Tiểu luận LẬP TRÌNH MẠNG Hãy vận dụng các thuật toán để xây dựng giải pháp cho hệ thống ngân hàng với n server ) quản lý m đủ lớn các tài khoản của khách hàng với yêu cầu hệ phải đảm bảo gắn bó mạnh. - Pdf 24


Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Tiểu luận
Tiểu luận
LẬP TRÌNH MẠNG
LẬP TRÌNH MẠNG
Đề tài: Hãy vận dụng các thuật toán để xây dựng giải pháp
cho hệ thống ngân hàng với n server (n

2) quản lý m đủ
lớn các tài khoản của khách hàng với yêu cầu hệ phải đảm
bảo gắn bó mạnh.
GVHD : PGS. TS. Lê Văn Sơn
HVTH : Phan Thị Lệ Thuyền
Nguyễn Thị Thùy
LỚP : Khoa học máy tính
KHÓA : 11 (2009 – 2011)
LỜI MỞ ĐẦU
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 1
Đà Nẵng, tháng 03/2010
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
Ngày nay hầu hết các ứng dụng tin học đều được xây dựng để thực hiện trên mạng
máy tính, các ứng dụng client-server đang ngày càng được sử dụng phổ biến. Nhưng khi
quy mô và mức độ của các ứng dụng tăng lên và yêu cầu về chất lượng, tốc độ xử lý và độ
phức tạp cũng tăng theo thì trên thực tế, một xu hướng kỹ thuật mới ra đời – xu hướng
phân tán các thành phần tạo nên hệ tin học theo hướng tiếp cận nơi sử dụng và sản xuất
thông tin. Song để khai thác có hiệu quả toàn hệ, vấn đề quan trọng hàng đầu cần phải tính
đến là các tài nguyên nói chung, đặc biệt là tài nguyên thông tin nói riêng và chiến lược

CHƯƠNG I:
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HỆ PHÂN TÁN
LẬP TRÌNH MẠNG VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU PHÂN TÁN
1. HỆ PHÂN TÁN
1.1 Tổng quan về hệ tin học
Một cách tổng quát, hệ tin học có thể bao gồm các thành phần bản như phần cứng, hệ
điều hành, các chương trình ứng dụng và người sử dụng (NSD) … và có thể được mô tả
như hình I.1. sau:
Các thiết bị phần cứng bao gồm các thiết bị xử lý trung tâm, bộ nhớ và các thiết bị
ngoại vi đóng vai trò là một trong hai loại tài nguyên cơ sở của hệ thống tin học. Các
chương trình ứng dụng là thành phần tiếp theo sau hệ điều hành được hiểu như là các phần
mềm cơ sở phục vụ cho việc triển khai các ứng dụng cụ thể như chương trình dịch, hệ
quản trị cơ sở dữ liệu, các chương trình trợ giúp sử dụng các thiết bị chuyên dụng, các trò
chơi điện tử
Người sử dụng (NSD) ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, dưới góc độ của hệ điều
hành, có thể là các nhà chuyên môn, các máy tính, các hệ tự động vận hành, gắn với máy
tính đang khai thác hệ thông qua lệnh điều khiển theo một thuật toán nào đó nhằm đạt
được mục tiêu xác định từ trước.
Hệ điều hành các máy tính và mạng máy tính gọi tắt là hệ điều hành được đặt sát
phần cứng, nó gắn kết chặt chẽ với phần thiết bị bởi một hệ thống các chương trình, điều
khiển và sắp xếp nhằm khai thác phần cứng phục vụ cho các chương trình ứng dụng khác
nhau của NSD khác nhau với kết quả và hiệu năng chấp nhận được.
Như vậy, hệ tin học bao gồm ba thực thể: phần cứng, phần mềm và dữ liệu, được mô
tả ở hình I-2.
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 3
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
Vậy hệ thống tin học (Informatic System) là một hệ thống bao gồm hai thành phần
cơ bản phần cứng (hardware) và phần mềm (software) gắn bó hữu cơ với nhau và có khả
năng xử lý thông tin.
1.2 Hệ tin học phân tán

Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
Đặc điểm cần nhấn mạnh của hệ là các hệ xử lý thông tin thành phần:
Không dùng chung hoặc chia sẻ bộ nhớ
Không sử dụng chung đồng hồ xung nhịp
Chúng liên lạc với nhau thông qua mạng truyền thông
Mỗi hệ xử lý có bộ xử lý, bộ nhớ và hệ điều hành riêng của nó.
Thành phần của hệ phân tán bao gồm các hệ thống cục bộ trong đó mỗi một hay
nhiều hệ thống phát các yêu cầu thông tin còn các hệ khác trả lời các yêu cầu có liên quan
đến phần dữ liệu của mình. Nói một cách tổng quát là trong hệ luôn luôn diễn ra việc thực
hiện các công việc do các hệ thống yêu cầu. Các hệ thống truyền thống như hệ rời rạc hay
tập trung không thể đáp ứng nhanh chóng và chính xác các yêu cầu thông tin từ xa với lưu
lượng thông tin lớn.
1.2.4 Các ưu điểm của tài nguyên dùng chung trong hệ phân tán
Hệ tin học phân tán thực hiện hàng loạt các chức năng phức tạp nhưng chức năng cơ
bản nhất là đảm bảo cung cấp cho người sử dụng khả năng truy cập có kết quả đến các tài
nguyên vốn có và rất đa dạng của hệ thống như tài nguyên dùng chung.
Việc định nghĩa các tài nguyên của hệ như tài nguyên dùng chung sẽ mang đến cho
hệ những hiệu năng tốt trong khai thác ứng dụng:
- Tăng tốc độ bình quân trong tính toán xử lý.
- Cải thiện tình trạng luôn sẵn sàng của các loại tài nguyên.
- Tăng độ an toàn cho dữ liệu.
- Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tin học.
- Bảo đảm tính toàn vẹn của thông tin.
Tuy nhiên nó cũng dẫn đến hàng loạt các vấn đề khó khăn trong việc thiết lập hệ liên
quan việc cấp phát tài nguyên dùng chung cho các tiến trình.
Điều quan trọng là để đảm bảo các chức năng, yêu cầu nêu ra trên, hệ tin học phân
tán cần phải có các cơ chế kỹ thuật đủ mạnh nhằm đồng bộ hóa hoạt động của các tiến
trình và sự trao đổi thông tin với nhau sao cho hệ thống tránh được các trường hợp có thể
dẫn đến bế tắc.
1.2.5 Các thao tác chuẩn của hệ phân tán

Giao thức UDP thường được dùng trong các ứng dụng không đòi hỏi sự chính xác cao
như: dịch vụ báo giờ, dịch vụ báo thông tin…
2.3 Dịch vụ từ máy chủ (server) và khái niệm cổng (port)
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 6
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
Khi kết nối vào máy chủ, ta có thể yêu cầu máy chủ cung cấp nhiều dịch vụ khác
nhau như: tìm kiếm thông tin, gửi nhận E-mail… Mỗi dịch vụ đều có qui ước riêng cho
các cách gửi/ nhận dữ liệu. Giao thức TCP hay UDP chỉ chịu trách nhiệm đưa dữ liệu từ
một máy tính này đến máy tính khác, còn dữ liệu đó sẽ được gửi cho dịch vụ nào thì phải
thông qua một qui định nữa là cổng (port). Mỗi chương trình dịch vụ sẽ sử dụng một cổng
khác nhau để truy xuất thông tin. Cổng là một số nguyên từ 1 đến 16383. Máy chủ sẽ qui
định cổng cho mỗi dịch vụ, thông tin giữa máy khách và máy chủ phải sử dụng cổng
tương ứng thì mới trao đổi thông tin được, hầu hết các chương trình dịch vụ nổi tiếng đều
có qui định cổng chuẩn riêng:
Dịch vụ Cổng
FTP 21
HTTP 80
Telnet 23
… …
Khi xây dựng một ứng dụng làm dịch vụ trên máy chủ ta phải chọn cho mình một
cổng có giá trị khác với những giá trị cổng mà những dịch vụ nổi tiếng đã sử dụng.
2.4 Giao tiếp theo mô hình client/server
2.4.1 Giao tiếp theo mô hình client/server
Có rất nhiều dịch vụ hỗ trợ trên Internet như E-mail, nhóm tin (newsgroup), chuyển
tập tin (file transfer), đăng nhập từ xa (remote login), truy tìm thông tin trên Web…
Những mô hình này được kiến trúc theo mô hình khách/chủ (client/server). Các chương
trình ở máy khách (client) như trình duyệt Web (web browser), chương trình gửi nhận E-
mail…; các chương trình dịch vụ trên máy chủ (server) như web server, mail server… sẽ
xử lý những yêu cầu này và gửi kết quả ngược về cho máy khách, thông thường một dịch
vụ trên máy chủ phục vụ cho rất nhiều yêu cầu của máy khách.

Tuy nhiên không nhất thiết phải có hai máy tính riêng biệt. Nhờ có máy ảo Java, khi mở
cửa sổ DOS-Prompt (môi trường DOS dưới Window) để chạy chương trình Java, chương
trình này được xem như chạy trên một máy (ảo) độc lập. Do đó, nếu hai chương trình Java
chạy ở trong hai cửa sổ riêng thì có thể xem như là chúng thực hiện trên hai máy khác
nhau.
2.5.2 Mô hình tính toán Client/Server
Khi nói tới lập trình mạng ta thường nghĩ đến cách trao đổi giữa chương trình phục
vụ (Server) với chương trình khách (Client). Chương trình khách gửi một yêu cầu tới cho
chương trình phục vụ, và chương trình này xử lý dữ liệu để trả lời cho chương trình khách.
Như vậy, chương trình khách muốn gửi được yêu cầu thì trước hết phải tìm cách kết nối
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 8
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
với Server. Server có thể chấp nhận hay từ chối sự kết nối này. Một khi sự kết nối đã được
thiết lập thì Client và Server trao đổi với nhau thông qua Sockets. Các lớp trong gói
java.net cung cấp các phương thức để kết nối mạng và trao đổi tin giữa các máy với nhau
theo mô hình Client/Server.
Socket chính là lớp (trừu tượng) thực hiện sự trao đổi giữa Server và Client. Java
xem sự trao đổi giữa Server và Client dựa trên Socket gần giống như các thao tác vào/ra,
nghĩa là các chương trình có thể đọc, ghi vào Socket dễ dàng như chúng đọc, ghi lên tệp
dữ liệu. Lớp Server tạo ra sự kết nối từ máy Client tới Server thông qua các phương thức
tạo lập đối tượng.
Lớp ServerSocket dùng để tạo kết nối từ máy Server tới máy Client. Đối tượng của
lớp này được tạo ra trên Server và lắng nghe những kết nối từ máy Client theo cổng xác
định. Server phải chạy thường trực trước khi Client bắt đầu thực hiện. Server chờ sự yêu
cầu kết nối của Client. Để thiết lập được một Server, ta phải tạo ra một đối tượng, ví dụ
ServerSocket của lớp Server, gắn nó với một cổng nào đó và lắng nghe xem có Client nào
cần kết nối hay không. Các Socket được xác định tương ứng với địa chỉ của máy và cổng.
serverSock = new ServerSocket(Integer.parseInt(txtPort.getText()));
Trong đó port là số hiệu của cổng nằm giữa 0 và 1023. Cổng cho phép trao đổi tin
giữa hai chương trình.

dữ liệu
Trạm 5
Trạm 5
Trạm 5
Trạm 5
Trạm 5
Trạm 5
Trạm 5
Trạm 5
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
CHƯƠNG II:
KỸ THUẬT LẬP TRÌNH HƯỚNG ĐỐI TƯỢNG TRONG JAVA
KẾT NỐI CƠ SỞ DỮ LIỆU VỚI JDBC
1. SƠ LƯỢC VỀ JAVA
Java là một ngôn ngữ lập trình đơn giản, hướng đối tượng, hỗ trợ lập trình phân tán,
thông dịch và biên dịch, mạnh mẽ bảo mật, cấu trúc độc lập, khả chuyển, hiệu quả và linh
động.
Sự hỗ trợ lập trình hướng đối tượng là cốt lõi của Java. Mọi câu lệnh của Java đều tác
động đến các đối tượng mà đặc trưng của chúng là lớp (class), đối tượng là thể hiện
(instance) của lớp và phương thức (method) là một thao tác hoặc được thực hiện bởi chính
nó, hoặc thực hiện khi có yêu cầu từ môi trường (thông điệp từ đối tượng khác).
Java hỗ trợ các ứng dụng phân tán bằng các lớp mạng java.net, một chương trình
Java có thể là sự kết hợp của rất nhiều tập tin *.class nằm rải rác trên nhiều vùng vật lý
khác nhau như ổ đĩa hay các máy chủ ở những vị trí khác nhau trên Internet. Ngôn ngữ
Java cung cấp các công cụ đủ mạnh để thiết kế bất kỳ ứng dụng nào theo mô hình khách
chủ (client/server) và phân tán (distributed).
Java là một ngôn ngữ thông dịch trên cơ sở đã biên dịch trước thành bytecode nên nó
trở nên khả chuyển. Java được thiết kế cho mục đích đa nền, nên mã lệnh của chương trình
Java sau khi biên dịch là một dạng tập tin nhị phân được gọi là bytecode, có phần mở rộng
là *.class, và nó được triệu gọi thực thi trong máy ảo Java (JVM – Java Virtual Machine).

Computer A
A2
A1
Computer C
C1
C2
Computer B
B1
C3
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
Trên máy cục bộ lời gọi hàm, các tham số truyền cho hàm thường được đặt vào ngăn
xếp (stack).
Tham số truyền cho phương thức của đối tượng ở xa được đóng gói và chuyển qua
mạng để đến được phương thức thực sự.
2.3 Vai trò các lớp trung gian STUB và SKELETION
Hình vẽ dưới biểu thị: Gọi phương thức từ xa các đối tượng thông qua lớp trung
gian. Đối tượng Java trên hai máy khác nhau không gọi nhau trực tiếp mà thông qua lớp
trung gian.
Lớp trung gian này tồn tại ở hai phía: Máy khách (nơi gọi phương thức của đối tượng
ở xa) và máy chủ (nơi đối tượng thực sự được cài đặt để thực thi mã lệnh của phương
thức).
Phía máy khách lớp trung gian này được gọi lớp móc (stub).
Hình II-2: Gọi phương thức của các đối tượng thông qua lớp trung gian
Phía máy chủ lớp trung gian gọi lớp nối (skeletion).
Ví dụ: Đối tượng C1 được cài đặt chạy trên máy C. Trình Java sẽ tạo ra hai lớp trung
gian C1_Skel và C1_Stub. Lớp C1_Stub sẽ được đem về máy Computer A. Khi A1 trên
máy computer A gọi C1 nó sẽ chuyển lời gọi đến lớp C1_Stub. C1_Stub chịu trách nhiệm
đóng gói tham số, chuyển tham số qua mạng đến máy C. Trên máy C lớp nối C1_Skel sẽ
nhận tham số chuyển vào vùng không gian địa chỉ tương thích với đối tượng C1 sau đó gọi
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 13

Xác định đối tượng để thực hiện lời gọi hàm tương ứng
Thực hiện lời gọi phương thức theo yêu cầu
Tập hợp kết quả để trả lời hoặc thông báo các lỗi ngoại lệ
Gửi trả lời gói các dữ liệu kết quả cho Stub ở trên máy khách.
2.4 Cài đặt ứng dụng phân tán của RMI
Hình vẽ biểu thị: Triệu gọi đối tượng RMI giữa Server2 và Server1. Đối tượng
Calculator/Server2 sẽ được gọi bởi đối tượng CalculatorClient/Server1. Chúng ta xây
dựng lớp đối tượng Calculator với đặc tả interface như sau:
public interface Calculator {
public int addNumber(int x, int y);}
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 14
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
Phương thức addNumber() được dùng để cộng 2 tham số x, y với nhau và trả về kết
quả cho đối tượng nào gọi nó.
Hình II-3 Cài đặt ứng dụng phân tán RMI
2.5 Cơ chế gọi hàm từ xa của các đối tượng RMI một cách tổng quát
1. Đối tượng cài đặt các phương thức và gọi hàm Naming.bind() để đăng ký với
rmiregistry/Server chủ
2. Đối tượng trên máy khách muốn gọi phương thức của đối tượng trên máy chủ
trước hết gọi hàm Naming.lookup() để truy tìm tham chiếu đến đối tượng ở xa theo tên.
3. Bộ đăng ký rmiregistry sẽ trả về tham chiếu đến đối tượng ở xa thông qua giao
tiếp interface mà đối tượng ở xa cung cấp.
4. Dựa vào interface đối tượng ở máy khách sẽ gọi các phương thức của đối tượng
trên máy chủ.

Hình II-4: Cơ chế gọi hàm từ xa của các đối tượng RMI
5. Khi một phương thức được gọi, lời gọi sẽ được chuyển tiếp đến lớp trung gian
_Stub. Xử lý chuyển tham số của phương thức gọi đến _Skel trên máy chủ.
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 15
Computer 1

(CalculatorImpl_Stub và CalculatorImpl_Skel).
10. Viết chương trình (CalculatorServer.class) cài đặt đối tượng trên máy chủ. Lưu ý
gọi phương thức UnicasRemoteObject.exportObject() để thông báo cho Java nhận dạng
được sự tồn tại của đối tượng ở dạng truy xuất được từ xa bởi các đối tượng khác.
Hình II-5: Đăng ký các đối tượng trên RMIRegistry
11. Sử dụng lớp giao tiếp (Calculator.class) và CalculatorImpl_Stub từ máy khách để
gọi phương thức của đối tượng trên máy chủ.
Khi chạy chương trình Java dựa vào biến môi trường CLASSPATH để truy tìm các tâp
tin .class. Chương trình minh họa bao gồm các tập tin sau:
Tên lớp Mục đích Sử dụng trên
Calculator.class
CalculatorImpl.class
CalculatorImpl_Skel.class
CalculatorImpl_Stub.class
CalculatorServer.class
CalculatorClient.class
Lớp đặc tả phương thức giao tiếp của đối
tượng.
Phần cài đặt của bản thân đối tượng.
Lớp giao tiếp trung gian do trình biên
dịch rmic.exe tạo ra.
Lớp giao tiếp trung gian do trình biên
dịch rmic tạo ra.
Chương trình dùng chạy trên máy chủ
dùng tạo ra đối tượng và đăng ký đối
tượng với rmiregistry.
Chương trình chạy trên máy khách gọi
các phương thức của đối tượng trên máy
chủ.
Máy khách và máy chủ.

Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
1. Tạo đối tượng kết nối vào CSDL bằng cách gọi hàm getConnection() để nhận đối
tượng của lớp Connection.
2. Tạo ra một đối tượng của lớp Statement để xử lý câu lệnh.
3. Truyền tham số cho các lệnh SQL trong các hệ quản trị CSDL và các đối tượng xử
lý câu lệnh đó.
4. Kết quả truy vấn là đối tượng của lớp ResultSet.
Sau đây là một số giao diện, một số lớp trong gói java.sql và một số hàm chính của
chúng.
3.1 Lớp DriverManager
Lớp DriverManager chịu trách nhiệm nạp các bộ điều khiển JDBC và tạo ra sự kết
nối giữa các đối tượng của CSDL. Trước khi sử dụng một bộ điều khiển (Driver) thì nó
phải đăng ký với DriveManager nhờ hàm forName() của lớp Class:
try{
Class.forName(“sun.jdbc.odbc.JdbcOdbcDriver”);
Class.foeName(“com.oracle.jdbc.OracleDriver”);
} catch (ClassNotFoundException e){
… //xử lý ngọai lệ
}
Sau đó chương trình phải kết nối với CSDL bằng cách sử dụng
DriverManager.getConnection(jdbc:driver:databaseName)
3.2 Giao diện Connection
Giao diện java.sql.Connection phục vụ cho việc kết nối các CSDL
Tạo một đối tượng con để kết nối:
Connection con = DriverManager.getConnection(“url”,”username”,”password”);
Trong đó: url là jdbc:driver:databaseName
Một số hàm:
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 18
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
Public abstract void commit() throws SQLException; ủy quyền thay đổi những

Hàm getString(“fieldname”), getInt(“fieldname”), : đọc giá trị các trường dữ liệu.
Hàm boolean next(): chuyển sang hàng tiếp theo
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 20
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
CHƯƠNG III:
CHƯƠNG TRÌNH ĐẢM BẢO GẮN BÓ DỮ LIỆU KHI CẬP NHẬT
TRONG CÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU PHÂN TÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thực tế hiện nay hầu hết các hệ thống ngân hàng đều được xây dựng với hệ
thống cơ sở dữ liệu tập trung. Việc truy vấn trên cơ sở dữ liệu tập trung có những thuận lợi
và khó khăn nhất định. Trong những khó khăn đó khó khăn lớn nhất phải tính đến đó
chính là việc giải quyết tốc độ truy cập vào một cơ sở dữ liệu lớn, tập trung. Có nhiều biện
pháp giải quyết đã được đặt ra và một trong những giải pháp đó chính là việc phân tán cơ
sở dữ liệu đặt trên nhiều vị trí khác nhau. Việc truy vấn trên các cơ sở dữ liệu này thông
qua mạng truyền thông. Trong bài tiểu luận này chúng em xin giả lập một hệ 3 Server với
3 cơ sở dữ liệu phân tán tương ứng để mô phỏng cho bài toán đảm bảo gắn bó dữ liệu khi
cập nhật trong cơ sở dữ liệu phân tán tại các ngân hàng.
2. XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU PHÂN TÁN
Bài toán xây dựng một hệ cơ sở dữ liệu phân tán được đặt ở vị trí khác nhau, tương
ứng với ba Server. Giả sử ba vị trí được đặt là: Hà Nội, Đà Nẵng và Sài Gòn ta có ba cơ sở
dữ liệu tương ứng đó là: HNBank Database, DNBank Database và SGBank Database.
Khi phân mảnh dữ liệu ra các vị trí ta dựa vào tiêu chí phân tán là mã số tài khoản
của (AccID). Những tài khoản nằm ở Server Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn có mã số tài
khoản lần lượt bắt đầu bằng hai ký tự: “HN”, “DN”, “SG”.
Ba cơ sở dữ liệu tương ứng:
Hình III-1: HNBank Database
Hình III-2: DNBank Database
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 21
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
Hình III-3: SGBank Database

- Phương thức truy vấn: với tham số vào là số tài khoản và mã pin, trả về số dư tài
khoản:
public int SelectData(String Valid, String Valpin) throws RemoteException
{ …

}
- Phương thức cập nhật vào Cơ sở dữ liệu: với tham số vào là mã sô tài khoản và mã
pin:
public void UpdateData(String Valid, String Valpin, int ValAmount) throws
RemoteException
{ …

}
5. XÂY DỰNG GIAO DIỆN PHÍA CLIENT
Ở phía Client xây dựng một giao diện cho phép người sử dụng nhập vào số tài khoản,
số Pin và số tiền thực hiện giao dịch.
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 23
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
Xây dựng chức năng cho phép người sử dụng chọn lựa giao dịch: Xem số dư tài
khoản, gửi tiền vào tài khoản và rút tiền.
Hình III-5: Giao diện phía Client
HVTH: Phan Thị Lệ Thuyền – Nguyễn Thị Thùy 24
Tiểu luận Lập trình mạng nâng cao GVHD: PGS.TS Lê Văn Sơn
KẾT LUẬN
Được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo cũng như các bạn trong lớp và sự nỗ lực của
bản thân trong tiểu luận này chúng em cũng đã đạt được một số kết quả nhất định:
 Trình bày được các khái niệm cơ bản của hệ thống phân tán, lập trình
mạng cũng như cơ sở dữ liệu phân tán.
 Trình bày được kỹ thuật lập trình mạng phân tán trong Java.
 Nắm bắt được kỹ thuật kết nối bằng JDBC. Thực hiện kết nối ứng dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status