đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LÃ THỊ THUÝ ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT, CHẤT LƢỢNG VÀ KHẢ NĂNG
KHAI THÁC HAI LOÀI CỎ CÓ NGUỒN GỐC TỰ
NHIÊN TẠI HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thái Nguyên - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Cỏ hoà thảo và đặc tính sinh thái, sinh học của chúng 3
1.1.2. Đặc tính sinh lý 5
1.1.3. Đặc tính sinh trƣởng 6
1.1.4. Thời gian sống của cỏ Hoà thảo 7
1.2. Một số nghiên cứu về cỏ Hoà thảo 7
1.2.1. Tình hình nghiên cứu cỏ trên thế giới 7
1.2.1.1. Diện tích trồng cỏ trên thế giới 7
1.2.1.2. Những nghiên cứu về khả năng tái sinh của cỏ Hoà thảo 8
1.2.1.3. Những nghiên cứu về năng suất của cỏ Hoà thảo 10
1.2.1.4. Những nghiên cứu về ảnh hƣởng của phân bón đến năng suất của
cỏ 13
1.2.1.5. Ảnh hƣởng của thức ăn xanh tới sản lƣợng sữa 15
1.2.2. Tình hình nghiên cứu cỏ trong nƣớc 16
1.2.2.1. Diện tích trồng cỏ chăn nuôi gia súc ở Việt Nam trong thời gian
qua 16
1.2.2.2. Các loài cỏ trồng làm thức ăn gia súc ở Việt Nam 17

2.3.2. Điều kiện kinh tế, xã hội của xã Tiến Bộ 51
2.3.2.1. Nguồn nhân lực 51
2.3.2.2. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp 51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chƣơng 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 53
3.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 53
3.2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 53
3.2.1. Nội dung nghiên cứu 53
3.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 53
3.2.2.1. phƣơng pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên 53
3.2.2.2. Thực nghiệm trồng cỏ 54
3.2.2.3 Phƣơng pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 56
3.3 Xử lý số liệu 64
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 65
4.1. Tình hình chăn nuôi gia súc tỉnh Tuyên Quang 65
4.1.1. Phƣơng hƣớng phát triển Chăn nuôi giai đoạn 2006 - 2010 65
4.1.2. Dự án nuôi dê lai tại tỉnh Tuyên Quang 67
4.1.3. Ngành chăn nuôi bò ở Tuyên Quang 69
4.1.4. Tuyên Quang xây dựng thƣơng hiệu trâu Tuyên Quang 71
4.2. Tình hình chăn nuôi của huyện Yên Sơn 74
4.2.1. Số lƣợng đàn gia súc của huyện Yên Sơn đầu năm 2010 74
4.3. Đặc điểm sinh thái, sinh học của hai loài cỏ thí nghiệm 76
4.3.1. đặc điểm sinh thái, sinh học của loài cỏ Lau (Saccharum
arundinaceum 76
4.3.2. Đặc điểm sinh thái, sinh học của cỏ Mật (Coelorachis striata) 76
4.4. Năng suất và chất lƣợng của hai loài cỏ trong điều kiện tự nhiên 77
4.4.1. Năng suất của hai loài cỏ trong điều kiện tự nhiên 77
4.4.2. Chất lƣợng của hai loài cỏ trong điều kiện tự nhiên 79

quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa có ai công bố. Tác giả

Lã Thị Thuý Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
khoa học, Tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ quý báu của Nhà trƣờng và địa
phƣơng. Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:
Thầy giáo PGS – TS Hoàng Chung đã tận tình hƣớng dẫn để tôi hoàn
thành luận văn này.
Các thầy cô giáo, các cán bộ, nhân viên khoa Sinh – KTNN trƣờng
Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên; Cán bộ , nhân viên Viện Khoa học sự sống –

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Năng suất VCK và hàm lƣợng protein một số giống cỏ ở vùng
đất thấp đƣợc cắt ở 45 ngày tuổi. 12
Bảng 1.2. Sản lƣợng của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày 13
Bảng 1.3 : Giá trị dinh dƣỡng một số cây thức ăn chăn nuôi cơ bản 29
Bảng 2.1 : Khí hậu huyện Yên Sơn năm 2009 - 2010 44
Bảng 2.2: Diện tích huyện Yên Sơn năm 2005 46
Bảng 2.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Sơn 50
Bảng 2.4: Diện tích xã Tiến Bộ năm 2009 51
Bảng 2.5: Các loại cây trồng chính của xã Tiến Bộ năm 2009 52
Bảng 2.6: Các loài vật nuôi chính của xã Tiến Bộ 52
Bảng 4.1: Số lƣợng gia súc của huyện Yên Sơn năm 2010 74

gia súc ăn cỏ nhƣ: Trâu, bò, dê, cừu, thỏ, nhím, hƣơu, nai vv. Với nhu cầu
trung bình 30 kg thức ăn thô xanh của trâu, bò; 5 - 7 kg/ngày ở dê, cừu, hƣơu,
nai; 3 - 5 kg/ngày ở thỏ, nhím [15] Là bài toán khá phức tạp với chăn nuôi
của nông hộ khi việc chăn thả tự nhiên ngày càng khó khăn do diện tích đồng
cỏ ngày càng bị thu hẹp và kém hiệu quả.
Nƣớc ta có nhiều đồng cỏ tự nhiên phân bố khắp cả nƣớc. Những đồng
cỏ này không có sự chăm sóc của con ngƣời nên sản lƣợng cỏ không cao. Mặt
khác do sự chăn thả quá mức của con ngƣời nên các đồng cỏ đang dần bị tàn
phá, bị sa mạc hoá, diện tích giảm nhanh. Bên cạnh đó, Việt Nam vốn chƣa
có một đồng cỏ chăn nuôi nào đúng nghĩa của nó, mà chăn nuôi chủ yếu là
tận dụng chăn thả tự nhiên nên hiệu quả chăn nuôi còn thấp. Với thực trạng
này, để chủ động nguồn cỏ phục vụ chăn nuôi thì giải pháp tốt nhất cho các
nông hộ chăn nuôi trâu, bò với số lƣợng lớn là phải trồng cỏ. Trồng cỏ mới có
đủ số lƣợng thức ăn để phát triển mạnh ngành chăn nuôi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã tiến hành trồng nhiều giống
cỏ cao sản nhập nội từ nƣớc ngoài và đã đem lại kết quả tốt. Có nhiều giống
cỏ rất phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam. Nhƣng cũng có nhiều
giống cỏ bị thoái hoá, đa phần là chất lƣợng không cao, vật chất khô và
protein thấp. Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới, hệ thực vật rất phong phú, có
nhiều loài cỏ tự nhiên có chất lƣợng tốt, năng suất tự nhiên cũng khá cao, dễ
trồng, tái sinh nhanh và không tàn lụi trong mùa đông.
Cùng với nhiều cây trồng đƣợc khai thác làm thức ăn gia súc, hiện nay
có loài cỏ Mật (cỏ Dày hoặc cỏ Thừng) đã đƣợc đƣa vào trồng và khai thác
làm thức ăn gia súc hai năm gần đây tại tỉnh Bắc Ninh. Để góp phần đánh giá
đặc điểm sinh thái, sinh học của nó, đặc biệt là năng suất và chất lƣợng,
chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm trồng loài cỏ này tại tỉnh Tuyên Quang.
Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành trồng thử nghiệm một loài cỏ mới, rất

khác nhau.
Một số loài có thể sinh trƣởng đƣợc ở các vùng đất khô hạn, độ ẩm
trung bình từ 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhƣng chúng vẫn sinh trƣởng
và phát triển tốt nhƣ: Cỏ Xƣơng cá, cỏ Lông đồi (Eulalia), cỏ B.decumbens
[17]
Một số loài cỏ lại sinh trƣởng đƣợc ở những vùng đất ẩm thấp, độ ẩm
lớn từ 60 - 80%, mùa khô độ ẩm thấp hơn nhƣng chúng vẫn sinh trƣởng bình
thƣờng nhƣ: Cỏ Paspalum atratum, cỏ Đuôi bò (Festuca rubra), cỏ Đuôi mèo
(Pleuin pratense)
Có loài sống đƣợc ở cả những nơi đất ngập nƣớc, đất lầy thụt nhƣ: Cỏ
Môi (Leersia hexandra), cỏ Bấc (Juncus effusus), cỏ Lồng vực (Echinochloa
crusgalli) vv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
Trên cơ sở những hiểu biết về đặc điểm sinh thái của các loài cỏ mà ta
có thể chọn và trồng những loài cỏ nào đó thích nghi với những điều kiện có
khí hậu và thổ nhƣỡng tƣơng tự nhƣ vùng gốc của chúng.
Cỏ Hoà thảo có thân hình tròn hay bầu dục, lá mọc thành hai dãy. Rễ
thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là hoa lƣỡng tính.
Căn cứ vào hình dáng thân và đặc điểm sinh trƣởng của chúng, ngƣời ta
chia cỏ Hoà thảo thành các loại sau:
* Loại thân rễ: Thân luôn nằm dƣới mặt đất và chia nhánh ở dƣới mặt
đất, đại diện là cỏ Tranh. Loại này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thƣa, độ che
phủ thấp, thích hợp chăn thả nhẹ, không chăn thả gia súc quá đông và lâu vì
cỏ này không chịu đƣợc giẫm đạp và vùng đất dí chặt.
* Loại thân bụi: Loại này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh, thân rễ ngắn mọc
đứng tạo thành bụi nhƣ khóm lúa. Nhánh có thể đƣợc sinh ra dƣới mặt đất
hoặc trên mặt đất. Cỏ này thƣờng có năng suất cao nhƣng đòi hỏi đất phải tơi
xốp và thoáng khí. Do tốc độ đẻ nhanh, cao nên đòi hỏi phải trồng thƣa, có

Cỏ Hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn và đạm (N), lân (P), kali (K).
Nhu cầu về N, P, K tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của cỏ.
+ Giai đoạn I (Từ nảy mầm tới phân nhánh): Cần nhiều N, P, K.
+ Giai đoạn II (Phân nhánh) : Cần nhiều N, P.
+ Giai đoạn III (Ra hoa, hình thành hạt): Cần nhiều P, K.
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lƣợng phân bón càng lớn, đồng
thời cần chống rét cho cỏ bằng cách bón phân cho cỏ vào cuối mùa thu đầu
mùa đông.
* Nhu cầu về không khí
Các loại cỏ thuộc thân đứng, thân bụi, thân rễ chia nhánh dƣới mặt đất
thì đòi hỏi đất phải tơi xốp, thoáng khí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
Các loại cỏ thuộc thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể
chịu đƣợc đất kém thoáng khí và có độ ẩm thấp hơn.
1.1.3. Đặc tính sinh trưởng
Theo David W. Pratt 1993 [44], thì tính hiệu quả của cỏ là làm biến đổi
năng lƣợng mặt trời thành lá xanh để động vật có khả năng thu nhận chúng,
tuy nhiên sử dụng năng lƣợng từ lá lại phụ thuộc vào những chu kỳ phát triển
của cây. Các giống cỏ nói chung và cỏ Hoà thảo nói riêng, sinh trƣởng và tái
sinh qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng.
* Giai đoạn I
Đây là giai đoạn cỏ mới gieo trồng hay sau khi cây cỏ mới đƣợc thu cắt,
tốc độ sinh trƣởng chậm vì diện tích quang hợp nhỏ. Cây cỏ ở trong giai đoạn
I sinh trƣởng rất chậm, lá vô cùng ngon và có giá trị dinh dƣỡng cao nhƣng số
lƣợng ít.
* Giai đoạn II
Cỏ sau khi gieo trồng hoặc sau khi thu cắt hay chăn thả 10 - 15 ngày tới
35 - 40 ngày. Cỏ bƣớc vào thời gian phát triển nhanh nhất. Trong giai đoạn

Pangola, cỏ Voi, cỏ Ghinê, Paspalum, Brizantha
* Loại cỏ có sức sống lâu: Chúng có thể sống từ 6 - 10 năm nhƣ: Cỏ
Tƣớc mạch không râu
Căn cứ vào sức sống của các loại cỏ mà ngƣời ta dự tính thời gian trồng
lại để đảm bảo năng suất và chất lƣợng của các loại cỏ.
1.2. Một số nghiên cứu về cỏ Hoà thảo
1.2.1. Tình hình nghiên cứu cỏ trên thế giới
1.2.1.1. Diện tích trồng cỏ trên thế giới
Để phát triển ngành chăn nuôi gia súc nói chung và gia súc nhai lại nói
riêng thì một trong những vấn đề cơ bản đầu tiên cần giải quyết là nguồn thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
ăn xanh. Thực tế, có hai phƣơng thức để cung cấp dinh dƣỡng cho gia súc
nhai lại, đó là nguồn thức ăn tinh và thức ăn thô xanh (trên 60% nhu cầu dinh
dƣỡng của gia súc nhai lại đƣợc thoả mãn bằng thức ăn xanh). Chính vị vậy,
nguồn thức ăn thô xanh đƣợc đặc biệt chú ý nhất là đối với các nƣớc có nền
kinh tế còn kém phát triển cũng nhƣ các nƣớc phát triển. Ở những nƣớc này
việc phát triển đồng cỏ không chỉ cung cấp nguồn thức ăn thô xanh mà còn
dùng dự trữ cho gia súc nuôi nhốt. Cùng với sự phát triển của ngành chăn
nuôi động vật nhai lại đã đòi hỏi ngƣời chăn nuôi ở nhiều nƣớc trên thế giới
phải trồng cỏ để đáp ứng nhu cầu cỏ cho gia súc nhai lại
Sau cuộc "cách mạng về thức ăn gia súc" ở Tây Âu mà đặc biệt là ở
Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng
đƣợc chú ý và sử dụng đúng với vai trò của nó. Năm 1842 ở Pháp chỉ có 4
triệu ha đất trồng cỏ và 15 triệu ha đất trồng ngũ cốc thì hiện nay ở Pháp có
12 triệu ha đất trồng cỏ và 8 triệu ha đất trồng ngũ cốc [20].
Ở Anh diện tích đất trồng ngũ cốc giảm đi và diện tích đất trồng cỏ
cùng các loại cây thức ăn gia súc khác tăng lên đáng kể.
Ở Liên Xô cũ, diện tích đất trồng cỏ năm 1913 là 2,1 triệu ha, đến năm

có nguồn gốc châu Phi, chúng đƣợc chấp nhận ở thể lƣỡng bội hữu tính nhƣ:
Cỏ B. ruziziensis và sự tồn tại của cỏ Brachiaria (B. briantha, B. decumbens
và B. humidicola) ở thể đa bội kiểu sinh sản vô tính. Những cỏ này đƣợc phát
triển từ đầu thập niên 70, nhƣng do sự lai tạo chƣa đầy đủ nên đến giữa thập
niên 80, thể tứ bội kiểu sinh học hữu tính của B. ruziziensis mới đƣợc phát
triển tiếp ở Bỉ. Sau đó thí nghiệm đầu tiên về dòng lai đã đƣợc kiểm tra ở
Colombia vào năm 1989, nhƣng không đƣợc phát triển tiếp. Sau này, công ty
sản xuất giống cỏ của Mexico đã nhân giống cơ bản và thƣơng mại hoá cỏ
trồng Brachiaria lai đầu tiên bằng sinh sản vô tính dƣới cái tên "Mulato".
Thuộc tính đầu tiên là chúng có sản lƣợng cao và chất lƣợng tốt. Cỏ lai thứ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
hai, đƣợc gọi là "Mulato II" tại thời điểm trƣớc khi đƣa ra chính thức. Mulato
II có khả năng đề kháng với rệp tốt hơn Mulato và thích nghi tốt với điều kiện
khô hạn. Tuy nhiên, đến năm 2005 thì ngƣời ta phát hiện thấy hiệu quả của
giống Mulato II là rất giới hạn. Vì vậy, hiện nay ngƣời ta vẫn tiếp tục lai tạo,
lựa chọn, tìm kiếm sản phẩm cây lai mới với mục đích làm tăng khả năng đề
kháng với rệp dãi, tăng năng suất, chất lƣợng cỏ và sản lƣợng hạt.
Theo các tác giả H. D. Diaz l và J. O. Sierria P [45], đã tiến hành ba
cách nhân giống với ba khoảng cách trồng của các giống cỏ B. humidicola và
B. dictyoneura tại đại học Antioquia. Với ba khoảng cách trồng khác nhau là:
0,5m; 1,0m; 1,5m và ba cách nhân giống khác nhau là: hạt, cành, gốc. Theo
thông số ghi đƣợc cứ 21 ngày một lần trong suốt giai đoạn 252 ngày theo các
chỉ tiêu sau: Phần trăm nẩy mầm, số lƣợng trung bình thân/khóm, khoảng
cách đốt, số lƣợng đốt trên thân, độ dài trung bình của lá, phần trăm che phủ.
Kết quả cho thấy, nếu dùng thân lá (195 ngày) và gốc (154 ngày) còn dùng
hạt phải mất 92 ngày nữa để đạt độ che phủ mặt đất 80% đối với cả hai loại (
với độ tin cậy P<0,01). Ở khoảng cách cây giống: Độ che phủ 80% mặt đất ở
cả hai loài là 109, 169 và 176 ngày lần lƣợt ở 0,5m; 1m và 1,5m. B.

nhà sản xuất ở khu vực, đã đánh giá tiềm năng của cỏ lai trong vụ mùa kết
hợp với cỏ lai mới với ngô để phục hồi lại đồng cỏ Braquiaria đã bị suy thoái.
Hạt cỏ thƣơng phẩm trộn lẫn với 250 kg/ha phân hỗn hợp của hãng Calfos
(4% P, 37% Ca) đƣợc gieo với khoảng cách luống 50 cm với mật độ 4,3 kg
hạt cỏ/ha. Sau 45 ngày, sự nẩy mầm của hạt là 80% với mật độ trung bình là 6
cây/m
2
. Sản lƣợng vật chất khô thu đƣợc sau 95 ngày trồng là 5,3 tấn/ha,
trong khi đó những loại khác chỉ đạt 3,6 tấn/ha, tỷ lệ protein thô là 12% và vật
chất khô tiêu hoá là 65,1%. Ở trang trại khác trong cùng khu vực, ngô cv.
Mulato phối hợp với cỏ, 138 ngày sau khi trồng có năng suất là 3,7 tấn/ha,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
năng suất tƣơng đƣơng với ngô, và cỏ Brachiaria lai Mulato là 4,2 tấn/ha,
tiếp tục cho chăn thả với 39 con bò với tỷ lệ 2,6 con/ha (bò chửa và bò tơ) ở
24 tháng và 36 tháng tuổi, khối lƣợng sống trung bình là 446,2 kg thì cho tăng
khối lƣợng hàng ngày là 1675g/con.
Tại Thái Lan, sản lƣợng vật chất khô của một số giống cỏ đƣợc trồng
trên vùng đất thấp đƣợc cắt ở 45 ngày tuổi thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1: Năng suất VCK và hàm lượng protein một số giống cỏ ở
vùng đất thấp được cắt ở 45 ngày tuổi.
Tên khoa học
Tên Việt Nam
Năng suất VCK
(tấn/ha)
Protein (%)
Brachiaria mutica
Cỏ lông Para
9 - 15

Thời gian cắt
Năng suất VCK (tấn/ha)
11/08/2000
8,9
11/09/2000
7,1
11/10/2000
6.9
11/11/2000
6,8
11/12/2000
4,6
11/01/2001
2,6
11/02/2001
4,1
11/03/2001
4,3
11/04/2001
5,8
11/05/2001
3,7
Nguồn: Annual Report on Annimal Nutrition Division (2001)
1.2.1.4. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của cỏ
J. Quinquim Magiero và cộng sự [51], đã tiến hành nghiên cứu ở
Planosol, vùng Baixada Fluminense trên cánh đồng thí nghiệm của đại học
Rural Federal ở Rio de Janeiro cho thấy, sự ảnh hƣởng của phân bón N và K
tới vật chất khô và đánh giá sản phẩm vật chất dƣ của đồng cỏ B. humidicola.
Sự ảnh hƣởng của 4 mức N, K đƣợc nghiên cứu nhƣ sau: N (dùng ure) là 100,
200 và 400 kg/ha, và K là: 55,6; 111 và 222,2 kg/ha, (dùng KCl); lô đối

của Brachiaria decumbens Stapf, Var. Australiana đối với sự bón phân bởi
các nguồn photpho khác nhau tại Itaguai ở Rio de janeiro. Thiết kế thí nghiệm
theo hình khối ngẫu nhiên với 3 nguồn photpho P (PO, không có; RF, đá phốt
phát và S, tri supe photphat), bón với tỷ lệ 20 g P2O5/m
2
tƣơng đƣơng với 200
kg/ha. Mô hình tiêu biểu cho từng thời vụ đƣợc quan sát về sản phẩm vật chất
khô và tỷ lệ tích tụ phốt pho trung bình. Sự phối hợp của tri supe phốt phát
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
hay đá Araxas phốt phát trong thời gian trồng cây có ý nghĩa làm tăng sản
phẩm vật chất khô, vào thời điểm đầu tiên lần lƣợt là 201% và 112%, so với
đối chứng không có P. Trong thời gian thu cắt thứ hai, thực hiện khoảng 6
tháng sau khi trồng, B. decumbens Var. Australiana đã phản ứng mạnh trong
tăng trƣởng sản phẩm, hiệu suất sử dụng P, và tổng lƣợng P tích luỹ.
C. R. Townsend và cộng sự [56], đã nghiên cứu ảnh hƣởng của bón vôi
và phân (N, P, K) đến sự phục hồi của đồng cỏ Brachiaria brizantha cv.
Marandu suy thoái, ở Empresa Brasileira de Pesquisa Agropecuasria
(Embrap-rondonia), Porto Velho, Brazil. Với các mức bón vôi (cơ sở là sự
bão hoà bazơ ở mức 20% và 40%) đồng thời sử dụng nitơ 50 kg và 100 kg/ha
(dùng ure), photpho là 50 và 100 kg P2O5/ha (dùng tri supe phốt phát) và Kali
là 30 và 60 kg/ha (dùng KCl). Bón phân thƣờng xuyên (hàng năm, hai năm
một lần và 3 năm một lần) là nhƣ nhau. Mẫu đất đƣợc lấy ở độ sâu 0 - 5cm và
15 - 30cm để xác định sự ảnh hƣởng của xử lý tới đặc tính hoá lý của đất.
Cation và sự thay đổi làm nhôm giảm là có ý nghĩa, trong khi đó pH đất và sự
thay đổi bazơ tăng. Ở cả hai độ sâu, tổng P tăng khi bón P phân đoạn trong 2
năm. Khi lƣợng vôi bón để làm tăng bazơ tới 20%, sự phản ứng tốt của P
trong mẫu lấy ở 0 - 15cm đất và khi bón 60 kg K2O/ha. Điều này không xảy
ra ở mức bão hoà bazơ 40%. Sự xử lý không ảnh hƣởng tới hàm lƣợng K hay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status