TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP THẢO LUẬN
MÔN: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Đề tài số 7:
Trình bày những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán phi tập
trung. Liên hệ thực tiễn Việt Nam.
Thành viên nhóm 7
1. Nguyễn Thị Thu Thủy CQ510892
2. Vũ Thị Quế Thư CQ513000
3. Nguyễn Thị Ngà CQ512213
4. Trần Thị Thư CQ514951
5. Hồ Ngọc Oanh CQ522730
6. Mẫn Văn Khánh CQ511794
7. Đặng Thị Nga CQ512193
8. Lương Đoàn Bảo Yến CQ513511
ĐỀ CƯƠNG
I. Những vấn đề cơ bản về thị trường OTC
1. Lịch sử hình thành
2. Khái niệm
3. Phân loại
4. Đặc điểm
5. Vai trò
6. Mục tiêu và xu hướng hiện nay
II. So sánh thị trường OTC với các thị trường khác
1. So sánh thị trường OTC với thị trường chứng khoán tập trung
2. So sánh thị trường OTC với thị trường chứng khoán tự do
III. Một số thị trường OTC trên thế giới
1. Thị trường OTC Mỹ
2. Thị trường OTC Nhật Bản
3. Thị trường OTC Hàn Quốc
tạo lập thị trường.
- Tính chất giao dịch song phương vẫn được duy trì
Dưới góc độ quản lý, do cách thức giao dịch song phương (không phải đa
phương như SGDCK) nên thị trường OTC được xem là không “sàn”. Tuy
nhiên vẫn có tính chất giao dịch đa phương nhất định vì người mua và
người bán đều có sự tham khảo thông tin giá cả từ nhiều bên trước khi
quyết định.
Giai đoạn phát triển hiện đại
- Ứng dụng Internet và công nghệ thông tin vào giao dịch OTC.
- Giao dịch thỏa thuận trên phạm vi toàn cầu, 24/24.
- Phát triển sàn giao dịch OTC trên mạng. Thị trường OTC này còn gọi
là “Sàn môi giới điện tử” (electronic brokering plaform).
- Tính chất giao dịch song phương truyền thống được biến đổi qua mô
hình
- giao dịch đa phương, khớp lệnh tự động vào báo giá mua bán cho tất
cả
- các bên, họ tự do yết giá và quyết định giao dịch.
- Các tổ chức hoạt công ty vận hành thị trường chỉ đóng vai trò môi
giới,
- không tham gia tự doanh.
- Có một tổ chức trung gian lo việc thanh toán bù trừ.
Mô hình khác: Sàn tự doanh điện tử (electronic dealing plaform)
- Đơn vị tổ chức sàn không đóng vai trò trung gian mà trực tiếp mua
bán chứng khoán.
- Các yết giá mua và bán chứng khoán chỉ do đơn vị tổ chức (đơn vị tự
doanh) thông báo.
- Các thành viên tham gia thị trường quan sát các yết giá và kết quả
thực hiện.
- Các nhà tổ chức thiết lập thị trường OTC cho riêng họ và họ phải chịu
mọi rủi ro về thanh toán.
• Thị trường OTC được tổ chức theo hình thức phi tập trung. không có điểm giao
dịch mang tính tập trung giữa bên mua và bên bán.
• Thị trường sẽ diễn ra tại các địa điểm giao dịch của các ngân hàng,công ty CK
và các địa điểm thuận lợi cho người mua ,bán:
- Giao dịch diễn ra ở bất kỳ địa điểm nào:trụ sở CTCK,NHTM, có thể
ngay tại các địa điểm công cộng như nhà ăn,quán café…
- Có thể giao dịch qua mạng điện tử, mạng điện thoại
- Thị trường OTC có hệ thống công nghệ cao phục vụ, đảm bảo giao dịch
thông suốt, nhanh chóng.
Thị trường OTC là thị trường sử dụng hệ thống mạng máy tính điện tử
diện rộng liên kết tất cả các đối tượng tham gia thị trường
Thị trường
OTC còn được gọi là thị trường mạng hay thị trường báo giá điện tử
Thành viên của thị trường OTC
• Nhà đầu tư và tổ chức đầu tư: tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp qua hệ thống
điện tử.
• Các công ty môi giới – giao dịch:
- Môi giới: hưởng hoa hồng từ thực hiện giao dịch với khách hàng
- Tự doanh: kinh doanh chứng khoán trên chính tài sản của mình
• Nhà tạo lập thị trường:
- Công ty môi giới – giao dịch nắm giữ một số lượng lớn chứng khoán
nhất định
- Tăng tính thanh khoản cho chứng khoán
- Liên tục đưa ra giá hỏi mua – chào bán
Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC gồm 2 loại:
• Loại 1: Chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết trên Sở Giao dịch nhưng đáp
ứng các điều kiện về tính thanh khoản và yêu cầu tài chính tối thiểu của thị
trường OTC, trong đó chủ yếu là của công ty vừa và nhỏ, công ty công nghệ cao
và có tiềm năng phát triển.
lệch.
* Yêu cầu đối với nhà tạo lập thị trường:
- Phải có quy mô vốn lớn để đối mặt với nguy cơ không đủ tiền tạo lập thị
trường.
- Có năng lực quản lý, giám sát tốt
- Khả năng đa dạng hóa đầu tư cao
- Quan hệ tốt với công chúng và các nhà đầu tư, tổ chức khác
* Thông lệ quốc tế:
- Đối với CK là trái phiếu: thường được tổ chức theo mô hình OTC và do
các Ngân hàng thương mại làm nhà tạo lập thị trường.
- Đối với CK là cổ phiếu: nhà tạo lập thị trường là các công ty chứng
khoán.
Các nhà tạo lập thị trường đóng vai trò quan trọng trên thị trường OTC.
Họ duy trì tính thanh khoản cho các loại chứng khoán mình đảm trách,
thông qua việc nắm giữ một lượng lớn chứng khoán để luôn sẵn sàng mua,
bán, giao dịch với khách hàng.
Cơ chế quản lý:
Thị trường OTC được quản lý bởi cấp chính phủ và cấp tự quản trên cơ sở pháp
luật chứng khoán và các luật khác có liên quan. (Ủy ban chứng khoán nhà nước
– hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán – công ty chứng khoán)
• Cấp quản lý Nhà nước: Nhà nước quản lý thông qua cơ chế cấp phép đối với
các thành viên, quản lý đăng ký và giao dịch, quản lý các thành viên và trung
tâm OTC,kiểm soát giao dịch , thông qua pháp luật về CK và các luật có liên
quan.
Vai trò của chính phủ ngày càng cao để kiểm soát chặt chẽ thị trường
OTC,phát huy tối đa vai trò của thị trường.
• Cấp tự quản:Thị trường OTC thường hoạt động theo cơ chế tự quản với vai
trò quan trọng của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán
Các động lực phát triển
• Nhân tố công nghệ - kỹ thuật
chưa đủ điều kiện niêm yết
Là thị trường phi tập trung, các chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC rất
đông đảo và đa dạng, (hay nói cách khác, thị trường OTC không “kén” chứng khoán
giao dịch). Chính vì thế, OTC là cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa đủ
điều kiện tham gia thị trường tập trung, thu hút vốn từ việc bán cổ phiếu của mình để
mở rộng kinh doanh sản xuất. Các doanh nghiệp này tham gia thị trường OTC không
những có thể thu hút vốn từ kinh doanh cổ phiểu, mà còn có cơ hội cọ xát, tăng kinh
nghiệm trước khi đưa cổ phiếu của doanh nghiệp mình tham gia thị trường chính thức.
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển chính là một vai trò tích cực
mà TT OTC tác động đến sự phát triển của nền kinh tế.
- Tạo môi trường đầu tư linh hoạt, thuận lợi cho các nhà đầu tư
Do tính năng động của thị trường, các nhà đầu tư hoạt động trên OTC rất dễ dàng
trong việc giao dịch, truy cập, chia sẻ thông tin. Do đó, tiết kiệm thời gian, chi phí mà
vẫn đảm bảo hiệu quả giao dịch.
6. Mục tiêu và xu hướng hiện nay
a. Mục tiêu hiện nay
- Tạo khả năng tiếp cận tối đa với giao dịch
- Thông tin thị trường tối thiểu
- Hoàn thiện và phát triển hài hòa tất cả các phân mảng thị trường
b. Xu hướng hiện nay
- Tăng cường tính tập trung:
• Sử dụng mạng điện tử diện rộng
• Có một đơn vị quản lý thống nhất (ECN và tài khoản thông qua brokers, 1998)
- Đa dạng hóa phương thức giao dịch:
• Khớp giá liên tục
• Thỏa thuận gián tiếp (điện tử)
• Thỏa thuận trực tiếp
- Tiêu chuẩn hàng hóa phân định cụ thể hơn
- Sáp nhập và liên kết
- Tăng cường vai trò của các nhà tạo lập thị trường
yêu cầu của cơ quan quản lý
thị trường OTC
Chứng khoán đáp
ứng các điều kiện
niêm yết của Sở giao
dịch
Độ rủi ro khi
giao dịch các
loại chứng
khoán
Rủi ro cao Rủi ro thấp hơn
Sử dụng hệ
thống mạng máy
tính diện rộng để
giao dịch
Có sử dụng Có thể sử dụng hoặc
không
Nhà tạo lập thị
trường cho một
loại chứng
khoán
Có nhiều nhà tạo lập thị
trường
Chỉ có 1, đó là các
chuyên gia chứng
khoán của Sở
Tổ chức quản lý
trực tiếp
Sở giao dịch hoặc Hiệp hội
các nhà kinh doanh CK
- NASDAQ là chữ viết tắt của cụm từ National Association of Securities
Dealers Automated Quotation System, là sàn giao dịch chứng khoán phi tập
trung của Mỹ được thành lập năm 1971 bởi Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng
khoán Quốc gia (NASD).
- Là thị trường OTC có quy mô toàn cầu, cung cấp niêm yết chứng khoán và
các dịch vụ khác ở hơn 50 quốc gia và cạnh tranh với sàn giao dịch chứng
khoán NYSE-Euronext để thu hút những công ty niêm yết mới.
- Giai đoạn đầu hình thành và phát triển, NASDAQ là sàn giao dịch điện tử
đầu tiên trên thế giới và đơn thuần chỉ là hệ thống bảng điện tử niêm yết giá –
chưa thực sự kết nối người mua và người bán. Tuy nhiên, cùng sự phát triển của
thị trường, NASDAQ tiến gần hơn đến một sàn giao dịch chứng khoán theo
đúng nghĩa khi đưa vào hoạt động hệ thống báo cáo và giao dịch chứng khoán
tự động. Các giao dịch trên thị trường NASDAQ được thực hiện thông qua một
thị trường mở, qua một hệ thống các nhà kinh doanh đa chức năng và qua rất
nhiều nhà tạo lập thị trường cạnh tranh với nhau nhằm giành được các giao dịch
của từng loại cổ phiếu. Năm 1984, NASDAQ cho ra đời Hệ thống đặt lệnh quy
mô nhỏ (Small Order Execution System – SOES); năm 1997, Mạng giao tiếp
điện tử (Electronic Communication Network – ECN) được áp dụng; năm 2002,
NASDAQ giới thiệu thành công hệ thống giao dịch SuperMontage – hệ thống
niêm yết giá và thực hiện giao dịch chứng khoán có tính thanh khoản và minh
bạch cao. Đây được xem như trung tâm giao dịch lệnh giới hạn cho tất cả các
chứng khoán niêm yết trên NASDAQ.
Thị trường được tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau bao gồm:
- Thị trường NASDAQ quốc gia NMM (NASDAQ National Market System)
dành cho những cổ phiếu sôi động nhất của NASDAQ.
- Thị trường SCM (Nasdaq Small – Cap Market) dành cho những cổ phiếu có
mức vốn hóa thấp, điều kiện niêm yết trên thị trường này chỉ bằng 1/2 đến 1/3
so với yêu cầu của thị trường NMM.
- Thị trường OTC NASDAQ (The Nasdaq OTC Electronic Bulletin Board –
OTCBB): thị trường dành cho những cổ phiếu nhỏ được đảm bảo bởi các nhà
khoán của các công ty vừa và nhỏ, công ty có chất lượng hạng hai và công ty
công nghệ cao. JASDAQ sử dụng hệ thống giao dịch hỗn hợp, cả khớp lệnh
và yết giá. Hệ thống giao dịch và thông tin tự động qua mạng JASDAQ được
thực hiện theo mô hình NASDAQ gồm: mạng giao dịch và mạng thông tin.
o J-Net: Mới được thành lập từ tháng 4/1999, do Sở giao dịch chứng khoán
OSAKA trực tiếp quản lý. Các chứng khoán không được niêm yết trên Sở
giao dịch OSAKA và JASDAQ được niêm yết trên J-Net theo phương thức
thương lượng giá. J-Net có ưu điểm nổi bật là cung cấp các dịch vụ với giá
rẻ, tốc độ nhanh và thuận tiện, có thể truy cập trực tiếp thông tin thị trường,
được đánh giá có tiềm năng tăng trưởng trong tương lai.
3. Thị trường OTC Hàn Quốc
- Ra đời và đi vào hoạt động từ tháng 04/1987, chịu sự kiểm soát trực tiếp của
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Hàn Quốc (KSDA).
- Được xây dựng và hoạt động theo mô hình thị trường NASDAQ, thực hiện
giao dịch qua mạng điện tử. Các tổ chức niêm yết trên thị trường phải đáp ứng
một số chỉ tiêu cơ bản như: Vốn chủ sở hữu tối thiểu là 3 tỷ won, Mức vốn hóa
thị trường tối thiểu 9 tỷ won, Số lượng cổ đông tối thiểu là 500,… Việc đấu giá
được thực hiện theo phương thức đấu lệnh tập trung tương tự như Sở giao dịch
chứng khoán.
- Các chứng khoán giao dịch trên KOSDAQ bao gồm chứng khoán của công ty
đầu tư mạo hiểm, công ty vừa và nhỏ, và quỹ tương hỗ. Tiêu chuẩn niêm yết đối
với các công ty vừa và nhỏ chặt chẽ hơn so với các công ty mạo hiểm. Từ năm
1997, cổ phiếu của các công ty nước ngoài được phép niêm yết và giao dịch trên
KOSDAQ.
- Kết hợp hai phương thức giao dịch là đấu giá định kỳ và đấu giá liên tục với
biên độ dao động giá hàng ngày là +/- 15% so với giá đóng cửa của phiên giao
dịch trước đó. Từ tháng 3/2000, thị trường KOSDAQ OTC Electronic Bulletin
Board chính thức đưa vào hoạt động trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc.
IV. Thực trạng thị trường OTC ở Việt Nam hiện nay
1. Lịch sử ra đời
nhiều bất cập rủi ro cho nhà đầu tư.
• Không có thông tin rõ ràng về hoạt động kinh doanh của công ty phát hành.
• Các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu vô tội vạ ra công chúng, phát hành
CP giả
• Không có biên độ giá, thổi phồng lớn hơn giá trị thực của CP nhiều lần.
• Không có các cơ quan chức năng theo dõi, kiểm tra, chế tài.
• Trong 963 tập đoàn công ty và ngân hàng đăng kí là công ty đại chúng với
UBCKNN, mới chỉ có hơn 360 công ty chính thức niêm yết và giao dịch trên
TTCK
Thị trường phi tập trung ở Việt Nam đang tồn tại là một thực thể khách quan. Chỉ có
thể nói rằng hoạt động của thị trường này còn manh mún, rời rạc, tổ chức của thị
trường này chưa được chặt chẽ, chưa có người tạo lập và dẫn dắt thị trường chứ không
thể nói là Việt Nam chưa có thị trường OTC.
Thị trường OTC là một tất yếu, là một phần không thể tách rời khỏi một nền kinh tế
đang trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam hiện nay. Việc quản lý thế nào là hợp
lý để phát huy được tiềm năng và giảm thiểu các nguy cơ tiềm ẩn, chính là bài toán
khó đặt ra không chỉ riêng cho các nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam.
3. Tình hình hoạt động của thị trường OTC ở Việt Nam
a. Mô hình thị trường
Tháng 6/2004 Bộ tài chính đưa ra thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận của
lãnh đạo bộ về mô hình và tổ chức xây dựng thị trường giao dịch chứng khoán
Việt Nam. Trong đó, định hướng xây dựng trung tâm giao dịch chứng khoán hà
Nội thành Trung tâm giao dịch phi tập trung (OTC) đơn giản, gọn nhẹ. Theo đó,
trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội sẽ phát triển theo 2 giai đoạn:
• Giai đoạn 1: từ 2005- 2007: thị trường giao dịch chứng khoán Hà Nội
sẽ tổ chức đấu giá cổ phần, các tài sản chính thức, tổ chức đấu thầu
trái phiếu, đồng thời tổ chức giao dịch thứ cấp cho chứng khoán niêm
yết theo mô hình OTC đơn giản.
• Giai đoạn 2: Từ sau năm 2007 sẽ phát triển thị trường giao dịch
chứng khoán Hà Nội thành thị trường chứng khoán phi tập trung OTC
l
à nguồn cung của th
ị
trường OTC. Hay nó
i
theo cách của một số
ngườ
i
thường nó
i
l
à th
ị
trường OTC
ở Việt Nam rất nh
i
ều tiềm năng. Không
phải cổ ph
i
ếu của tất cả các công ty cổ phần đều được mua bán
trao đổ
i
thường xuyên mà ch
ỉ
có một
í
t trong số đó được g
i
ao d
Hiện chưa có đầu mối nào thống kê giá trị và khối lượng giao dịch trên
thị trường OTC, nhưng điều dễ nhận thấy là số cổ phiếu có giao dịch rất
ít. Việc đóng cửa giao dịch cổ phiếu OTC tại một số sàn giao dịch do
CTCK mở ra trong năm 2010 góp phần hạn chế giao dịch trên thị trường
tự do. Chợ cổ phiếu OTC MB tại Liễu Giai (Hà Nội) tan rã tự nguyện sau
khoảng thời gian hai năm hoạt động. Mặc dù cơ quan quản lý chưa "ra
tay", nhưng trước một số vụ "nổ" của các môi giới tự do khiến nhà đầu tư
mất niềm tin. Sau đó, một số CTCK có ý định tổ chức một địa điểm để
các môi giới, nhà đầu tư trao đổi thông tin mua bán cổ phiếu OTC như
PSI, VNDirect, nhưng cũng không tồn tại được lâu.
Năm 2011
Thị trường 6 tháng đầu năm 2011 không quá bi đát, thậm chí còn sôi
động hơn niêm yết, bởi một số cổ phiếu ngân hàng được mua mạnh như
Techcombank, VPBank Thị trường bắt đầu “chết” từ giữa tháng 5, cổ
phiếu doanh nghiệp thì “chết” từ đầu năm nhưng nhóm cổ phiếu ngân
hàng trên thị trường OTC đầu năm 2011 giao dịch khá sôi động. Một số
cổ phiếu ngân hàng như Techcombank có giá khoảng 17.000 - 22.000
đồng/cp, VPBank lên 12.000 đồng/cp vào thời điểm quý 1/2011, giá
VPBank vào khoảng 7-8 nghìn đồng/cp, giá Techcomabnk khoảng
12.000 đồng/cp trong khi giá một số cổ phiếu ngân hàng trên sàn đều
giảm trên 50% như Habubank (HBB) xuống sát 4.000 đồng/cp, SHB
xuống 6.000 đồng/cp.
Đến tháng 11/2011, thị trường bắt đầu phân hóa và đánh sập rất nhiều
mã, cầu khách lẻ không xuất hiện. Thị trường chính liên tiếp thủng đáy
khiến giá OTC bắt buộc phải xuống. Trong tiềm thức người bán hàng
không bao giờ muốn bán rẻ trong khi người mua không muốn mua đắt do
đó dẫn đến tình trạng mất thanh khoản toàn cục trên thị trường OTC.
Điểm đặc biệt trên thị trường OTC năm 2011 là không có sóng cổ phiếu
sắp niêm yết. Trước đây các cổ phiếu sắp niêm yết đều được mua bán
nhộn nhịp nhưng năm 2011 dường như điều đó không xảy ra.
phương thức giao dịch thỏa thuận điện tử áp cũng là một trong những yếu tố
làm hạn chế việc chuyển nhượng cổ phiếu. Tuy nhiên, hiện nay thị trường
UPCOM đang hoạt đông rất sôi động thu hút được sự quan tâm của nhiều doanh
nghiệp, công ty. Thị trường UPCOM thời gian qua cũng đã có những phát triển
rất đáng ghi nhận, đặc biệt về quy mô thị trường, quy mô giao dịch. Các doanh
nghiệp trên thị trường UPCOM khá đa dạng về quy mô hoạt động, ngành nghề
kinh doanh và trong số đó nhiều doanh nghiệp có kết quả kinh doanh khá khả
quan. Thị trường UPCOM đã có những phiên giao dịch khá ấn tượng với sự
tăng trưởng về khối lượng giao dịch và chỉ số giá toàn thị trường. Giá trị giao
dịch chứng khoán bình quân tăng từ 4 tỷ đồng/phiên lên 13 tỷ đồng /phiên. Đặc
biệt, có phiên giao dịch UPCOM giá trị giao dịch lên tới 86 tỷ đồng.
Giao dịch trên thị trường UPCOM có độ an toàn cao hơn. Độ an toàn khi giao
dịch trên thị trường UPCOM thể hiện ở chỗ nhà đầu tư phải có tiền trong tài
khoản mới thực hiện được lệnh mua và phải có chứng khoán trong tài khoản thì
mới thực hiện được lệnh bán. Đặc biệt, tại thị trường UPCOM, với sự có mặt
của các công ty chứng khoán với vai trò là tổ chức cam kết hỗ trợ, đơn vị trung
gian kết nối giữa nhà đầu tư, công ty với HaSTC, nhà đầu tư sẽ giảm thiểu thời
gian tìm kiếm đối tác, giảm thiểu các rủi ro, tiết kiệm chi phí giao dịch, đảm bảo
công khai giá và khối lượng giao dịch.
Thị trường OTC mà nhà đầu tư thường gọi thực tế là thị trường chợ đen, thị
trường xám. Trên thị trường này, giao dịch tự phát, không được thanh toán tập
trung, chứng khoán không được lưu ký, việc mua bán thông qua các nhà môi
giới tự do, không được cấp phép nên có nhiều yếu tố rủi ro mà tổ chức phát
hành, công ty chứng khoán tổ chức hoạt động giao dịch trên không chịu trách
nhiệm với nhà đầu tư. Ngược lại, thị trường UPCOM là thị trường có tổ chức có
sự quản lý của nhà nước, minh bạch thông tin, minh bạch giá cả, thanh toán tập
trung và chứng khoán được lưu ký tập trung tại TT lưu ký chứng khoán trước
khi giao dịch. Với thị trường UPCOM, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ có
được một sân chơi chuẩn với khung pháp lý chặt chẽ, tránh tình trạng bị lừa
đảo, bị làm giá. Đối với thị trường UpCom, nhà đầu tư giao dịch tại công ty
Tổ chức phát hành
(công ty đại chúng)
Sở GDCK Hà Nội
Công ty chứng khoán
(tổ chức cam kết hỗ trợ)
Trung tâm Công
ty chứng khoán
Trung tâm lưu kí