từ ngữ chỉ công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp của người tày ở tỉnh bắc giang - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
HOÀNG THỊ KHÁNH QUYÊN
TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP
CỦA NGƯỜI TÀY Ở TỈNH BẮC GIANGCHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60220240
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐOÀN VĂN PHÚC
Huế, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Khánh Quyên
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Đoàn Văn
Phúc, là người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện và hoàn thành luận văn
này.
Xin trân trọng cảm ơn Quý thầy cô giáo Viện ngôn
ngữ học, thầy cô giáo Khoa Ngữ văn và Phòng Sau Đại
học, trường Đại học Khoa học Huế đã trang bị những
kiến thức bổ ích cũng như góp ý, định hướng cho tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

5.1. Phương pháp nghiên cứu 7
5.2. Tư liệu nghiên cứu 8
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
6.1. Ý nghĩa khoa học 9
6.2. Ý nghĩa thực tiễn 10
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1. Khái niệm hình vị, từ, ngữ và nghĩa 11
1.1.1. Hình vị 11
1.1.2. Từ 13
1.1.3. Ngữ (cụm từ/ từ tổ) 16
1.1.4. Nghĩa của từ, ngữ 17
1.1.5. Trường nghĩa và vốn từ chỉ công cụ sản xuất 20
1.2. Vấn đề định danh 22
1.2.1. Khái niệm định danh 22
1.2.2 Đơn vị định danh và đơn vị miêu tả 23
1.3. Vài nét về người Tày và tiếng Tày 23
1.3.1. Về người Tày 23
1.3.2. Vài nét về tiếng Tày 25
1.4. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 31
1.4.1. Khái niệm văn hóa 31
1.4.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 33
1.5. Tiểu kết 34
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM
NGHIỆP CỦA NGƯỜI TÀY Ở TỈNH BẮC GIANG 35
2.1. Dẫn nhập 35
2.2. Kết quả khảo sát, thống kê hệ thống từ ngữ chỉ công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp của người
Tày ở tỉnh Bắc Giang 36
2.3. Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp của người Tày ở tỉnh Bắc Giang
38

Kết quả khảo sát, thống kê nhóm từ ngữ chỉ
công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp trong tiếng
Tày
36
2.2
Bảng ví dụ về một số từ ngữ chỉ công cụ sản
xuất trong nông nghiệp
37
2.3
Bảng ví dụ về một số từ ngữ chỉ công cụ sản
xuất trong lâm nghiệp
37
2.4
Kết quả phân loại các từ ngữ chỉ công cụ sản
xuất nông, lâm nghiệp trong tiếng Tày xét về
đặc điểm cấu tạo
39
2.5
Bảng ví dụ về một số từ ghép chính phụ chỉ
công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp do hai yếu
tố ( âm tiết/ hình vị) tạo thành
42
2.6
Sơ đồ mô hình hóa mối quan hệ của từ ghép
chính phụ do hai (âm tiết/ hình vị) tạo thành
43
2.7
Bảng ví dụ về một số từ ghép chính phụ chỉ
công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp do ba yếu
tố (âm tiết/ hình vị) cấu tạo thành

công dụng/ chức năng
62
3.4
Bảng ví dụ về một số từ ngữ chỉ công cụ sản
xuất nông, lâm nghiệp định danh dựa vào
nguyên liệu chế tạo công cụ
63

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội của con
người. Đó là phương tiện giao tiếp chủ yếu, nhờ nó mà con người có thể trao
đổi kinh nghiệm lẫn nhau, truyền đạt và chia sẻ tri thức cho nhau trong quá
trình khám phá và chiếm lĩnh thế giới tự nhiên, xã hội và bản thân con người
một cách nhanh nhất, chính xác nhất. Ngôn ngữ sinh ra, tồn tại, đồng hành
cùng với xã hội loài người và là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con
người. Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có ngôn ngữ riêng của mình.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ và có nền văn hóa đa dạng
trong sự thống nhất các nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc. Các dân tộc
anh em sống trên các địa bàn phân bố rộng khắp trên lãnh thổ hình chữ S, mỗi
dân tộc có phong tục, tập quán; có truyền thống văn hóa và có tiếng nói riêng.
Đặc biệt, chính tiếng nói riêng ấy của các dân tộc đã và đang góp phần tạo
nên sự đa dạng và phong phú cho vốn từ ngữ tiếng Việt. Theo tinh thần của
nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, Việt Nam đang phấn đấu để xây dựng
một quốc gia có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mà nền văn
hóa đó được tạo nên từ bản sắc riêng của mỗi dân tộc anh em, trong đó có
ngôn ngữ, thành tố chủ yếu của văn hóa. Tiếng Tày là một trong những thành
tố góp phần vào bản sắc văn hóa của người Tày và cộng đồng quốc gia dân
tộc Việt Nam.
Dân tộc Tày là một cộng đồng có số dân đông nhất trong số 53 dân tộc ít

cụ sản xuất nông, lâm nghiệp để khám phá thêm những đặc trưng văn hóa của
dân tộc mình. Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu “Từ ngữ chỉ công cụ sản xuất
2
nông, lâm nghiệp của người Tày ở tỉnh Bắc Giang” làm đề tài của luận văn.
2. Lịch sử vấn đề
Đến nay đã có khá nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài nước
nghiên cứu về tiếng Tày trên các phương diện cấu trúc, quan hệ cội nguồn,
xã hội ngôn ngữ học. Với các tác giả trong nước, người nghiên cứu tiếng
Tày (và cả Tày - Nùng) nhiều nhất và nổi bật nhất là Hoàng Ma, một
PGS.TS người Tày, nguyên cán bộ của Viện Ngôn ngữ học. Có thể nói,
ngoài những công trình được kể ra dưới đây, ông còn có tập bài viết Ngôn
ngữ dân tộc thiểu số Việt nam: một số vấn đề về quan hệ cội nguồn và loại
hình học (KHXH., H., 2002). Nhìn lại, về nghiên cứu tiếng Tày, có thể thấy:
* Về cấu trúc ngôn ngữ
Qua sự tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay chưa có một công trình nghiên
cứu chuyên sâu, hệ thống, toàn diện về ngữ âm tiếng Tày. Song ngay từ
những năm bảy mươi của thế kỉ XX đã có một số bài viết nghiên cứu về ngữ
âm tiếng Tày (Tày - Nùng). Chẳng hạn, trong Ngữ pháp tiếng Tày Nùng
(1971), các tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo đã trình bày sơ lược hệ
thống ngữ âm của tiếng Tày – Nùng. Hoặc điều này có thể được biết rõ ràng
hơn qua công trình Hệ thống ngữ âm tiếng Tày Nùng (1972) của tác giả Đoàn
Thiện Thuật trong Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Viện
Ngôn ngữ học, Hà Nội). Gần đây, trong giáo trình giảng dạy tiếng Tày cũng
có đề cập và giới thiệu hết sức sơ lược về hệ thống ngữ âm tiếng Tày (chẳng
hạn cuốn Slon Phuối Tày của Lương Đức Bèn (Chủ biên), Ma Ngọc Dung.
Nxb Đại học Thái Nguyên, 2009) hoặc một số bài viết. Ví dụ: bài viết Bản
sắc riêng trong tiếng nói của người Tày ở Nghĩa Đô, Lào Cai trên trang web
của Cục văn thư lưu trữ Nhà nước [45] đã chỉ ra điểm độc đáo ở một số chữ,
âm vần, thanh lửng, phụ âm lắc trong tiếng Tày Nghĩa Đô so với tiếng Tày ở
các vùng khác. Đặc biệt, năm 2010 tại Đại học Sư phạm Hà Nội, với luận văn

Nguyễn Thị Hằng với Từ ngữ chỉ người trong tiếng Tày Nùng. Ngoài ra,
cũng năm 2009, còn có luận văn thạc sĩ Đặc điểm cấu trúc hình thức và
ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày của Hà Huyền Nga. Có thể nói, các công
trình này cũng là sự gợi mở cho chúng tôi tiếp tục khai thác vấn đề từ vựng
tiếng Tày không chỉ dưới góc độ ngôn ngữ học mà còn nhằm tìm ra những giá
trị văn hóa tiềm ẩn trong các lớp từ đó [4], [6].
* Trên phương diện ngữ pháp
Đó là công trình Ngữ pháp Tày – Nùng (1971) của Hoàng Văn Ma, Lục
Văn Pảo. Gần đây (2010) một số luận văn thạc sĩ tại Đại học sư phạm Thái
Nguyên nghiên cứu về một số khía cạnh trên bình diện ngữ pháp của tiếng
Tày như: Câu hỏi trong tiếng Tày của Vũ Huyền Nhung, Phương thức láy
trong tiếng Tày của Hà Thị Bạch [4], [25], [26].
* Trên phương diện xã hội ngôn ngữ học
Mấy chục năm gần đây, những vấn đề về xã hội ngôn ngữ học được các
nhà ngôn ngữ học ở nước ta tập trung nghiên cứu, đặc biệt đối với các ngôn
ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó có tiếng Tày. Chẳng hạn, Tiếp xúc
ngôn ngữ Việt (Kinh) - Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam, của Đặng Thanh
Phương, Luận án tiến sĩ lịch sử, H., 2004; Tình hình sử dụng ngôn ngữ ở hai xã
Hưng Đạo và Hoàng Trung (Huyện Hòa An - tỉnh Cao Bằng), của Tô Phương
Chi (2006), Khóa luận tốt nghiệp, HN; Cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang của
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2010); Nguyễn Thị Thanh Huyền, Bình Thành
(2010), Một số đặc điểm của cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang, Ngôn ngữ;
Cảnh huống ngôn ngữ ở Thái Nguyên, của Dương Thị Thanh Hoa (2010); Mấy
nét về cảnh huống ngôn ngữ ở Thái Nguyên, của Dương Thị Thanh Hoa, Lan
Hương (2010), Ngôn ngữ; Cảnh huống đa ngữ ở huyện Hòa An, tỉnh Cao
Bằng, của Nguyễn Hoàng Lan (2010). Hoặc bài viết Vị thế, chức năng của các
5
ngôn ngữ dân tộc ở vùng Đông Bắc của Hoàng Văn Ma và Phan Lương Hùng
trong Bức tranh toàn cảnh về các ngôn ngữ ở Việt Nam, đề tài cấp Bộ, Viện
ngôn ngữ học (đã nghiệm thu 3/2011), [8], [19], [20], [21], [27], [30].

chỉ công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp của người Tày ở tỉnh Bắc Giang.
Thứ ba, trình bày giá trị biểu đạt của phương thức định danh từ ngữ chỉ
công cụ sản xuất, từ đó tìm hiểu và chỉ ra đặc điểm văn hóa của cư dân Tày
nói chung, cư dân Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng qua các từ chỉ
công cụ sản xuất.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Từ ngữ chỉ công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp của người Tày
ở tỉnh Bắc Giang, luận văn nghiên cứu về đặc điểm vốn từ ngữ chỉ công cụ
sản xuất nông, lâm nghiệp, chứ người viết chưa có ý định nghiên cứu trường
nghĩa về công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp. Khi nghiên cứu trường nghĩa về
công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp, người nghiên cứu sẽ phải nghiên cứu
không chỉ các từ ngữ chỉ công cụ sản xuất, mà còn phải nghiên cứu các từ ngữ
chỉ thao tác, phương thức, hành động, tính chất. Trong luận văn này, chúng
tôi chỉ dừng lại khảo sát các danh từ gọi tên công cụ sản xuất trong nông, lâm
nghiệp và nghiên cứu đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa, phương thức định danh
và văn hóa riêng của lớp từ (vốn từ) đó.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được đề tài trên, người viết luận văn có sử dụng phương
pháp nghiên cứu dưới đây:
7
- Phương pháp nghiên cứu điền dã:
Để thu thập và bổ sung tư liệu. Phương pháp này áp dụng khi chúng tôi
tiến hành thống kê vốn từ ngữ chỉ công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp trong
tiếng Tày nói chung qua Từ điển Tày – Nùng – Việt và Từ điển Việt – Tày –
Việt của các tác giả Hoàng Ma, Lục Văn Pảo. Sau đó, trên thực địa tại các
vùng cư trú của người Tày ở Bắc Giang, chúng tôi bổ sung thêm vốn từ của
địa phương mang đặc điểm của môi trường sống của cư dân Tày tại Bắc
Giang, cụ thể là hai huyện Lục Nam và Sơn Động của tỉnh Bắc Giang. Trong
khi điều tra bổ sung, chúng tôi sẽ chụp ảnh lại các loại công cụ đó và tìm hiểu

6.1. Ý nghĩa khoa học
Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, văn hóa và
phương thức định danh các từ ngữ chỉ công cụ sản xuất nông, lâm nghiệp sẽ
là sự bổ sung thêm lí luận và vấn đề cấu tạo từ trong các ngôn ngữ đơn lập
thuộc tiểu loại hình cổ (như tiếng việt, tiếng Thái, tiếng Tày ), cũng như
phương thức định danh các tên gọi sự vật liên quan đến văn hóa tộc người và
mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa tộc người của các dân tộc ở Việt Nam và
thế giới. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài còn là sự bổ sung thêm
những tư liệu và lí luận về vấn đề cấu tạo từ ngữ trong tiếng Tày.
Luận văn sẽ có thể cung cấp thêm những tư liệu mới về sự tiếp xúc ngôn
ngữ - văn hóa giữa tiếng Tày với các ngôn ngữ khác, đặc biệt là việc vay
mượn từ vựng của người Việt, hay phương thức căn-ke trong cấu tạo từ của
người Tày ở Bắc Giang khi vay mượn từ vựng hay phương thức tạo từ mới từ
các yếu tố vay mượn từ bên ngoài.
9
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua công trình nghiên cứu này, người viết cũng muốn góp chút công sức
nhỏ vào việc tôn vinh giá trị văn hóa của dân tộc Tày vào nền văn hóa chung
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gom góp vốn từ ý nghĩa này vào kho từ
vựng Tiếng Việt phong phú của dân tộc. Hơn nữa, chúng tôi hi vọng sẽ cung
cấp thêm vào tài liệu tham khảo cho những ai yêu thích tiếng Tày và những ai
quan tâm đến giá trị của nó trong hệ thống ngôn ngữ của các tộc người Việt
Nam. Đồng thời, luận văn sẽ giúp cho các cộng đồng tộc người người khác
hiểu rõ hơn về người Tày và tiếng Tày, góp phần vào củng cố khối đại đoàn
kết dân tộc ở nước ta trong bối cảnh vấn đề dân tộc và tôn giáo đang nóng
bỏng trên thế giới.
- Những tư liệu thu nhận được và sự lý giải của chúng tôi sẽ góp phần
soi sáng thêm mối quan hệ giữa các ngôn ngữ cùng thuộc nhóm Tày Thái nói
chung và sự vay mượn từ ngữ trong tiếng Tày với các ngôn ngữ khác riêng
trong tiến trình lịch sử.

của nó, với tư cách yếu tố cấu tạo từ.
Khi nghiên cứu các ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học ít tranh luận về các
đặc tính chung của hình vị nhưng những dạng thức cụ thể của một hình vị
trong một ngôn ngữ cụ thể là thế nào, hiểu ra sao về “nghĩa” của hình vị trong
ngôn ngữ này, thì lại được thảo luận khá kĩ và sôi nổi. Chẳng hạn, trong tiếng
Việt từng có cuộc tranh luận rất sôi nổi về bản chất các đơn vị được gọi là
“tiếng” (với vai trò nhất thể ba ngôi, vừa là “âm tiết”, vừa là “từ”, vừa là
“hình vị”). Dưới đây là một số quan niệm của các tác giả định nghĩa về hình
vị, dựa trên đặc điểm về hình thái, cấu trúc, chức năng của hình vị:
11
“Hình vị là đơn vị hình thái học không thể phân chia thành những đơn vị
hình thái học nhỏ hơn, nó là yếu tố cấu tạo từ” [Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ
pháp tiếng Việt, tiếng – từ ghép – đoản ngữ, Nxb ĐH và THCN, Hà Nội. tr.23).
“Hình vị là những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất có thể kết hợp với nhau để
tạo các từ” [Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2001), Đại cương ngôn ngữ học,
tập 1, Nxb GD, Hà Nội, tr.8];
“Hình vị cũng là đơn vị có nghĩa, cũng được tái hiện như các từ, nhưng
hình vị chỉ được phân xuất ra nhờ phân tích bản thân các từ, chúng không
tồn tại độc lập mà nhập hẳn vào từ, không tách rời khỏi từ” [Nguyễn Thiện
Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN, Hà Nội, tr.13];
“Hình vị là đơn vị ngôn ngữ, nhỏ nhất, có nghĩa, có chức năng làm thành
tố trực tiếp tạo nên từ” [Hoàng Văn Hành (chủ biên, 1998), Từ tiếng Việt hình
thái - cấu trúc - từ ghép - từ láy - chuyển loại, Nxb KHXH, Hà Nội, tr.40].
Từ những định nghĩa trên, ta thấy “hình vị” có một số đặc điểm đáng
lưu ý là:
- Là đơn vị có kích thước vật chất - âm thanh nhất định, là mặt biểu thị,
hình thức;
- Là đơn vị có ý nghĩa nhất định, là mặt được biểu thị, nội dung;
- Là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối ổn định, vững chắc, không thể
phân tách thành các đơn vị nhỏ hơn về nghĩa;

ngôn ngữ cũng vậy. Ví dụ:
- Đỗ Hữu Châu: “Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định,
nằm trong những kiểu tạo câu nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất
định, lớn nhất trong Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”.
13
(Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb
ĐHQG Hà Nội, tr.122).
- Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến nêu định nghĩa về
từ tiếng Việt: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền
vững, hoàn chỉnh có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do
trong lời nói để tạo câu”.(Mai Ngọc Chừ,Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng
Phiến (1990), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Đại học và giáo dục
chuyên nghiệp, H.).
- Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật
chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch
sử. (Nguyễn Văn Tu (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại. Nxb ĐH và
THCN, H.).
- Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi
đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn
chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp.
(Nguyễn Kim Thản (T1, 1963 – T2,1964), Nghiên cứu về ngữ pháp
tiếng Việt, H).
Qua các định nghĩa, chúng tôi nhận thấy từ có những đặc điểm cơ bản
giúp phân biệt nó với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ như sau:
- Là một khối thống nhất, hoàn chỉnh của hình thức và nội dung hay nói
cách khác, từ bao gồm hai mặt: âm thanh và ý nghĩa. Tính hoàn chỉnh và
thống nhất giữa hai mặt này giúp cho từ có khả năng hoạt động độc lập để tạo
câu theo những quy tắc kết hợp nhất định.
- Mang tính sẵn có, tồn tại độc lập: Chúng có thể tách ra khỏi câu mà
vẫn có ý nghĩa như vậy, chúng có thể được dùng để đặt câu khác.

Bên cạnh đơn vị “từ”, trong ngôn ngữ người ta còn đề cập đến một đơn
vị cũng cùng chức năng nhưng cấu tạo khác đơn vị “từ” có là “ngữ” hay còn
được gọi là cụm từ, từ tổ.
Cũng theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” của Nguyễn
Như Ý: “Ngữ là sự kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với
các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một
khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực
tại khách quan”, [35, tr.176].
Hay quan niệm về ngữ của nhóm tác giả Hoàng Văn Ma – Lục Văn Pảo
trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Tày – Nùng”: “Cụm từ là hai hay trên hai từ kết
hợp với nhau theo những quan hệ ngữ pháp nhất định” [13].
Về cấu tạo, ngữ là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc
nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp,
chi phối hay liên hợp. Trong một số ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt
ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố
chính gọi là các thành tố phụ. Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo
nên ngữ danh từ), động từ (tạo nên ngữ động từ), tính từ (tạo nên ngữ tính từ).
Về chức năng và đặc điểm: Cũng giống như từ, ngữ cũng là phương tiện
định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng quá trình, phẩm chất. Ý nghĩa ngữ pháp
của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên
cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng.
Về phân loại: Ngữ thường chia thành hai kiểu: Ngữ tự do (cụm từ tự do)
và ngữ không tự do (ngữ/cụm từ cố định)
+ Ngữ tự do/ Cụm từ tự do: Bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của
tất cả các thực từ tạo thành ngữ. Mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ
tự do là mối liên hệ linh loạt và có sức sản sinh.
16
+ Ngữ không tự do/Ngữ cố định/cụm từ cố định: Tính độc lập về mặt từ
vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng
của ngữ trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt.

riêng, trở thành những thực thể vật chất - tinh thần.
Nghĩa của từ không tồn tại trong ý thức, trong bộ óc của con người.
Trong ý thức, trong tư duy của con người chỉ có những hoạt động nhận thức,
hoạt động tư duy mà thôi. Điều này ngụ ý rằng: Trong ý thức, trong bộ óc trí
tuệ của con người chỉ tồn tại sự hiểu biết về nghĩa của từ chứ không phải là
nghĩa của từ. Từ những điều trên đây, suy tiếp ra rằng những lời trình bày,
giải thích trong từ điển, cái mà ta vẫn quen gọi là của từ trong từ điển, thực
chất là những lời trình bày tương đối đồng hình với sự hiểu biết của ta về
nghĩa của từ mà thôi.
Từ có liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tượng. Bởi thế nghĩa của từ
cũng không phải chỉ có một thành phần, một kiểu loại. Tùy theo các chức
năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có những thành phần ý
nghĩa sau đây:
- Ý nghĩa từ vựng gồm:
+ Ý nghĩa biểu vật (denotative meaning): Ý nghĩa biểu vật là thành phần
nghĩa của từ liên quan đến sự vật hoặc phạm vi sự vật trong thế giới mà từ gợi
ra khi ta tiếp xúc với nó (sản sinh và tiếp nhận).
+ Ý nghĩa biểu niệm (significative meaning): Là thành phần nghĩa của từ
liên quan đến hiểu biết về ý nghĩa biểu vật, tức về cách dùng từ. Hay nói một
cách khác ý nghĩa biểu niệm là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng,
khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status