Nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của nấm rơm (Volvariella Volvava) và hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm rơm trên một số giá thể khác nhau tại trung tâm nấm Bắc Giang vụ hè năm 2010 - Pdf 24

Lời cảm ơn!
Trong quá trình học tập, rèn luyện tại Trường Cao Đẳng Nông
Lâm huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang. Được sự chỉ đạo của Ban Giám
Hiệu nhà trường, sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo trong
trường.
Đặc biệt em đã nhận được sự hướng dẫn giúp đỡ trực tiếp của Gv.
Trần Thị Hiền đã giúp em hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này, em xin
chân thành cảm ơn.
Thời gian học tập rèn luyện tại trường đó là một thời gian vô
cùng quý giá đối với em để em tiếp thu những kiến thức chuyên môn,
tích luỹ những kinh nghiệm đó làm hành trang giúp em tiến bước
trong cuộc sống.
Trong thời gian thực tập tại trung tâm giống nấm Bắc Giang em
nhận được sự giúp đỡ tận tình của giám đốc trung tâm Nguyễn Danh
Thắng và Th.s: Nguyễn Hữu Hiệp và tất cả cán bộ nhân viên của trung
tâm đã giúp em có thêm kiến thức và hoàn thiện báo cáo này
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn chân thành nhất đến tất cả
mọi người.
Bắc Giang, ngày 04 tháng 06 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Văn Đạt
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Thì
việc chú trọng và phát triển nông nghiệp đang là một vấn đề quan trọng nó
không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người - xã hội mà
nó còn kéo theo các nghành nghề khác phát triển: như công nghiệp, chế
biến, lâm-ngư nghiệp, chăn nuôi…và giải quết vấn đề việc làm cho con
người, làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho con người. Trong đó
nghành trồng nấm đang dần chiếm một vai trò quan trọng trong ngành sản

các nấm khác mà nó lại mang lại giá trị dinh dưỡng rất cao.Việc sản xuất
nấm rơm nhằm đạt năng suất cao và giá trị dinh dưỡng cao đang là vấn đề
quan tâm của các nhà trồng nấm. Do đó tìm ra các chủng loại mấm rơm có
năng suất cao trên nguyên liệu thích hợp để đưa vào sản xuất đại trà đang là
một vấn đề then chốt có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trồng nấm nhằm
đem lại hiệu quả kinh tế, năng suất cao và có giá trị dinh dưỡng cao cho
người sản xuất nấm.Do đó để góp phần phát triển ngành sản xuất nấm rơm
trong khuân khổ cho phép nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu sự sinh trưởng và phát triển của nấm rơm (Volvariella Volvava) và
hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm rơm trên một số giá thể khác nhau
tại trung tâm nấm Bắc Giang vụ hè năm 2010”
1.2 Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu, tìm ra nguyên liệu trồng nấm rơm có năng suất cao để đưa
vào sản xuất thực tiễn.
- Phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến quá trình trồng
các nấm rơm.
- Đánh gia hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm rơm trên một số giá thể
khác nhau(bông, mùn cưa, rơm, phối trộn bông với mùn cưa) để đưa vào
sản xuất đại trà.
1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu trồng nấm rơm trên: một số loại nguyên liệu (bông phế
liệu,rơm,mùn cưa,trộn 50%bông+ 50%mùn cưa )đưa trồng nấm rơm tại
trung tâm giống nấm Bắc Giang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
3
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- So sánh sự sinh trưởng và phát triển của nấm rơm trên một số
nguyên liệu.
- Đánh giá ảnh hương của yếu tố sản xuất tác động đến hiệu quả kinh

- Tên tiếng Anh: Paddy straw mushroom
- Tên khác: Nấm rạ, nấm đen, thảo cô, nấm trứng.
Nấm rơm thuộc họ Pluteaceae, bộ Agaricales, lớp Hymenomycetes,
ngành phụ Basidiomycotina, ngành nấm thật –Eumycota, giới Nấm- Fungi.
Nấm rơm có hơn 100 loài chi khác nhau như V.diplasia, V.bombycina…
2.1.1.3 Đặc điểm hình thái
* Bao gốc (Volva)
- Bao gốc dài và cao lúc nhỏ bao lấy mũi nấm, khi mũ nấm trưởng
thành gây nứt bao, bao gốc chỉ còn lại phần trùm lấy gốc chân cuống nấm.
Bao nấm là hệ sợi tơ nấm chứa sắc tố melanin tạo ra mầu đen ở bao gốc. Độ
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
5
đậm nhạt tùy thuộc vào loài và áng sáng, ánh sáng càng nhiều thì bao gốc
càng đen.
Bao gốc có tác dụng:
+ Chống tia tử ngoại của mặt trời.
+ Ngăn cản sự phá hoại của côn trùng.
+ Giữ nước và ngăn sự thoát hơi nước của các cơ quan bên trong.
+ Do đóng vai trò bảo vệ nên thành phần dinh dưỡng của bao gốc rất ít.
* Cuống nấm(Stipe)
Là bó hệ sợi xốp, xếp theo kiểu vòng tròn đồng tâm. Khi còn non thì
mềm và giòn, khi già xơ cứng lại và khó bẻ gẫy.
Vai trò của cuống nấm là:
- Cuống nấm phát triển cùng quả nấm, đưa mũ nấm lên cao để phát
tán bào tử đi xa.
- Vận chuyển chất dinh dưỡng để cung cấp cho mũ nấm.
* Mũ nấm(pileus)
Mũ nấm hình nón cũng có chứa melanin nhưng nhạt dần từ trung
tâm ra rìa mép. Bên dưới mũ có chứa nhiều phiến nấm xếp theo dạng tia
kiểu vòng tròn đồng tâm. Mỗi phiến mấn có thể sinh ra khoảng 2.500.000

- Qúa trình tạo quả thể nấm rơm gồm 6 giai đoạn:
+ Giai đọan sợi nấm biến thành đầu đinh ghim (pinhead:meo nấm).
+ Giai đoạn hình thành nút nhỏ (tinny button).
+ Giai đoạn hình thành nút (button).
+ Giai đoạn hình thành trứng (egg).
+ Giai đoạn hình chuông, hình trứng kéo dài (elongation).
+ Giai đoạn trưởng thành (mature:nở xòe).
Chu trình sinh trưởng và phát triển của nấm rơm rất nhanh chóng. Từ
lúc trồng đến khi thu hoạch chỉ sau 12-14 ngày. Đối với từng lọai nguyên
liệu khác nhau mà hệ sợi phát triển nhanh chậm khác nhau. Đối với nguyên
liệu là bông phế liệu thì thời gian cho ra đinh ghim kéo dài hơn 11-14 ngày.
Sau khi ra đinh ghim 2-3 ngày nấm lớn rất nhanh bằng hạt ngô, quả táo,
quả trứng (giai đoạn hình trứng); lúc trưởng thành (giai đoạn phát tán bào
tử, nở xòe) trông giống như một chiếc ô dù có cấu thành các phần hoàn
chỉnh(cả vòng đời khoảng 1tháng Nấm rơm thường cho thu hoặch từ 2-3
lứa(thường là 2 lứa) trong đó lứa 1 chiếm 80% sản lượng.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
7
Chõn n?m
N? xũe
Mu n?m
Bỡ bo t?
N?y m?m
T?o m?ng n?i
?m bo t?
T?o bo t?
Di?n bi?n c?a
nhõn trong d?m
n
n

- Sõu bnh hi gõy thi hng cht ging,cnh tranh c cht
Bỏo cỏo thc tp tt nghip Nguyn Vn t K 8K
8
Hình nút
Nở xòe
Hình trứng
Kéo dài hay hình
chuông
Hợp nhân
n
n
n
Diễn biến
của nhân
trong đảm
Mũ nấm
Đảm bào tử
Tạo mạng nối
Tơ thứ cấp tăng tr/ởng
Nảy mầm
Bì bào tử
Đầu đinh ghim (nụ
nấm)
Khởi sự tạo quả thể
Tạo bào tử
Chân nấm
- Cơ chất trồng nấm rơm :tùy loại cơ chất nấm rơm có thể sinh trưởng
nhanh hay chậm…
Các giai đoạn phát
triển

Theo phân tích của các nhà khoa học trong 112 loại nấm ăn có hàm
lượng bình quân: protein 25%; lipit 8%; gluxit 60% (trong đó đường là 5%,
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
9
xơ là 8%); chất tro 7% đặc biệt là nấm mỡ (A.bisporus) có hàm lượng
prôtêin cao tới 44% (Trạch Điền Mãn Hỷ 1983 – AdriAno and cruz 1933),
xếp sau nấm mỡ là nấm rơm có hàm lượng protêin cao nhất 40%. Tỷ lệ %
tính theo 100g chất khô
Bảng1:thành phần phân tích của nấm rơm
Mẫu
phân
tích
Độ
ẩm
ban
đầu
(%)
Protei
n thô
(%)
Chất
béo
(%)
Các
bonhydra
t
(%)
Tro
(%)
Năng

10
- Hàm lượng axit nucleic: axit nucleic là chất cao phân tử có tác
dụng quan trọng trong quá trình sinh trưởng và sinh sản của cá thể sinh vật
và cũng là vật chất cơ bản di truyền. Trong nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm hàm
lượng axit nucleic đạt tới 5,4% - 8,8% (trọng lượng khô) (Trương Thụ
Đình 1982). Theo tài liệu của liên hợp quốc 1970 mỗi ngày người trưởng
thành cần khoảng 4g axit nucleic trong đó tới 2g có thể lấy từ vi sinh vật,
vì vậy ăn nấm tươi là nguồn cung cấp rất tốt axit nucleic cho cơ thể.
- Hàm lượng Lipit: Hàm lượng chất béo thô trong nấm ăn dao động
từ 1% tới 15% - 20% theo trọng lượng khô, nhưng tất cả đều thuộc các axit
béo không no như mono, di, tri- glyceride, steral, sterol ester và photpho
lipide (Holtz và Schider 1971).
* Hàm lượng Gluxit và Xenlulo:
Trong nấm ăn có tới 30- 93% là chất gluxit nó không chỉ là chất dinh
dưỡng mà còn có chất đa đường (poly saccharide) và hợp chất của đa
đường có tác dụng chữa bệnh, nhất là chống khối u. Thành phần đa đường
trong nấm ăn là các đường đơn như Glucose, Semi – lactose, xylose,
arabinose, các chất đường đơn như hexose (6 cácbon) vừa là nguồn năng
lượng vừa là hợp chất đường đa.
- Nấm chứa ít chất đường với hàm lượng thay đổi từ 3-28% trọng
lượng tươi. Ở nấm rơm, lượng đường tăng lên trong giai đoạn phát triển từ
dạng nút sang dạng kéo dài, nhưng lại giảm khi trưởng thành.
- Nấm rơm chứa nhiều sinh tố A, B, C, K, E…
- Nấm rơm được ghi nhận là dòng giàu Na, K, Ca, P và Mg, chúng
chiếm từ 56-70% lượng tro tổng cộng.
Nấm rơm là món ăn có tác dụng ngăn ngừa ung thư. Đặc biệt trong
nấm rơm đều có chất chống lão hóa mang tên L – ergothionrine, chất này
chỉ có ở nấm và không bị mất đi trong quá trình chế biến.
Trong thành phần của nấm rơm có hàm lượng khoáng chất potassium
cao, có khả năng ngăn chặn chứng cao huyết áp rất nguy hiểm ở người.

12
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm trên thế giới
Ngành sản xuất nấm nói chung và ngành sản xuát nấm rơm nói riêng
đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trục năm nay. Nấm rơm
được trồng đầu tiên tại Trung Quốc sau đó lan rộng sang các nước Đông
Nam á và Bắc Phi và dần lan rộng ra khắp các nước trên thế giới.
Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất
nhiều loại nấm ăn như nấm rơm, nấm mỡ, nấm hương, nấm sò…, khu vực
Bắc Mỹ và Châu Âu, trồng nấm theo phương pháp công nghiệp. Những
nhà máy sản xuất nấm có công suất từ 200 - 1000 tấn/năm được cơ giới hóa
cao. Khu vực Châu á (Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung
Quốc…).
Thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài
Loan, các nước Châu Âu…, hàng năm các nước này phải nhập khẩu từ
Trung Quốc (nấm muối và nấm đóng hộp). Tại các nước này do khó khăn
về nguồn nguyên liệu và giá công lao động rất đắt nên những người nuôi
trồng nấm và kinh doanh mặt hàng này đang chuyển dịch sang các nước
chậm phát triển để mua nguyên liệu và chế biến tại chỗ. Nguồn nguyên liệu
rơm rạ ở các nước có nền nông nghiệp lúa nước, lúa mạch phát triển rất
nhiều không được sử dụng vào trồng nấm, mà người dân đem đốt trên các
cánh đồng, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt của
con người, phá hoại các vi sinh vật, động vật có ích cho công tác sản xuất
cho nông nghiệp.
Bảng 2: Sản lượng nấm rơm trên thế giới trong nhưng năm gần đây
Năm 1975 1979 1986 1990 1997
Sản lượng 42 49 178 253 181
(Tài liệu 2)
Thị trường nấm ăn trên thế giới rất lớn, hiện nay là Mỹ Nhật Bản,
Hồng Công, Đài Loan, và các nước Châu Âu hàng năm các nước này đã
nhập khẩu từ các nước như: Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, chủ yếu ở

Ngoài Trung Quốc, nghề nuôi trồng nấm ăn cũng phát triển trên mọi
châu lục. Các kết quả nghiên cứu nấm ăn và nuôi trồng nấm ăn trên thế giới
được công bố, trên các tạp chí như Mushrooms ( Nhật Bản), Transaction of
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
14
the Mycologicial Society of Japan (Nhật Bản), Mushrooms Journal (Anh),
Mushrooms News (Mỹ), Mushrooms Information (Italia), Mushrooms
Journal for the Tropios (Hội nấm nhiệt đới quốc tế), Mushrooms Science
(Các hội nghị quốc tế về nấm),v.v…
Nhìn chung, nghề trồng nấm phát triển mạnh và rộng khắp. Nhất là
trong 20 năm gần đây. Theo đánh giá của Hiệp hội khoa học nấm ăn Quốc tế
(ISMS), có thể sử dụng 250 phế phụ liệu của Nông – Lâm nghiệp để trồng
nấm, đem lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội. Sản xuất đem lại nguồn thực phẩm
sạch, tạo công ăn việc làm tại chỗ, vệ sinh môi trường đồng ruộng, chống lại
việc đốt rơm rạ, xử lý gọn các phế liệu bông khi đã thu lấy sợi xong, tạo ra
nguồn phân hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần vào chu trình chuyển hóa vật
chất. Trong sinh học, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nghề nấm
về chọn, tạo giống nấm, về kỹ thuật nuôi trồng và sự bùng nổ thông tin. Nghề
trồng nấm đã và đang trên toàn thế giới được coi là nghề xóa đói giảm nghèo
và làm giàu, thích hợp với các vùng nông thôn, miền núi.
2.3. Thực trạng về tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở Việt Nam
Ở Việt Nam nấm ăn cũng được biết đến từ lâu, từ những năm 70 của
thế kỷ XX nhân dân ta đã biết trồng nấm. Tuy nhiên chỉ khoảng 10 năm
gần đây nghề trồng nấm mới được xem như một nghề mang lại hiệu quả
kinh tế và mới thật sự phát triển.
Khoảng hơn 10 năm trở lại đây đời sống nhân dân tăng lên cùng với sự
phát triển của các khoa học công nghệ, thông tin… Thì cây nấm mới được
quan tâm và nghiên cứu về nó với việc tạo ra hàng loạt các chủng giống có
năng suất cao mang lại hiệu quả kinh tế giúp xóa đói giảm nghèo cho bà con
nông dân thì nghề trồng nấm mới thu hút được sự quan tâm có các nhà khoa

0
C nên có thể sản xuất quanh
năm. Nơi đây lại là nơi vựa lúa của cả nước nên có nguồn nguyên liệu dùng
để sản xuất rất dồi dào. Nguồn lao động ở các vùng nông thôn, những ngày
nông nhàn, thậm chí trong mùa vụ số lượng không có việc làm rất lớn. Trên
cơ sở đó, thì con đường phát triển nuôi trồng nấm tương đối dễ thực hiện.
Sản lượng nấm tính theo cấp số nhân: Từ trước năn 1990 mới đạt con
số vài tấn /năm. Đến năm 2001 đạt trên 40.000 tấn/năm. Tới nay, năng suất
đạt trên 150.000 tấn/năm. Sản lượng các tỉnh phía Nam chiếm tới 90% tổng
sản lượng nấm rơm của cả nước chủ yếu ở các tỉnh như: Long An, An
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
16
Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang…Các tỉnh
này phát triển rất nhanh và ngày càng quy mô hơn.
* Ở miền Bắc : do sự ảnh hưởng của khí hậu có hai mùa nóng và lạnh
rõ rệt nên ngành sản xuất nấm rơm còn có sự hạn chế và các tỉnh chủ yếu
sản xuất nấm Sò, nấm Linh Chi, Mộc Nhí, nấm Mỡ. Còn nấm rơm thì tranh
thủ vào mùa hè trồng với diện tích là không lớn lắm, nên sản lượng còn
thấp chủ yếu là dùng trong nội địa như các tỉnh: Hà Nội, Hải Phòng, Nam
Định,…Thị trường tiêu thụ chủ yếu là các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải
Phòng. Giá bán ở Hà Nội từ 20.000 - 30.000 đồng/Kg nấm tươi.
Bên cạnh đó, do thiếu sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp nên
dẫn tới tình trạng nấm làm ra không biết bán cho ai, trong khi doanh nghiệp
thì khan hàng.Theo như nhận định của GS. TS Nguyễn Hữu Đống (Trung
tâm Công nghệ Sinh học Thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp) cho rằng:
“Việt Nam có nhiều khả năng xuất khẩu nấm nhưng do vùng sản xuất
nguyên liệu chưa đủ lớn nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong
việc thu mua, chế biến và xuất khẩu". Hàng năm việc sản xuất nấm rơm đã
mang lại cho ngân sách nhà nước hàng trục tỉ đồng nhờ vào suất khẩu chủ
yếu là các tỉnh phía Nam và mặt hàng là nấm khô và nấm muối vào các

Mỹ, Canada, sản lượng nấm rơm xuất khẩu năm nay tăng so với năm 2005
nhưng chỉ đạt 92% kế họach năm.
*Một số tỉnh trồng nấm rơm tiêu biểu như:
- Tỉnh An Giang trong chương trình khai thác thế mạnh kinh tế
chuyển đổi cũng xem trồng nấm rơm mang lại cho nông dân nhiều mối lợi
cần phát huy đúng mức. Lợi nhuận thu được 4 triệu đồng/công. Chưa kể
khoản tiền thu được từ việc bán tro rơm (nông dân đốt nền rơm sau khi thu
hoạch nấm). Bình quân 1 công nấm, tận thu được 280 giạ tro, giá bán
2.500đ/giạ. Như vậy, nhà nông phụ thu thêm được 700.000đồng.
Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông An Giang, về tình hình
hình phát triển trồng nấm rơm trong thời gian qua, cho thấy phần lớn các
hộ sản xuất đều mang tính cá thể, tự phát. Việc tiêu thụ chủ yếu lệ thuộc
vào thương lái, giá cả thường không ổn định, do chưa hình thành được
vùng sản xuất tập trung cần tiêu thụ 10 – 30 tấn nấm mỗi ngày. Hiện nay,
thị trường đang thiếu nấm rơm cho xuất khẩu và sản phẩm nấm rơm Việt
Nam đang được ưa chuộng trên thị trường nước ngoài. Toàn tỉnh có 51 tổ
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
18
sản xuất nấm, trong đó có 3.400ha nấm rơm sản xuất luân vụ quanh năm
cho thu nhập trên 50 triệu đồng/ha, cao gấp 3 lần so với trồng lúa. Năng
suất cao tập trung tại các huyện: Thoại Sơn, Chợ Mới, Châu Phú. Nằm
trong chương trình khuyến nông chuyển đổi sản xuất trên nền trồng lúa.
Tỉnh An Giang trong năm 2007 đã hỗ trợ 1 tỷ đồng tiền vốn ưu đãi cho
hàng chục cơ sở chế biến và tiêu thụ nấm rơm trên địa bàn phục vụ mục
đích mở mang nghề trồng nấm rơm. Nhờ vậy, đã giúp tạo công ăn việc làm
cho trên 3.500 lao động thường xuyên và gần 20.000 lao động mùa vụ.
Việc gắn sản xuất với tiêu thụ hàng hóa cho nông dân trong chương trình
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi khẳng định hướng đi đúng của An
Giang trong tầm nhìn về cây nấm rơm trong tương lai.
- Tỉnh Sóc Trăng, gần đây còn xây dựng đề án khuyến khích trồng

Nhận thấy hiệu quả mà nghề trồng nấm mang lại, cho người nông dân
tại các tỉnh thành phố, liên minh hợp tác xã, thành phố Hải Phòng đã tiến
hành triển khai sản xuất nấm thương phẩm tới một số huyện trên địa bàn và
đem lại một số hiệu quả kinh tế cao. Sau 9 tháng triển khai ở một số hợp
tác xã, doanh nghiệp và 42 hộ gia đình với 100 tấn nguyên liệu, thu được
24.000 kg nấm thương phẩm, trị giá 300 triệu đồng, lãi gần 200 triệu đồng.
Tính hiệu quả kinh tế, đạt gần 600 triệu đồng/ ha trong thời gian 4 tháng,
vượt xa so với cây lúa.
- Nghề trồng nấm ở tỉnh ven biển như Nam Định mấy năm trở lại đây
rất phát triển, một số huyện như: Nghĩa Hưng, Xuân Trường,…, hàng năm
đưa ra thị trường hàng trăm tấn nấm. Nghề nấm ở đây phát triển rộng khắp
trên toàn tỉnh, giảm bớt được lượng phế liệu đáng kể của nông nghiệp,vừa
giảm thiểu ôi nhiễm môi trường mà thu hút được sự chú ý của nhiều dân
nghèo nhất là đối với chị em hội phụ nữ ở đây giảm bớt gánh nặng gia đình
và nhất là cho hộ gia đình đang muốn thoát nghèo của tỉnh.
Cùng với sự phát triển nấm của các tỉnh phía Bắc, Tỉnh Bắc Giang từ
năm 1995 Giáp Tết, nấm, mọc nhĩ khô được đóng vào từng bao tải lớn đưa
đi tiêu thụ ở Hà Nội, Quảng Ninh, Lạng Sơn Còn với nấm sò, nấm
mỡ,nấm rơm thu hái đến đâu được bán tươi đến đó. So với trồng rau và cấy
lúa, trồng nấm có thu nhập cao hơn hẳn. Thế nhưng, chỉ được chừng 5 năm
sôi động, Xác định Bắc Giang có điều kiện thuận lợi để phát triển nghề
trồng nấm bởi nguồn lao động và nguyên liệu dồi dào, thị trường tiêu thụ
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
20
ngày càng mở rộng, từ năm 2005, ngành Nông nghiệp đã chuẩn bị một kế
hoạch dài hạn phát triển nghề trồng nấm. Việc đầu tư trang thiết bị cho cơ
sở sản xuất giống nấm được xúc tiến với tổng số vốn gần 1 tỷ đồng. Công
tác chuyển giao kỹ thuật, mô hình liên kết sản xuất, thu mua nấm được xây
dựng với mục đích thăm dò thị trường và tạo điểm để nhân rộng. Năm
2006, thì 6 xã trong huyện Yên Dũng được chọn xây dựng mô hình điểm

nứơc có trên 40 triệu tấn phế liệu, chỉ cần sử dụng khoảng 10 – 15% lượng
nguyên liệu này để nuôi trồng nấm, đã tạo ra trên 1 triệu tấn nấm/năm và
hàng trăm ngàn tấn phân hữu cơ.
- Trong những năm gần đây, nhiều đơn vị nghiên cứu ở các viện,
trường, trung tâm đã chọn, tạo ra được một số chủng giống nấm có khả
năng thích ứng với môi trường Việt Nam cho năng suất khá cao, các tiến bộ
kỹ thuật về nuôi trồng, chăm sóc, bảo quản và chế biến ngày càng được
hoàn thiện. Trình độ và kinh nghiệm của người dân được nâng cao. Năng
suất trung bình các loại nấm đang nuôi trồng hiện nay cao gấp 1,5 - 3 lần so
với 10 năm về trước.
- Vốn đầu tư để nuôi trồng nấm, so với các ngành sản xuất khác
không lớn vì đầu tư chủ yếu là công lao động (chiếm khoảng 30% - 40%
giá thành một đơn vị sản phẩm). Nếu tính trung bình để giải quyết việc làm
cho một lao động chuyên trồng nấm ở nông thôn hiện nay có mức thu nhập
800.000 - 900.000đồng/tháng, chỉ cần một số vốn đầu tư khoảng 10 triệu
đồng và 100m2 diện tích đất để làm lán trại.
- Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và xuất khẩu ngày càng mở rộng
như EU, Trung Quốc, Nhật Bản,Mỹ…
- Vòng đời của nấm rơm là rất ngắn nhanh thu hoạch, nhanh thu hồi
được vốn do đó có thể lấy ngắn nuôi dài để sản cuất mặt hàng khác và cũng
có thể ngừng sản xuất nếu thị trường nấm rơm biến động đây cũng là lợi
thế của việc sản xuất nấm rơm
- Phát triển nghề sản xuất nấm rơm còn có ý nghĩa góp phần giải
quyết vấn đề ô nhiễm môi trường. Phần lớn, rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ở
một số địa phương đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng, hoặc ném xuống kênh
rạch, sông ngòi gây tắc nghẽn dòng chảy. Đây là nguồn tài nguyên rất lớn
nhưng chưa được sử dụng, nếu đem trồng nấm, không những tạo ra nguồn
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
22
thực phẩm có giá trị cao mà phế liệu sau khi trồng nấm được chuyển sang

23
- Công tác nghiên cứu về công nghệ chọn, tạo giống, công nghệ nuôi
trồng các loại nấm ăn đạt năng suất cao, giá thành hạ, công nghệ bảo quản,
chế biến nấm đạt chất lượng ở các trung tâm nghiên cứu và cơ sở sản xuất
chưa được chú trọng.
Công nghệ sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến nấm hiện nay, được
du nhập từ Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và các nước Châu Âu. Trong
quá trình nghiên cứu và triển khai sản xuất có sự thay đổi để phù hợp với
điều kiện tự nhiên, xã hội của Việt Nam, song năng suất thu hoạch còn rất
thấp (đạt 50% so với thế giới)
- Việc tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn về giá trị dinh dưỡng và
cách ăn, nấm trên các thông tin đại chúng còn quá ít. Mọi người chưa tiếp
xúc với nấm ăn còn rất nhiều, có người còn chưa được nhìn thấy, có cảm
giác lạ và sợ nấm. Phần lớn nguời dân Việt Nam chỉ biết đến nấm hương,
mộc nhĩ và nấm sò. Để tạo ra thị trường tiêu thụ nội địa được tốt, mọi
người Việt Nam đều biết ăn nấm, xem nấm như là một loại thực phẩm quý
thì công tác tuyên truyền là rất cần thiết. Hiện nay giá bán nấm tươi ngoài
thị trường rất cao (nấm rơm 20.000 - 30.000đồng/1kg) người sản xuất chỉ
bán với giá bằng 30 - 50% giá bán lẻ trên với số lượng lớn là thị trường đã
nhộn nhịp hẳn lên rồi. Nhiều nguời muốn ăn nấm mà không biết mua ở đâu
và ngược lại người trồng ra nấm không biết bán nơi nào.
- Hiện tượng “tranh mua, tranh bán”, đối với các cơ quan chức năng,
làm công tác xuất khẩu nấm đã diễn ra. Số lượng nấm rơm, thời gian qua ở
các tỉnh phía Bắc chưa đáng kể, chủ yếu là tiêu thụ nội địa, một số đơn vị
thu gom xuất khẩu mỗi nơi chào một giá khác nhau. ở các tỉnh miền Nam,
số lượng nấm rơm rất nhiều, các khách hàng nước ngoài khai thác được “
sự cạnh tranh không lành mạnh” này đã ép cấp, ép giá. Nhà nước chưa có
hệ thống tổ chức chỉ đạo tổng thể từ cơ quan nghiên cứu đến các cơ sở sản
xuất, xuất khẩu nấm.
- Nhiề hộ gia đình vẫn chưa thực sự gắn bó tâm huyết với nghề nấm

người địa phương chủ yếu là nữ giới.
Với diện tích rất là nhỏ và chỉ có 2 lò hơi (trong đó 1 lò hoạt động) và
1 nhà ươm cùng với 10 nhà treo nấm khoảng 40m
2
trên một nhà,cùng với 1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Văn Đạt K – 8K
25

Trích đoạn Lượng nguyờn liệu Thời gian nuụi sợi, chăm súc và thu hỏi Tớnh hiệu quả kinh tế trờn nguyờn liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status