu cầu vốn lưu động thường xuyên mà doanh nghiệp cần phải
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02
Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục. Do vậy
doanh nghiệp cần phải dựa trên quy mô sản xuất kinh doanh của mình để xác
định chính xác nhu cầu vốn lưu động đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh không bị thừa, không thiếu vốn lưu động. Mặt khác trong quá trình sử
dụng vốn lưu động phải đạt được hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ sản xuất
- Sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư hàng hoá
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của vật tư hàng hoá. Sự luân chuyển
vốn lưu động và sự vận động của vật tư hàng hoá kết hợp chặt chẽ với nhau, vì
vậy sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư hàng hoá.
- Doanh nghiệp tự cấp phát và bảo toàn vốn lưu động
Kể từ khi bước sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tự đề ra kế
hoạch sản xuất kinh doanh và tự chủ về vốn. Để quán triệt nguyên tắc này
doanh nghiệp phải chủ động khai thác và sử dụng các nguồn vốn tự có, ngoài ra
còn huy động thêm các nguồn vốn bằng các hình thức linh hoạt và tự chịu trách
nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn.
1.3.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp trong cùng một lúc được phổ biến trên
khắp các giai đoạn luân chuyển và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Trong quá trình vận động, vốn lưu động chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố làm
ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng.
 Nhân tố khách quan
+ Lạm phát: Do ảnh hưởng của nền kinh tế có lạm phát, sức mua của
đồng tiền bị giảm sút, dẫn đến tăng giá các loại vật tư hàng hoà. Nếu doanh
nghiệp không điều chính kịp thời giá trị của các loại tài sản thì sẽ làm cho vốn
lưu động bị hao hụt dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ.

hạn chế nhân tố trước khi đi đến quyết định đúng đắn và đưa ra giải pháp đẩy
mạnh công tác tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả.
1.3.3. Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02
Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
Để đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời vốn lưu động cho sản xuất kinh
doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động cần thực hiện một số biện
pháp sau:
 Xác định đúng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn sao cho
chi phí thấp nhất, phân bổ nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu đáp ứng yêu cầu
của doanh nghiệp.
Đây là một trong những biện pháp rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động. Nếu xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp sẽ dẫn đến
tình trạng thiếu vốn, sản xuất bị đình trệ, doanh nghiệp không thực hiện được
các hợp đồng đã ký,… Ngược lại nếu xác định nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽ
dẫn đến tình trạng thừa vốn, vốn lưu động chậm làm phát sinh nhiều chi phí
không cần thiết và giá thành sản phẩm sẽ tăng làm cho lợi nhuận giảm.
Để xác định nhu cầu vốn lưu động, các nhà quản trị tài chính doanh
nghiệp cần phải căn cứ vào các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động để
từ đó có quyết định lựa chọn phương pháp cụ thể và phù hợp với nhu cầu của
doanh nghiệp mình.
 Tổ chức huy động vốn hiệu quả
Doanh nghiệp cần khai thác triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp
(nguồn vốn chủ sở hữu), đồng thời cân nhắc lựa chọn các nguồn vốn bên ngoài
(nguồn vốn đi vay) với chi phí thấp nhất mà vẫn đáp ứng kịp thời vốn lưu động
cần thiết.
 Có biện pháp quản lý thích hợp với từng loại vốn

+ Đòi hỏi cần phải có một lượng tiền mặt dự phòng để đáp ứng nhu cầu
chi tiêu bất thường nảy sinh ngoài dự đoán.
+ Cần phải xem xét mức dự trữ tiền mặt của kỳ trước đó để đánh giá mặt
hợp lý, bất hợp lý để làm cơ sở tìm ra một mức phù hợp nhất về nhu cầu tiền
mặt dự trữ.
- Quản trị tốt vốn tồn kho dự trữ
Vốn tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp cần phải lưu trữ để
đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp diễn ra
liên tục. Quản trị vốn tồn kho dự trữ chủ yếu tập trung vào hai loại chi phí: Chi
phí lưu kho và chi phí cho quá trình thực hiện đơn đặt hàng. Doanh nghiệp cần
quản trị tốt hai loại chi phí này, vì vốn tồn kho dự trữ thường chiếm tỷ lệ đáng
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02
Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, mặt dự trữ vật tư hàng hoá đúng
mức sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản
phẩm để bán, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm vốn lưu động.
- Quản trị các khoản phải thu:
Doanh nghiệp phải xây dựng chính sách tín dụng thương mại và mức độ
nợ phải thu phù hợp. Mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu trong và
ngoài doanh nghiệp, thường xuyên đôn đốc để thu hồi đúng hạn, có chính sách
bán chịu hợp lý đối với từng khách hàng, khi bán chịu phải xem xét kỹ khả
năng thanh toán trên cơ sở hợp đồng đã kí kết. Phân loại các khoản nợ cho
khách hàng, thoả ước xử lý nợ, hoặc yêu cầu toà án kinh tế giải quyết theo thủ
tục phá sản doanh nghiệp.
 Có biện pháp phòng ngừa rủi ro
Để đối phó với những rủi ro không lường trước được như thiên tai, hoả
hoạn, giảm giá hàng bán trên thị trường…các doanh nghiệp nên có các biện
pháp để đề phòng rủi ro như: Mua bảo hiểm, lập quỹ dự phòng tài chính để khi
có rủi ro xảy ra dẫn đến hao hụt vốn thì các doanh nghiệp sẽ có quỹ để bù đắp

Luận Văn tốt nghiệp Giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
- Tên gọi: Công ty TNHH ôtô Hoa Mai
- Trụ sở chính: KM 43+500 Quốc lộ 10, xã Quốc Tuấn, Huyện An
Lão, Thành phố Hải Phòng
- Điện thoại: 0313221701
- Fax: ( 0313672888 )
Công ty TNHH ôtô Hoa Mai được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh số 040162 do sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng cấp lần đầu
ngày 22 tháng 10 năm 1993 và lần 3 ngày 15 tháng 02 năm 2008.
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình Công ty đã trải qua các
giai đoạn khác nhau:
 Giai đoạn 1988 - 1993 (giai đoạn hình thành và bắt đầu đi vào hoạt
động kinh doanh).
Tiền thân của Công ty TNHH ôtô Hoa Mai là tổ hợp cơ khí, ban đầu chỉ
có 8 lao động với cơ sở vật chất nghèo nàn, tạm bợ, kinh doanh dịch vụ cơ khí
nhỏ, máy nông ngư nghiệp tiến tới sản xuất xe tải nhỏ tự chế (xe công nông),
đến ngày 5/9/1988 xí nghiệp cơ khí Hoa Mai chính thức được thànn lập, đánh
dấu bước đột phá trong quá trình phát triển và vươn lên qua khó khăn, thách
thức: lúc đó xí nghiệp chuyên nghiên cứu, sáng chế và và chế tạo công nông lắp
máy nằm ngang dựa trên các xe ôtô cũ hỏng không sử dụng trong điều kiện lúc
bấy giờ khi nước ta còn nghèo và lạc hậu những chiếc xe này đã thay thế cho
nhiều chiếc xe vận tải thô sơ, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế của địa
phương.
 Giai đoạn 1993 - 2005 (giai đoạn Công ty TNHH ôtô Hoa Mai được
thành lập và đi vào hoạt động).
Ngày 16/10/1993 Công ty TNHH ôtô Hoa Mai được thành lập theo QĐ
số 001507/UBQG, Công ty tập trung chuyên sâu lâu dài vào ngành cơ khí chế
tạo trọng điểm ngành nghề sản xuất và lắp ráp ôtô tải tự đổ mang thương hiệu
Hoa Mai kiểu dáng Sanxinh của Trung Quốc. Năm 1995 Công ty được cục
Nguyễn Thị Hạnh Lớp

các tình thành phố, địa phương trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
của nước Việt Nam.
Nguyễn Thị Hạnh Lớp
K43/11.02


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status