đánh giá nguồn than bùn và nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón chế biến từ than bùn đến sinh trưởng, năng suất lúa tại lào cai - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
*

ĐỖ HỒNG QUÂN

ĐÁ NH GIÁ NGUỒ N THAN BÙ N VÀ NGHIÊN CỨ U
NH HƯNG CA PHÂN BN CH BIN T THAN BN
ĐN SINH TRƯNG, NĂNG SUẤ T LÚ A TẠ I LÀ O CAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Hong Hi
2. PGS.TS Đặ ng Văn Minh

THÁI NGUYÊN – NĂM 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Đá nh giá nguồ n than bù n và nghiên cứ u
nh hưởng ca phân bón ch bin t than bn đn sinh trưởng, năng suấ t lú a tạ i
Lo Cai”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu, tận tình của giáo viên hướng dẫn
khoa học; Lãnh đạo Nhà trường, tập thể cán bộ, giáo viên Khoa sau Đại học, giáo
viên giảng dạy chuyên ngành các bộ môn Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, Lãnh đạo phòng Kinh tế huyện Bảo Thắng, UBND huyện Bảo Thắng,
UBND huyện Bát Xát, Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Lào Cai, Ban giám đốc
Xí nghiệp phân bón và hóa chất - Công ty TNHH MTV Apatit Việt Nam và sự
cộng tác nhiệt tình của anh, chị em, bạn bè, đồng nghiệp cùng với sự nỗ lực của
bản thân đã giúp tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến PGS. TS
Đặng Văn Minh, TS. Hoàng Hải, đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự tạo điều kiện, giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo
Đỗ Hồng Quân

ii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT <
Nhỏ hơn
=
Bằng
>
Lớn hơn

Lớn hơn hoặc bằng
CT
Công thức
CV (%)
Hệ số biến động (%)
FAO
(FAOSTAT)
Food and Agriculture Organization of the United
Nations (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
Liên Hiệp Quốc)

Với điều kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành than bùn [20].
Trong than bùn có hàm lượng chất vô cơ là 18 – 24%, phần còn lại là các chất
hữu cơ. Theo số liệu điều tra của các nhà khoa học, trên thế giới trữ lượng than bùn
có khoảng 300 tỷ tấn, chiếm 1.5% diện tích bề mặt quả đất [21]. Than bùn được sử
dụng trong nhiều ngành kinh tế khác nhau. Trong nông nghiệp than bùn được sử
dụng để làm phân bón và tăng chất hữu cơ cho đất.
Trong than bùn có axit humic, có tác dụng kích thích tăng trưởng của cây.
Hàm lượng đạm tổng số trong than bùn cao hơn trong phân chuồng gấp 2 – 7 lần,
nhưng chủ yếu ở dưới dạng hữu cơ. Để bón cho cây, người ta không sử dụng than
bùn để bón trực tiếp. Thường than bùn được ủ với phân chuồng, phân rác, phân bắc,
nước giải, sau đó mới đem bón cho cây. Trong quá trình ủ, hoạt động của các loài vi
sinh làm phân huỷ các chất có hại và khoáng hoá các chất hữu cơ tạo thành chất
dinh dưỡng cho cây [34].
Hiệ n nay, ở Lào Cai , việ c sử dụ ng than bù n và o chế biế n phân bó n vẫ n cò n
nhiề u hạ n chế , hiệ n chỉ có Công ty TNHH mộ t thà nh viên Apatit Việ t Nam khai
thác làm nền để sản xuất phân khoáng NPK, theo ướ c tí nh sơ bô, trữ lượ ng than bù n
tại một số m ở một số huyện như Bát Xát , Văn Bà n, Bảo Thắng vào khoảng trên
100.000 tấ n, ngoài ra còn rấ t nhiề u mỏ than bù n khá c.
Trong nhữ ng năm trở lạ i đây , việ c đẩ y mạ nh công tá c tuyên truyề n , vậ n độ ng
ngườ i dân tăng cườ ng sử dụ ng phân hữ u cơ dầ n thay thế cho phân khoá ng nhằ m
phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững đã đượ c tỉ nh quan tâm chỉ đạ o, song đa
phầ n ngườ i dân do lợ i í ch trướ c mắ t , thườ ng sử dụ ng phân bó n hó a họ c để bó n cho
cây trồ ng, tuy phân bó n hó a họ c có hiệ u lự c nhanh nhưng do ngườ i dân quá lạ m
dụng trong khi cây trồng ch  sử dụng được một phần, phầ n cò n lạ i nằ m lạ i trong đấ t

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

2
hoặ c bị rử a trôi, phầ n nằ m trong đấ t nà y không có tá c dụ ng dinh dưỡ ng mà cò n là m
đấ t bị chai cứng, ô nhiễ m đấ t.

3
Phầ n II
TỔ NG QUAN TÀ I LIỆ U

2.1. Cơ sở khoa hc ca đề tài
Phân bón là thức ăn của cây trồng, thiếu phân bón cây không thể sinh trưởng
và cho năng suất, phẩm chất cao. Phân bón có vai trò rất quan trọng trong việc thâm
canh tăng năng suất, bảo vệ cây trồng và nâng cao độ phì nhiêu của đất [6].
Phân hữu cơ là phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những hợp chất hữu
cơ, được hiểu rộng ra bao gồm phế phụ phẩm của cây trồng, gia súc, gia cầm ở các
giai đoạn khác nhau của quá trình phân giải và được bón vào đất nhằm cung cấp
dinh dưỡng cho cây trồng, cải thiện tính chất đất. Các nguồn phân hữu cơ bao gồm
phân chuồng; phế phụ phẩm của trồng trọt (sản phẩm dư thừa sau thu hoạch), lâm
nghiệp (mùn cưa ); than bùn; rác thải công nghiệp từ các ngành sản xuất như
ngành sản xuất giấy, đường, bùn cống rãnh và phế phụ phẩm từ ngành chế biến
nông sản [27].
Các nguồn phân hữu cơ này, nếu để tự phân giải theo tự nhiên thành các chất
vô cơ cho cây trồng có thể sử dụng được cần thời gian dài từ 6 - 7 tháng. Hiện nay,
nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu và có nhiều thành công trong lĩnh vực
sử dụng chế phâm vi sinh vật (VSV) để xử lý các nguồn phân hữu cơ làm rút ngắn
thời gian phân hủy của các chất hữu cơ, bên cạnh đó còn làm tăng hàm lượng các
chất dinh dưỡng, bổ sung VSV vào trong đất, kích thích quá trình sinh hóa trong
đất, cải thiện lý tính đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Lào Cai là một tnh miền núi , nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo,
chiếm phần lớn trong tổng thu nhập GDP toàn tnh. Trong khi đó, sản xuất nông
nghiệp của người dân địa phương, chủ yếu phụ thuộc vào phân bón hóa học, chưa
biết tận dụng tối đa nguồn hữu cơ sẵn có tại địa phương như: sản phẩm trồng trọt
sau thu hoạch, phân của gia súc, gia cầm, than bùn, rác thải sinh hoạt Các nguồn
hữu cơ này có thể sử dụng bằng cách xử lý nguyên liệu, ủ với chế phẩm vi sinh vật
trong một thời gian nhất định sẽ tạo được một nguồn phân bón hữu cơ lớn tại địa

Thống kế của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2008) cho thấy, trên thế giới
có 114 nước trồng lúa, trong đó 18 nước có diện tích trồng lúa trên trên 1.000.000

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

5
ha tập trung ở Châu Á, , 31 nước có diện tích trồng lúa trong khoảng 100.000 -
1.000.000 ha [7].
Bảng 1.1: Diện tích, năng sut và sản lƣợng lúa trên thế giới giai đoạn 1961-2009

Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng sut
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
1961
115,50
18,70
215,65
1970
133,10
23,80
316,38
1980
144,67
27,40
396,87
1990

641,09
2007
155,95
42,12
656,81
2008
159,25
43,09
685,87
2009
161,42
42,04
678,69
(Nguồn: FAOSTAT, 2010 [4] và Nguyễn Ngọc Đệ (2008) [11])

Qua bảng trên cho thấy, diện tích trồng lúa trên thế giới đã gia tăng rõ rệt từ
năm 1961 đến 1980. Trong vòng 19 năm đó, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng
bình quân 1,53 triệu ha/năm. Từ năm 1980 - 2000, diện tích lúa thế giới có xu
hướng tăng nhưng tăng chậm (bình quân 0,472 triệu ha/năm). Từ năm 2000 trở đi
diện tích trồng lúa thế giới có biến động nhưng tương đối ổn định, đến năm 2005
diện tích lúa toàn thế giới ở mức 155,03 triệu ha. Từ năm 2005 đến 2009 diện tích
lúa gia tăng liên tục (bình quân 1,6 triệu ha/năm), năm 2009 cả thế giới đạt 161,42
triệu ha, cao nhất kể từ năm 1961 tới nay.
Về năng suất lúa chung của thế giới, qua bảng 1.1 cho thấy, bình quân từ 27,4
tạ/ha năm 1980 lên 38,9 tạ/ha/vụ năm 2000 và 42,04 tạ/ha năm 2009. Năng suất lúa
tăng, đó là do sự cải tiến giống và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Nước có năng suất lúa cao nhất thế giới là Úc với 82 tạ/ha, sau đó là Bắc Triều
Tiên 75 tạ/ha, Nam Triều Tiên 62 tạ/ha, Nhật Bản 59 tạ/ha, Trung Quốc 57 tạ/ha

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

7
FAO cũng nhận định tình hình cung cầu trên thị trường lúa gạo năm 2011 là
khá ổn định, nhưng do những bất ổn về chính trị trên chính trường Thái Lan (nước
xuất khẩu gạo hàng đầu Thế Giới) cùng với những tuyên bố về tăng giá thu mua lúa
gạo cho nông dân của Đảng đối lập trong vận động tranh cử. Trong trường hợp nếu
Đảng đối lập giành thắng lợi thì giá thu mua lúa gạo tại Thái Lan sẽ tiếp tục tăng
cao, FAO nhận định. Thêm vào đó, Ấn Độ hiện tại cũng có những chính sách giới
hạn xuất khẩu nhiều loại gạo trừ loại gạo thơm Basmati. Gần đây nhất, chính phủ
Philippine cũng tuyên bố sẽ thắc chặc việc xuất khẩu gạo của nước này. Trước tình
hình này thì một số bạn hàng nhập khẩu gạo của Thái Lan, Ấn Độ, Philippine đã
chuyển hướng sang Việt Nam, nơi mà giá lúa gạo không có nhiều biến động.
Nhìn chung, sản xuất, xuất khẩu lúa gạo trên thế giới vẫn liên tục được phát
triển. Sự phát triển của nền nông nghiệp trên thế giới vẫn tăng theo mức tăng dân số
nhờ những tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật
2.2.2. Tình hình sản xut, xut khẩu lúa gạo ở Việt Nam
Lúa là cây trồng cổ truyền của Việt Nam và là cây trồng quan trọng nhất hiện nay
vì diện tích gieo trồng lúa chiếm đến 61% diện tích trồng trọt cả nước và 80% nông dân
Viêt Nam là nông dân trồng lúa. Gạo là lương thực thiết yếu hàng đầu của người Việt
Nam vì 100% của dân số 87 triệu người không ai không ăn gạo hàng ngày từ người thu
nhập thấp đến người thu nhập cao, từ nông thôn đến thành thị [14].
Chính vì tầm quan trọng của lúa gạo, thời gian qua Chính phủ Việt Nam luôn
luôn đặt phát triển lúa gạo là nhiệm vụ trung tâm của phát triển nông nghiệp và đã
có những đầu tư thích đáng cho xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thủy
lợi, nhờ vậy ch trong vòng 30 năm đã biến nhiều vùng đất khó khăn trở thành
những vùng đất trồng lúa trù phú cho đất nước, mà điển hình nhất là vùng đồng
bằng sông Cửu Long. Ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng, Nhà nước cũng đã quan tâm đầu
tư về khoa học công nghệ và khuyến nông đối với cây lúa và các chính sách hỗ trợ

Theo kết quả phân tích cho thấy, thị trường xuất khẩu gạo chính của VN trong
15 năm qua, thứ nhất là các quốc gia Đông Nam Á (chiếm khoảng 40-50% lượng
gạo xuất khẩu, thứ hai là các quốc gia Châu Phi (chiếm khoảng 20-30%, một thị
trường khá ổn định. Các thị trường khác là Trung Đông và Bắc Mỹ, nhưng lượng
gạo xuất khẩu sang các nước này không ổn định. Yếu tố quan trọng ảnh hưởng các
doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam là ít kinh nghiệm nên thiếu khả năng duy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

9
trì và khai thác các thị trường nhiều biến động. Nếu có mối liên kết tốt hơn và tổ
chức thị trường tốt, họ sẽ nâng cấp hạng ngạch và giá trị xuất khẩu gạo của VN [7].
2.3. Một số vn đề về nghiên cứu, sử dụng chế phẩm VSV xử lý nguồn
hữu cơ lm phân bón
2.3.1. Sơ lƣợc về lịch sử phát triển phân bón và xu thế sử dụng phân bón
trong nông nghiệp
Trên thế giới, lịch sử nghiên cứu và sử dụng phân bón đã có từ rất lâu đời và
được bắt đầu từ phân hữu cơ. Tại Trung Quốc, 1.500 năm trước công nguyên, người
ta đã sử dụng c, thân lá cây đậu và sau đó là phân chuồng để bón ruộng. Đến tận
thế kỷ 18 loài người vẫn cho rằng cây hút thức ăn từ mùn trong đất vì vậy ch cần
bón phân hữu cơ cho cây.
Ở Châu Âu, ngay đầu thế kỷ thứ nhất đã có nhiều nghiên cứu về phân bón. Một
số học giả đã đưa ra các thuyết khác nhau về “nguồn thức ăn”cho cây, trong đó có
thạch cao, muối, nước, đất, mùn, không khí,… Đến năm 1840, nhà bác học người
Đức - Liebig đã xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Hóa học áp dụng trong ngành canh
tác và sinh lý”, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Học thuyết của Liebig bác
b thuyết mùn mà khẳng định vai trò của muối khoáng trong dinh dưỡng thực vật,
đồng thời đề ra lý thuyết cần thiết phải bón trả lại tất cả những chất khoáng mà cây
trồng đã lấy đi mới đảm cho thu hoạch mùa màng. Việc khẳng định phân hữu cơ
không cung cấp trực tiếp dinh dưỡng cho cây mà phải gián tiếp qua các chất khoáng

tưởng cho sản xuất các dạng chế phẩm sinh học cũng như phân hữu cơ sinh học
chất lượng cao phục vụ sản xuất nông nghiệp [36].
Các nguồn nguyên liệu hữu cơ có thể sử dụng sản xuất phân bón cho cây trồng
như: Phân chuồng, phân xanh, than bùn, phân tro, phân dơi, phế phụ phẩm nông
nghiệp, rác thải sinh hoạt hữu cơ, bùn thải, các sản phẩm thải của ngành công nghệ
chế biến nông lâm thủy sản
Theo Phạm Tiến Hoàng và cộng sự (1999) [28], trong điều kiện nhiệt đới ẩm
nước ta tốc độ khoáng hoá hữu cơ trong đất rất cao. Nếu không có biện pháp bổ
sung chất hữu cơ cho đất thì độ phì nhiêu đất sẽ sụt giảm rất nhanh. Phân hữu cơ
không ch trực tiếp cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng mà còn có tác dụng quyết
định cải thiện các tính chất lý, hoá, sinh của đất, có tác dụng điều hoà dinh dưỡng
trong cơ chế tăng hấp thụ của đất bằng việc tăng chất và lượng các hợp chất hữu cơ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

11
khoáng trong đất, tạo cho đất có khả năng giữ chất dinh dưỡng, hạn chế sự mất dinh
dưỡng do rửa trôi và bốc hơi. Chức năng điều hoà dinh dưỡng còn được biểu hiện ở
khả năng chuyển hoá các hợp chất khó tan thành dễ tan cung cấp thêm dinh dưỡng
cho cây trồng mà rõ nhất là chuyển hoá lân khó tiêu thành dễ tiêu (Lê Văn Tiềm,
1996 [29]).
Bên cạnh đó, vai trò của quan trọng đặc biệt của chất hữu cơ đối với độ phì
nhiêu của đất đã được thừa nhận một cách rộng rãi. Chất hữu cơ góp phần cải thiện
đặc tính vật lý, hoá học cũng như sinh học đất và cung cấp nhiều dưỡng chất quan
trọng cho cây trồng (Alesandrova, 1949; Whalen & Chang, 2002; Sheppherd & et
al, 2002). Việc cung cấp các nguyên tố vi lượng, các dưỡng chất từ phân hữu cơ có
ý nghĩa trong việc gia tăng phẩm chất nông sản, làm trái cây ngon ngọt và ít sâu
bệnh hơn. Bón phân hữu cơ là nguồn thực phẩm cần thiết cho hoạt động của vi sinh
vật đất: Các quá trình chuyển hoá, tuần hoàn dinh dưỡng trong đất, sự cố định đạm,
sự nitrat hoá, sự phân huỷ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật cũng như ức chế sự hoạt

tiếp hoặc gián tiếp của VSV hình thành nên độ phì nhiêu đất, tăng năng suất và chất
lượng nông sản: cố định nitơ phân tử, chuyển hóa cacbon, phân giải xenlulo, phân
giải lân, kali, lưu huỳnh, chuyển hóa sắt, nhôm, mangan,… Ngoài ra, các hoạt động
VSV trong đất còn sả n sinh ra hàng lo ạt các sản phẩm sinh học có giá trị như
vitamin, chất kích thích sinh trưởng, enzyme, chất kháng sinh có tá c dụ ng làm tăng
khả năng sinh trưởng phát triển của thực vật và tham gia phòng chống sâu bệnh hại.
Theo TS. Phạm Văn Toản [11]: Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật (VSV) sống
trong đất, nước và vùng rễ cây có ý nghĩa quan trọng trong các mối quan hệ giữa
cây trồng, đất và phân bón. Hầu như mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham
gia trực tiếp hoặc gián tiếp của VSV (mùn hoá, khoáng hoá chất hữu cơ, phân giải,
giải phóng chất dinh dưỡng vô cơ từ hợp chất khó tan hoặc tổng hợp chất dinh
dưỡng từ môi trường.v.v.). Vì vậy từ lâu vi sinh vật đã được coi là một bộ phận của
hệ thống dinh dưỡng cây trồng tổng hợp.
Hiệ n nay công nghệ vi sinh đã phá t triể n thà nh mộ t ngành độc lập, tạo ra các sản
phẩ m có giá trị phụ c vụ đắ c lự c cho sả n xuấ t và đờ i số ng. Các quá trình sinh tổng hợp
xảy ra ở VSV được con người can thiệp và điều khiển theo hướng tích cực. Trong lĩ nh
vự c sả n xuấ t phân bó n, công nghệ vi sinh đã tạ o ra cá c chế phẩ m vi sinh, phân vi sinh
vậ t, phân hữ u cơ sinh họ c, phân hữ u cơ vi sinh ở quy mô công nghiệ p.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

13
2.3.2.2. Vai trò ca chế phẩm sinh hc (VSV) trong sản xut nông nghiệp
Vai trò của chế phẩm sinh học, trong đó có vi sinh vật trong sản xuất nông
nghiệp được thừa nhận có các ưu điểm sau đây:
- Không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khe con người, vật nuôi, cây trồng.
Không gây ô nhiễm môi trường sinh thái.
- Có tác dụng cân bằng hệ sinh thái (vi sinh vật, dinh dưỡng …) trong môi
trường đất nói riêng và môi trường nói chung.
- Ứng dụng các chế phẩm sinh học không làm hại kết cấu đất, không làm chai

rộng rãi tại Việt Nam như: Chế phẩm Emuniv (Công ty cổ phần ứng dụng vi sinh Hà
Nội); Chế phẩm Compost marker (Viện nông hóa thổ nhưỡng); Chế phẩm EMIC
(Công ty cổ phần công nghệ vi sinh và môi trường); Chế phẩm EM, Bio – Ems (Công
ty TNHH Vi sinh môi trường TP HCM) và rất nhiều chủng loại chế phẩm vi sinh
khác có nhiều chủng loại vi sinh vật có khả năng phân giải cellulose, cố định đạm,
phân giải lân phân hủy các chất hữu cơ tạo nguồn phân bón hữu ích cho cây trồng,
cải tạo lý tính, sinh tính đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Bên cạnh đó, nhiề u việ n nghiên cứ u về nông nghiệ p trong nướ c như Việ n Thổ
nhưỡ ng Nông hó a, Việ n Khoa họ c Kỹ thuậ t Nông nghiệ p Vi ệt Nam, Việ n Sinh họ c
Nhiệ t đớ i,… đã phân lậ p , tuyể n chọ n, nhân nuôi trong môi trườ ng thanh trù ng cá c
chế phẩ m VSV cố đị nh đạ m , phân giả i lân , phân giả i xenlulo có mậ t đ ộ VSV rấ t
cao, hoạt lực mạnh cung cấp cho sản xuất và chế biến phân hữu cơ đạt kết quả tố t.
Ngoài ra, trên thị trường còn có rất nhiều đơn vị cung ứng các chế phẩm vi sinh vật
được nhập khẩu từ nước ngoài có khả năng ứng dụng tốt trong lĩnh vực xử lý chất
thải hữu cơ, sản xuất phân bón hữu cơ cho cây trồng hoặc xử dụng trực tiếp trên cây
trồng để chống nấm, bệnh, tăng khả năng sinh trưởng
2.3.2.3.2. Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật để sản xut phân bón hữu cơ tại
Việt Nam
Để đá p ứ ng nhu cầ u ngà y cà ng tăng củ a xã hộ i , trong nhiề u thậ p kỷ qua , các
nhà khoa học đã không ngừng ngh iên cứ u, sản xuất ra nhiều loại phân bón hóa học
góp phần kích thích sinh trưởng , tăng năng suấ t cây trồ ng , tạo ra nhiều sản phẩm
hàng hóa , đẩ y nhanh quá trì nh công nghiệ p hó a hiệ n đạ i hó a nông nghiệ p nông
thôn. Song sự phá t triể n như vũ bã o củ a công nghệ hó a họ c đồ ng nghĩ a vớ i nó là
mố i đe dọ a lớ n đố i vớ i môi trườ ng toà n cầ u , đặ c biệ t là vấ n đề ô nhiễ m sả n xuấ t đấ t

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

15
nông nghiệ p , Việ t Nam cũ ng không trá nh khỏ i điề u đó . Theo ướ c tí nh củ a Bộ
NN&PTNT, ch tính riêng vụ h thu năm 2008, cả nước tiêu thụ trên 400.000 tấ n

dinh dưỡng cao, cây trồng dễ hấp thụ và an toàn cho môi trường, nó giúp bà con
nông dân thu được sản phẩm rau an toàn có hiệu quả kinh tế [36]
Nhiề u nơi đã ứ ng dụ ng thà nh công quy trì nh sả n xuấ t phân bó n hữ u cơ vi sinh từ
bùn mía như Công ty Phân bón và hóa chất Cần Thơ. Viên công nghệ sinh họ c cũ ng đã
nghiên cứ u và ứ ng dụ ng thà nh công quy trì nh sả n xuấ t phân hữ u cơ vi sinh từ bù n rá c.
Và nhiều loại phân bón hữu cơ vi sinh khác đã được nghiên cứu và ứng dụng thành
công từ cá c nguyên liệ u như phế phụ phẩ m nông nghiệ p, bã v cà phê, rơm, rạ…, các
kế t quả thử nghiệ m đề u cho kế t quả tố t và đề u đượ c đá nh giá nhân rộ ng [9].
Từ năm 2007, tại tnh Nghệ An, Kỹ sư Phạm Hồng Hải, Trung tâm Ứng dụng tiến
bộ Khoa học-Công nghệ Nghệ An đã nghiên cứu sản xuất thành công phân bón hữu cơ
vi sinh từ phế thải nông nghiệp (rơm rạ, cây xanh ) và từ phế thải tại các nhà máy chế
biến (bùn, bã mía ) bằng việc xử lý với chế phẩm Compost marker, đã rút ngắn thời
gian phân hủy của phế phụ phẩm, tạo ra loại phân bón có hàm lượng dinh dưỡng cao,
tơi xốp, đạt mật độ các chủng vi sinh vật lớn hơn hoặc bằng 10 6 CFU/g, không chứa
các chủng vi sinh vật gây hại (như các loại nấm Fusarium, Aspergillus niger và vi
khuẩn gây bệnh héo xanh trên cây họ cà ), hàm lượng nitơ, kali, photpho hữu hiệu đạt
tiêu chuẩn về phân bón, giá thành rẻ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Kết quả thử
nghiệm trên cây ch đã góp phần làm tăng 25% năng suất chè so với điều kiện thâm
canh bình thường của người dân địa phương. Hiện nay, việc sử dụng chế phẩm sinh
học tạo nguồn phân bón hữu cơ tại chỗ đã được triển khai thực hiện trên các mô hình
trồng chè ở xã Hùng Sơn (huyện Anh Sơn); trồng rau ở xã Quỳnh Liên (Quỳnh Lưu);
trồng cam ở Nông trường Xuân Thành (Quỳ Hợp) [33]
Việc sử dụng chế phẩm vi sinh vật xử lý nguồn phân chuồng tại các cơ sở chăn
nuôi tạo nguồn phân bón hữu cơ cho cây trồng đã được nông dân tại nhiều địa
phương quan tâm. Trước đây, nguồn phân này thường được bón trực tiếp hoặc xử lý
không đúng cách nên làm rau màu nhiễm trứng giun và vi sinh vật có hại, ảnh hưởng
tới sức khoẻ người tiêu dùng. Năm 2003 - 2004, TS Võ Thị Hạnh (Viện sinh học
nhiệt đới) cùng cộng sự đã tự mày mò sản xuất thành công VEM - chế phẩm dạng
lng có chứa tập đoàn vi sinh vật hữu ích để xử lý phân lợn, gà và bò thành phân bón


Trung tâm khuyến nông, Hội nông dân các tnh một bộ phận không nh nhân dân
ở hầu hết các địa phương trên cả nước đã biết đến, sử dụng các chế phẩm vi sinh vật

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

18
sẵn có trên thị trường tại địa phương để ủ với nguồn hữu cơ sẵn có tại gia đình như:
phế phụ phẩm nông nghiệp, phân chuồng và các chất thải hữu cơ khác làm phân
bón cho cây trồng, qua đánh giá của các hộ nông dân, cho thấy, sử dụng nguồn phân
hữu cơ này (các phế phụ phẩm nông nghiệp gia đình thường đốt sau thu hoạch) có
thể tiết kiệm 1/2 chi phí mua phân bón, giảm chi phí đầu tư, vẫn đảm bảo được năng
suất cây trồng, không gây ô nhiễm môi trường, bên cạnh đó còn làm tăng hàm
lượng chất hữu cơ trong đất, cải thiện tính chất đất, nâng cao chất lượng nông sản
và họ coi đây là phương pháp kỹ thuật mới. Bên cạnh đó, từng bước có thể cải thiện
được thực trạng lao động ở nông thôn hiện nay, do ở nhà làm ruộng không đủ sống,
phần lớn thanh niên ở nông thôn b ra những thành phố lớn làm công nhân, làm
thuê. Nếu những phương pháp mới kỹ thuật tạo ra vùng chuyên canh sản xuất nông
nghiệp sạch, có chất lượng, tìm được đầu ra ổn định cho nông sản, chắc chắn sẽ thu
hút được hàng nghìn thanh niên quay trở lại làm giàu trên chính quê hương.
Mặ c dù hiệ n tạ i đã có khá nhiề u sả n phẩ m phân bón sinh học xuấ t ở trong
nướ c, nhưng mộ t mặ t do nông dân ưa sử dụ ng phân hó a họ c , mặ t khá c má y mó c
thiế t bị , điề u kiệ n và nhân lự c nghiên cứ u cò n hạ n chế nên chấ t lượ ng phân vi sinh
sản xuất trong nước t hiế u ổ n đị nh , chưa mở rộ ng đượ c quy mô ứ ng dụ ng . Vì vậy
đầ u tư cho chương trì nh ứ ng dụ ng nhữ ng tiế n bộ mớ i về công nghệ sinh họ c nó i
chung và trong sả n xuấ t phân vi sinh vậ t nó i riêng sẽ tạ o ra bướ c độ t phá trong
chiế n lượ c quả n lý dinh dưỡ ng cây trồ ng tổ ng hợ p, tăng sứ c cạ nh tranh cá c nông sả n
có chất lượng cao trên thị trường quốc tế.
Nhìn chung, phân bón có vai trò hết sức quan trọng đối với tăng năng suất cây
trồng, phẩm chất nông sản, góp phần quan trọng về bảo đảm an ninh lương thực,
tăng sản phẩm trồng trọt để xuất khẩu. Do vậy giải pháp tăng hiệu quả sử dụng phân

năm. Với điều kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành than bùn.
Ở Việt Nam là vùng khí hậu nhiệt đới, mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, cây cối phát
triển mạnh là điều kiện thuận lợi cho sự thành tạo than bùn.
2.4.1.2. Trữ lƣợng, cht lƣợng than bùn tại một số vùng ở Việt Nam
Than bùn nằm rải rác ở khắp mọi nơi và ở cách mặt đất không sâu, vi thế việc
phát hiện than bùn là tương đối đơn giản.
Ở miền núi, than bùn thường nằm trong các thung lũng, đầm lầy là những nơi
có điều kiện thuận lợi cho sự tích đọng các tàn tích thực vật và quá trình phân hủy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

20
các tàn tích thực vật đó xảy ra không hoàn toàn. Ở đồng bằng, than bùn thường thấy
ở các lòng lạch, ao hồ tù hãm lâu năm.
Từ trước tới nay, chưa có nhiều khảo sát đánh giá về trữ lượng, chất lượng than
bùn trên phạm vi cả nước, chủ yếu được các nhà khoa học đánh giá trên phạm vi
lãnh thổ, vùng miền. Việc thăm dò than bùn mới được tiến hành từ năm 1963 những
chưa làm được bao nhiêu so với những m than bùn đã biết.
Theo tạp chí địa chất số 230 (9-10)/1995 [3], trữ lượng và chất lượng than bùn
từ vĩ độ 16 trở vào như sau:
Bảng 1.2: Thống kê trữ lƣợng than bùn từ v độ 16 trở vào Nam

Loại thnh tạo
Kiểu thnh tạo
Số
lƣợng
mỏ
Diện tích
(ha)
Trữ

4.270
42,7
M Vẹt
12
520
5,2
Tứ giác Long Xuyên
8
3.500
35,0
Hậu Giang
4
250
2,5
2. Đầm lầy mn
a. Đã ngt hóa
26
38.250
337,8
Bình Trị Thiên
5
320
1,2
Nam Ngãi
6
625
3,0
Phú Khánh
3
545

2
2.900
10,0
Kiên Giang
3
3.000
15,0
Tổng cộng
55
58.260
530,0
(Nguồn, Tạp chí địa chất Việt Nam)

Trích đoạn TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU PHẦN III: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN DANH MỤC CÁC BẢNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status