BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
/ /
ĐẶNG QUANG TOÀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
/ /
ĐẶNG QUANG TOÀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
MÃ SỐ: 60 34 82
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN TRỌNG ĐỨC
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi,
với sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Trọng Đức,
Học viện Hành chính Quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng. Luận văn không sao chép của bất kỳ một
công trình nghiên cứu nào.
Tác giả
Đặng Quang Toàn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các Nhà Khoa học, các Thầy
5.1. Phương pháp luận 9
5.2. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9
7. Kết cấu của luận văn 10
Chương 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 11
TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 11
1.1. Một số vấn đề lý luận về tổ chức phi chính phủ 11
1.1.1 Khái niệm tổ chức phi chính phủ trên thế giới và ở Việt Nam 11
1.1.1.1 Khái niệm tổ chức phi chính phủ theo các nước trên thế giới 11
1.1.1.2. Khái niệm tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam 12
1.1.2. Tính chất của các tổ chức phi chính phủ 13
1.1.3. Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới và tại Việt Nam 15
1.1.3.1. Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới 15
1.1.3.2. Vai trò của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam 16
1.1.4. Lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức phi chính phủ 18
1.1.5. Phân loại các tổ chức phi chính phủ 19
1.1.5.1. Phân loại theo loại hình hoạt động 19
1.1.5.2. Phân loại theo phạm vi hoạt động 20
1.1.5.3. Phân loại theo hình thức tổ chức 20
1.1.5.4. Phân loại theo lĩnh vực hoạt động 21
1.1.6. Cách thức viện trợ các tổ chức phi chính phủ 23
1.2. Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước
ngoài 24
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
24
1.2.2. Chủ thể quản lý 26
1.2.3. Khánh thể quản lý 26
1.2.4. Đối tượng quản lý 27
1.2.5. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với công tác phi chính phủ nước ngoài 27
2.3.3. Tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính
phủ nước ngoài 57
2.3.3.1. Quản lý nhà nước về sự hiện diện và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
tại Quảng Trị 57
2.3.3.2. Quản lý nhà nước về việc tiếp nhận và sử dụng nguồn viện trợ của các tổ chức
phi chính phủ 59
2.3.3.3. Quản lý cán bộ, nhân viên làm việc cho các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
61
2.3.3.4. Quản lý thông tin liên quan đến hoạt động của các tổ phi chính phủ nước
ngoài 62
2.3.3.5. Hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý 62
2.3.3.6. Hoạt động tổng kết và đánh giá 64
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 65
2.4.1. Những mặt mạnh trong quá trình quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính
phủ nước ngoài 65
2.4.2. Những mặt yếu trong quá trình quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài 69
2.5. Kết luận chương 2 77
Chương 3 78
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI . .78
CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ 78
3.1. Dự báo xu thế phát triển của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại
tỉnh Quảng Trị 78
3.2. Quan điểm định hướng chung về quản lý hoạt động phi chính phủ nước
ngoài 79
3.2.1. Quan điểm định hướng chung về quản lý hoạt động phi chính phủ nước ngoài của
Đảng cộng sản Việt Nam 79
3.2.2. Quan điểm định hướng quản lý hoạt động phi chính phủ nước ngoài tại Quảng Trị
81
(Viện trợ phát triển chính thức)
PCP : Phi chính phủ
PCPNN : Phi chính phủ nước ngoài
QLNN : Quản lý nhà nước
Sở KH-ĐT : Sở Kế hoạch – Đầu tư
UBND : Ủy ban Nhân dân
VHXH : Văn hóa - xã hội
WB : World Bank (Ngân hàng thế giới)
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 2.1. Biểu đồ thống kê quốc tịch các tổ chức PCPNN tại Quảng Trị 47
Hình 2.2 Biểu đồ thống kê lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN 49
tại Quảng Trị 49
Hình 3.1. Biểu đồ thống kê số lượng các Dự án PCPNN ở Quảng Trị 5 năm
qua 79
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Tỉnh Quảng Trị nằm trên tọa độ địa lý từ 16018 đến 17010 vĩ độ Bắc,
106032 đến 107034 kinh độ Đông. Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng
Bình, phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, phía
Đông giáp Biển Đông và phía Tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan, nước Cộng
Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào.
Năm 2012 dân số trung bình của tỉnh là 608.142 người. Toàn tỉnh có 136.743
hộ gia đình, bình quân 4,4 nhân khẩu/hộ. Dân số thành thị có 170.073 người, chiếm
28,31%. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,05% năm 2007 và 1,12% năm 2010. Bình
quân mỗi năm dân số trung bình toàn tỉnh tăng thêm khoảng 5.000 - 6.000 người.
Mật độ dân số toàn tỉnh là 126,7 người/km
2
,thuộc loại thấp so với các tỉnh, thành
nâng cao. Mặc dù vậy, Quảng Trị vẫn còn là một tỉnh còn gặp nhiều khó khăn do
hậu quả chiến tranh để lại hết sức nặng nề với hơn 82% diện tích đất bị ô nhiễm
bom mìn. [38]. Hàng năm lại thường xuyên ảnh hưởng bão lụt. Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2010 – 2015 cũng nhìn nhận “Chất lượng
tăng trưởng của nền kinh tế chưa cao, thiếu bền vững. Cân đối ngân sách còn gặp
nhiều khó khăn. Công tác quy hoạch chưa bao quát toàn diện, thiếu tính chiến
lược dài hạn. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ. Thu hút đầu tư còn
khó khăn. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe
nhân dân còn một số hạn chế, khó khăn; kết quả xoá đói giảm nghèo thiếu bền
vững”. [36, tr.2].
Đời sống của một số bộ phận nhân dân nhất là ở các vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân
đầu người của tỉnh năm 2010 chỉ đạt 845 USD/năm, [36], trong lúc đó thu nhập
bình quân đầu người năm 2010 của cả nước là 1.273 USD. Tỷ lệ hộ nghèo của
tỉnh vẫn đang ở mức 20 % (theo tiêu chí mới). Trong bối cảnh đó, để đẩy mạnh
phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, nâng cao đời sống vật chất, văn
hóa tinh thần của nhân dân, việc thu hút các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là các
nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy phát
triển KT-XH địa phương.
Quảng Trị là một tỉnh có sớm có nhiều hoạt động của các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài. Từ tổ chức phi chính phủ Hà Lan ban đầu vào giúp tỉnh
tái thiết chiến tranh ngay sau khi giải phóng (Ủy ban y tế Việt Nam – Hà Lan),
tại thời điểm hiện tại Quảng Trị có trên 40 tổ chức phi chính phủ nước ngoài
2
hoạt động trên địa bàn tỉnh, trong đó có 15 văn phòng dự án (PTVN, SODI,
RENEW, MAG, CPI, PLAN, MCNV, GCSF, ROP, WVI Hải Lăng, WVI Triệu
Phong, WVI Hướng Hóa, Dự án DBU, Dự án ICCO ở Đakrông và
Medipeace/Hàn Quốc).
Với số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động tại
tỉnh Quảng Trị và hoạt động của các tổ chức này đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác
trong phát triển kinh tế xã hội như các tác giả Hoàng Chí Bảo, Thang Văn Phúc,
Nguyễn Viết Vượng, Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh Dinh, Đào Chí Úc
Trong các nghiên cứu xã hội dân sự, nổi bật là tác phẩm: “Xã hội dân sự ở
Việt Nam: Di chuyển từ lợi nhuận sang chủ đạo” của tác giả Thân Thị Thiên
Hương và Gita Sabharwal tháng 7 năm 2005. Bài báo này trình bày một cách
nhìn tổng quan về xã hội dân sự tại Việt Nam và bắt đầu bằng cách định nghĩa xã
hội dân sự.
Nhằm tìm hiểu vai trò, tính chất, loại hình hoạt động, lĩnh vực hoạt
động, công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN, tôi đã nghiên
cứu một số tài liệu nghiên cứu về các tổ chức PCP, các công trình nghiên cứu
về các tổ chức phi chính phủ được tổng hợp như sau:
1/ Đề tài “Nâng cao hiệu quả Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của
các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam” do học viên Nguyễn Thị Thanh Loan
thuộc Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia, khóa học 1999-2002, thực
hiện với sự hướng dẫn của TS. Thang Văn Phúc.
2/ “Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
trên địa bàn thành phố Hà Nội” do học viên Cần Việt Anh thuộc Học viện
Hành chính – Chính trị Quốc gia, khóa học 2005-2008 thực hiện.
3/ “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động
của các tổ chức phi chính phủ tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” do học
viên Thaviphone Sihathep quốc tịch Lào thuộc Học viện Hành chính Quốc gia,
khóa học 2011-2013 thực hiện.
4
4/ “Báo cáo về công tác vận động viện trợ và quản lý hoạt động của các
tổ chức phi chính phủ nước ngoài” do Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Trị thực hiện từ
năm 2009 đến năm 2013 .
5/ “Báo cáo 10 năm công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế của tỉnh
Quảng Trị” do Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Trị thực hiện năm 2013.
6/ “Báo cáo đánh giá công tác vận động, quản lý và sử dụng viện trợ
phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2005-1010” do Sở Kế hoạch và Đầu tư
nghèo, khám chữa bệnh, nuôi dạy trẻ mồ côi Các dự án phi chính phủ đã góp
phần giúp trẻ mồ côi, khuyết tật cải thiện điều kiện sống, giảm bớt mặc cảm để
hòa nhập cộng đồng; cải thiện cơ sở vật chất ngành giáo dục; giúp người nghèo,
hộ nghèo có điều kiện vươn lên trong cuộc sống Bà Phan Thị Mỹ Thanh, Phó
chủ tịch UBND tỉnh cho rằng thời gian tới các cơ quan chức năng của tỉnh cần
tích cực hơn nữa trong việc tranh thủ các dự án đầu tư của tổ chức phi chính phủ
nước ngoài vào sự phát triển của địa phương.
11/ Đa dạng hóa công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài,
Báo Cao Bằng Online 12/3/2014 đánh giá nguồn lực viện trợ của các tổ chức
PCPNN đã góp phần thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển KT -
XH của tỉnh. Nhận thức rõ vai trò, hiệu quả tác động của các nguồn vốn này,
Đảng bộ và chính quyền tỉnh Cao Bằng đã đẩy mạnh công tác vận động, thu hút
các nguồn viện trợ PCPNN….Để tiếp tục thu hút nhiều hơn nữa nguồn viện trợ
từ công tác PCPNN, trong thời gian tới, ngành Ngoại vụ tỉnh sẽ phối hợp với các
ngành hữu quan tham mưu cho tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương
trình xúc tiến vận động viện trợ, tăng cường trao đổi, liên lạc với các cá nhân, tổ
chức Phi chính phủ trong và ngoài nước, đẩy mạnh giao lưu, hợp tác với Đại sứ
quán các nước và các tổ chức đã có nhiều năm hoạt động tại Cao Bằng, tạo điều
kiện thuận lợi cho các tổ chức phi chính phủ chung vai cùng chính quyền địa
phương hỗ trợ các địa bàn khó khăn của tỉnh, thực hiện công tác xóa đói giảm
nghèo và các lĩnh vực khác như hỗ trợ về xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn,
giáo dục, y tế, nông, lâm nghiệp, chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết
tật, nạn nhân chất độc da cam…, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao
năng lực cộng đồng đóng góp vào sự phát triển KT - XH của tỉnh.
6
12/ Tổ chức phi chính phủ nước ngoài với hoạt động vì giảm nghèo ở
Việt Nam (1996-2008), tác giả ThS. Chử Thu Hà, khoa Văn hóa dân tộc, Đại
học Văn hóa Hà Nội với nội dung đánh giá hoạt động các tổ chức phi chính phủ
ở Việt Nam cho công việc giảm nghèo và phát triển bền vững trong các mảng
hoạt động lớn như nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trường, phát triển cộng đồng
công tác đại biểu, 21/1/2014 đánh giá trong những năm qua, Việt Nam đã tranh
thủ được nguồn tài trợ phi chính phủ, tuy chỉ mới ở mức bình quân đầu người rất
thấp nhưng đã góp phần giải quyết một số khó khăn về kinh tế, xã hội ở cơ sở và
địa phương. Trong tình hình có những khó khăn mới về nguồn tài trợ quốc tế
trong những năm đầu của thế kỷ XXI, số lượng các tổ chức phi chính phủ nước
ngoài hoạt động tại Việt Nam và giá trị viện trợ sẽ khó có thể tăng hơn. Việc có
duy trì hoặc nâng lên phần nào mức viện trợ hiện tại hay không tùy thuộc chủ
yếu vào công tác vận động và quản lý viện trợ phi chính phủ.
Theo tôi tìm hiểu và được biết hiện tại chưa có đề tài nghiên cứu khoa học
nào đánh giá hoạt động quản lý của nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ
hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, nên tôi mong muốn được tìm hiểu công
tác QLNN với các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nhằm tìm hiểu
công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN trên địa
bàn tỉnh Quảng Trị đưa ra các khuyến nghị và đề xuất nhằm nâng cao công tác
QLNN đối với các tổ chức này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài luận văn nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước
đối với các tổ chức phi chính phủ đang hoạt động tại tỉnh Quảng Trị và từ đó
đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ
chức phi chính phủ.
Để thực hiện mục tiêu đó đề tài tập trung vào ba nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và nội dung về Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của
các tồ chức Phi chính phủ.
- Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh
Quảng Trị hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp, biện pháp, kiến nghị nhằm tăng cường Quản lý Nhà
nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị.
8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
nước tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính
phủ tại Quảng Trị:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với công tác
quản lý các tổ chức phi chính phủ của nhà nước.
- Đánh giá thực trạng công tác QLNN trên lĩnh vực này tại tỉnh Quảng Trị
hiện nay trên cơ sở đó làm rõ những vấn đề chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
- Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao thực tiễn công tác quản lý nhà
nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị.
- Những đóng góp này góp phần làm tăng năng lực cũng như hiệu quả
công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị,
qua đó góp phần xây dựng một nền ngoại giao nhân dân vững mạnh, hiệu quả,
thân thiện.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn được cấu trúc làm ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với tổ chức phi
chính phủ
Chương 2: Thực trạng các tổ chức phi chính phủ và công tác quản lý
nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các
tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
1.1. Một số vấn đề lý luận về tổ chức phi chính phủ
1.1.1 Khái niệm tổ chức phi chính phủ trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm tổ chức phi chính phủ theo các nước trên thế giới
Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ”, theo tiếng Anh thường gọi là Non
Governmental Organization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation
lợi, phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thuộc khu vực
nhà nước tham gia vào các hoạt động hỗ trợ phát triển và hoạt động không vì lợi
nhuận. Nghĩa là, mọi khoản lợi nhuận nếu có thì không được và không thể phân
phối theo kiểu chia lợi nhuận.
Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trên thế giới đều hoàn toàn thống
nhất với nhau về mặt định nghĩa pháp lý cũng như trong cách gọi về tổ chức phi
chính phủ. Tùy theo đặc thù và tính chất cần nhấn mạnh mà ở các nước khác
nhau lại sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ các tổ chức phi chính phủ.
Chẳng hạn ở Pháp, đó là Tổ chức kinh tế - xã hội (Économie Sociale); ở Mỹ thì
gọi là Tổ chức phi lợi nhuận hay Tổ chức tự nguyện cá thể (Private Voluntary
Organizations); Đối với Anh, đó là Hội từ thiện công (Public Charities); Đối với
Đức, chỉ đơn giản gọi là Hiệp hội (Verbände); trong khi đó Trung tâm nghiên
cứu toàn cầu thúc đẩy sự tham gia của công dân (The Center for Study of Global
Governance) lại thường sử dụng thuật ngữ Tổ chức xã hội dân sự (Civil Society
Organization).
1.1.1.2. Khái niệm tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đang trên con đường đổi mới, việc phát huy,
tận dụng các nguồn lực để phát triển là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước.
Trong đó nguồn lực phát huy sức mạnh toàn dân, thực hiện xã hội hóa, và tận
dụng sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè, các tổ chức trên thế giới là vô cùng quan
trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựng
12
một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện các chủ trương và chính
sách đối ngoại rộng mở, Nhà nước đã thu hút ngày càng nhiều tổ chức phi chính
phủ nước ngoài đến Việt Nam. Hầu hết các tỉnh, thành phố, đặc biệt là các tỉnh
trung du, miền núi, các vùng dân tộc ít người đếu có các dự án của các tổ chức
phi chính phủ nước ngoài như: chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chương trình
nước sạch nông thôn, vốn tín dụng quay vòng cho phụ nữ nghèo, xây dựng
phủ càng đậm nét hơn.
- Tính tự nguyện. Hầu hết các tổ chức phi chính phủ được lập ra từ sự tự
nguyện của các thành viên và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện. Tính tự
nguyện được thể hiện qua việc các thành viên tự giác thực hiện các nhiệm vụ của
tổ chức mà thường không đòi hỏi bất kỳ điều kiện nào. Sự tự nguyện có thể là
hình thức đóng góp về thời gian, công sức hay về của cải vật chất. Tính tự
nguyện của các tổ chức phi chính phủ bền vững tới mức nó trở thành một trong
những nguyên tắc hoạt động nội bộ và quan hệ đối ngoại của các tổ chức PCP.
- Tính độc lập. Các tổ chức PCP thường được hình thành và hoạt động
mang tính độc lập tương đối với chính phủ. Chúng tuy được cơ quan có thẩm
quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, nhưng lại không lệ thuộc vào các cơ
quan đó và hoạt động theo sự quản lý điều hành của những người sáng lập; tự
trang trải về kinh phí trên nguyên tắc độc lập với chính phủ và nằm trong trong
khuôn khổ chung của xã hội.
- Tính không vụ lợi bản thân. Mục tiêu hoạt động của các tổ chức phi
chính phủ hết sức đa dạng tùy theo loại tổ chức cụ thể. Tuy nhiên, đích hướng tới
của hầu hết các tổ chức phi chính phủ không phải là nâng cao giá trị bản thân của
tổ chức phi chính phủ mà hướng tới các giá trị khác như giúp đỡ mọi người, đem
lại lợi ích cho xã hội.
- Tính phi lợi nhuận. Mục đích của hoạt động của các tổ chức PCP
thường không phải vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận và đây cũng là một đặc
điểm nổi bật của các tổ chức PCP so với các tổ chức khác. Mặc dù để tồn tại có
14
một số tổ chức PCP thực hiện các hoạt động kinh doanh có thu lợi nhuận,
nhưng cần hiểu đó là khoản lợi nhuận để duy trì và phát triển tổ chức theo mục
đích tôn chỉ khi thành lập và khoản lợi nhuận đó được dùng để thực hiện các
mục tiêu tổ chức đã đề ra chứ không phải để chia cho các thành viên hay để
phục vụ cho tổ chức.
- Tính linh hoạt. Trong khi bộ máy của các cơ quan nhà nước thường rất
cồng kềnh, nhiều tầng nấc và theo quy định chặt chẽ thì các tổ chức PCP lại