kinh nghiệm phụ đạo học sinh yếu môn toán lớp 4 - Pdf 24

A.ĐẶT VẤN ĐỀ:
I.Cơ sở lí luận:
Chúng ta đang bước ở chặng đường đầu tiên của thế kỉ 21 ,thế kỉ của công
nghiệp hoá ,hiện đại hoá và hội nhập toàn cầu .Thế kỉ của những con người năng
động ,sáng tạo ,thông minh ,giàu nghị lực và phải luôn biết tiếp thu cái mới.Để đất
nước thành công trên con đường hội nhập cần phải có những con người mới phát triển
toàn diện.Đó cũng chính là mục tiêu lớn nhất,là cái đích cuối cùng, là trọng trách lớn
lao của ngành giáo dục trong đó có giáo dục Tiểu học mà Đảng, nhà nước đã giao phó.
Trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ I, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh :
“Dân có giàu thì nước mới mạnh.Một đất nước cường thịnh không thể tồn tại một
trong ba loại giặc :“giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, trong đó sự dốt nát luôn đi kèm
với đói nghèo, đói nghèo chính là hệ quả của sự dốt nát, kém hiểu biết .
Xuất phát từ nhận định trên, đối chiếu với hoàn cảnh đất nước, song song với việc
đào tạo những con người mới phát triển toàn diện, việc hình thành và phát triển cho
học sinh những tri thức, những kĩ năng cần thiết, tối thiểu, làm cơ sở, tiền đề giúp các
em hoà nhập với cuộc sống cộng đồng, biết tự phục vụ bản thân, gia đình và đóng góp
cống hiến sức mình cho đất nước là mục tiêu vô cùng quan trọng .Song để làm được
điều đó, nhiệm vụ đặt ra với ngành giáo dục là hết sức lớn lao.Trong đó, bậc Tiểu
học ,bậc học đặt nền móng, quyết định sự thành công trong việc thực hiện mục tiêu
chung ấy .
T
rong nhà trường phổ thông nói chung, trường tiểu học nói riêng, môn Toán
học với tư cách là một môn độc lập, nó cùng với các môn học khác góp phần đào
tạo nên những con người phát triển toàn diện. Trong các môn học ở Tiểu học, cùng
với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí và tầm quan trọng rất lớn vì:
Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời
sống, cần thiết cho người lao động, chúng hỗ trợ học tốt các môn học khác ở tiểu
học và là cơ sở để học tiếp môn Toán ở trung học cơ sở.
Môn Toán giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ và hình dạng không gian
của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt
của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống.

2
Tình trạng học sinh học hết Tiểu học đọc viết chưa thông, tính toán chưa thạo, học
sinh ngồi nhầm lớp vẫn còn là vấn đề báo động .Đặc biệt, căn cứ kết quả khảo sát hàng
kì, hàng năm, nhất là đối với 2 môn Toán và Tiếng Việt cho thấy rất rõ: môn Toán
thường kém hơn so với các môn khác, số học sinh yếu ở hầu hết các lớp đều rơi vào
tình trạng yếu ở môn Toán, số đông học sinh trung bình có môn Toán còn ở mức thấp
“trung bình non. Làm thế nào để những em học sinh này khi học hết Tiểu học có thể
theo kịp chương trình của Trung học cơ sở?.Và rồi, hết bậc Trung học cơ sở, mỗi chủ
nhân tương lai âý sẽ bước vào cuộc sống trong cơ chế hội nhập như thế nào ? Đó là
câu hỏi đặt ra cho mỗi nhà giáo dục, là nỗi trăn trở cho mỗi giáo viên trực tiếp làm
công tác giảng dạy, giáo dục.
Đã nhiều năm được phân công chủ nhiệm, giảng dạy ở khối lớp 4- khối lớp đón đầu
chuyển giao của hai giai đoạn phát triển tư duy từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, khối lớp mà lượng kiến thức được coi là khó, là nặng đối với khả năng nhận thức
của học sinh (theo nhận xét từ kinh nghiệm giảng dạy của nhiều giáo viên).Đứng trước
những con số báo động về số lượng học sinh yếu đặc biệt với môn toán, tôi quyết định
nghiên cứu, đúc rút “Kinh nghiệm phụ đạo học sinh yếu môn Toán lớp 4” với mong
muốn vực dậy số học sinh yếu kém ,giúp các em theo kịp với chương trình, góp phần nhỏ
bé vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học nói riêng, mục tiêu giáo dục nói chung.

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
I.Điều tra thực trạng trước lúc nghiên cứu:
a.Về chương trình môn Toán học :
b.Thực trạng dạy toán:
Qua nghiên cứu nội dung chương trình môn Toán 4, tôi nhận thấy :trong các mảng
kiến thức số học-hình hoc-đại lượng và giải toán thì 4 phép tính về số tự nhiên, phân số, và
giải toán có lẽ là các mảng kiến thức trọng tâm, bao trùm và chiếm thời lượng lớn nhất
3
trong toàn bộ chương trình học.Trong đó, những khó khăn mà HS gặp phải trong mỗi
phần đó là:

lại ở mức nhắc lại, rập khuôn một quy tắc có sẵn. Nhìn chung các em lười tư duy,
nhiều em ỉ lại vào bạn bè, thường xuyên quay cóp bài của bạn. Khi thảo luận nhóm
,các em thường ỷ lại các bạn cùng nhóm, không dũng cảm đưa ra ý kiến của cá nhân.
Khi nhận xét bài của bạn làm thì thường trả lời đúng hoặc sai mà không có lý giải vì
sao đúng? Vì sao sai ?, thậm chí nhiều em, không trả lời, buộc giáo viên phải cho ngồi
xuống. Bài tập chưa hoàn thiện ở lớp cô giao về nhà thường bỏ trống hoặc làm qua loa
cho có bài để đối phó.Ở nhà, thường không có góc học tập dành riêng cho mình,
thường xuyên quên sách vở, đồ dùng, sách vở không bao bọc cẩn thận, nhàu nát. Các
em thường có tâm lý tự ti, mặc cảm với bạn bè cùng trang lứa, kém chuyên cần trong
học tập, ít tham gia các hoạt động tập thể có ý nghĩa như lao động, văn nghệ…
Một số em có cảm giác sợ cô giáo hỏi bài hoặc chú ý đến mình, thường có tư tưởng
chán học. Nếu không đựợc quan tâm, coi trọng đầu tư phụ đạo, rất có thể các em học
đã yếu lại càng yếu hơn. Nguy cơ bỏ học sẽ là điều sớm muộn.
c.Về phía giáo viên:
- Nhiều giáo viên mới ra trường, do kinh nghiệm giảng dạy còn non lại được phân
công giảng dạy ở lớp 4, nhiều đồng chí trong quá trình giảng dạy còn hời hợt, chưa
xác định rõ được kiến thức trọng tâm của từng bài, chưa khắc sâu được kiến thức cho
học sinh, đôi khi còn chưa làm chủ được kiến thức, chưa bao quát được toàn bộ học
sinh, không nắm bắt được khả năng nhận thức, điểm yếu của từng em, nhất là HS
yếu.Vì vậy, khi dạy thường chỉ chú ý đến thời gian, không bám sát vào mục tiêu trọng
tâm bài, nên cố “ lướt” hết bài, dạy theo kiểu “mạnh ai, nấy thắng”, vì vậy,em nào yếu,
cứ yếu và yếu mãi…
Bên cạnh đó, nhiều giáo viên có tay nghề, giàu kinh nghiệm trong giảng dạy thì lại
chưa thực sự nhiệt tình, tâm huyết với nghề, chưa hết lòng vì học sinh ,vừa dạy vừa
“giữ sức”, chạy theo bệnh thành tích.
II.Các phương pháp nghiên cứu và thực hiện :
5
- Khảo sát, phân loại đối tượng .
- Phương pháp đàm thoại, hỏi đáp.
- Phương pháp thi đua, nêu gương.

đỡ ,kiểm tra kết quả vào giờ truy bài và so sánh kết quả học tập của các em sau mỗi
tuần .
* Ngoài chương trình giảng dạy theo quy định, giáo viên cần xây dựng kế hoạch phụ
đạo học sinh yếu kém, cho từng tuần, tháng và xuyên suốt năm học .Tiến trình lập kế
hoạch phụ đạo riêng cho HS yếu được tiến hành như sau:
1.Dạy cho học sinh cách thực hiện 4 phép tính:
Để thực hiện được phụ đạo phần này có hiệu quả,tôi đã căn cứ vào kết quả khảo
sát đầu năm của nhà trường và tiến hành khảo sát lại một lần nữa nhưng phân loại tong
mảng kiến thức cho mỗi lần kiểm tra để tìm chính xác điểm yếu của từng emvà dự
kiến kế hoạch,thời gian phụ đạo vào cuối các buổi chiều thứ 2,4,6 trong tuần, mỗi buổi
20 phút.Lập danh sách các em HS yếu và một số em có kết quả điểm sau2 lần khảo sát
không ổn định ở mức độ thấp .Đặc biệt ,chú ý hơn tới các em có kết quả kém ở phần
tính toán 4 phép tính với số tự nhiên.
Bước 1: Cho học sinh làm bài kiểm tra đợt 1 (đầu tháng 9-sau kiểm tra định kì đầu
năm):
• Đề kiểm tra :
Bài 1: Đọc, viết số:
a. Đọc số :36 472
b. Viết số : Chín mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai
Bài 2: Đặt tính rồi tính
a.3472+1540 = ? c. 238 x7 =?
7
b. 6384 -195 = ? d. 276 :3 =?
Trong số 10 HS được kiểm tra(5 HS điểm yếu cả 2 đợt kiểm tra , 5 HS có kết quả
kiểm tra không ổn định), kết quả như sau:
- Bài 1 : Không có học sinh nào đọc sai ,2 HS viết số sai.
- Bài 2: 4 HS cộng trừ sai,8 HS nhân chia sai.
Dựa vào kết quả khảo sát sau 2 lần, tôi đã đánh giá thực chất em nào hổng
kiến thức ở dạng nào,xác định rõ nguyên nhân sai của từng em ,có ghi chép cụ thể.
Qua bài kiểm tra cho thấy: các em vẫn chưa thành thạo trong cách cộng trừ nhẩm qua

hơi chậm.)
2.Khắc phục nguyên nhân cộng trừ sai:(Thực hiện từ tuần 4-8)
- Trong phép cộng và trừ số tự nhiên, phần lớn HS sai ở phép cộng, trừ có nhớ.Có
em quên không “nhớ”, có em “ nhớ” ở phép trừ như phép cộng, có em “nhớ” vào số bị
trừ…Kĩ năng cộng trừ còn rất chậm
- Để khắc phục sai lầm này,tôi làm như sau:
- Yêu cầu cặp đôi luyện thuộc bảng “ Phép cộng trừ trong phạm vi 10”.
- Hướng dẫn cách cộng, trừ nhẩm :
Ví dụ 1 : 8 +5 ( tách 5 thành 2 và 3 để có 2+8 = 10; 10 +3 = 13 )
Ví dụ 2: 15-7 (tách 15 thành 10 và 5, lấy 10- 7 =3; 3+5 = 8)
- Sau đó dùng phương pháp hỏi đáp theo cặp, nêu câu đố để luyện đọc phép
cộng trừ qua 10.
9
- Hướng dẫn HS cách thực hiện cộng và trừ:
+ Đặt tính thẳng cột theo thứ tự từ phải sang trái.
+ Thực hiện trừ từ trái sang phải.
- Tiến hành song song 2 phép tính cộng rồi đến trừ để HS so sánh cách “nhớ
”trong phép cộng khác phép trừ ở chỗ nào?
- Cho HS thực hành từng cặp 2 phép tính cộng và trừ đến khi làm tốt mới thôi.
- Bên cạnh đó, trong mỗi tiết học chính khoá,học mảng kiến thức khác nhưng
gặp kiến thức liên quan đến phép cộng và trừ, tôi luôn chú ý đến những điểm yếu này
của HS để phối hợp sửa chữa và khắc phục triệt để,kịp thời.
Bước 2: Khảo sát chất lượng môn Toán lần 2 (Sau kiểm tra định kì giữa học kì 1)
*Đề kiểm tra:
Bài 1: a.Đọc sô:4 078 239
b.Viết số: Năm trăm linh bảy nghìn ba trăm bốn mươi mốt.
Bài 2: Đặt tính rồi tính
a. 4682 +2395 = c.135 x 7=
b. 987864 – 83281= d.8412:4 =
*Kết quả :

số.Nếu còn học sinh sai thì không thể thực hiện phép chia cho số có 2,3 chữ số
được.Việc làm này phải làm triệt để.Khi học sinh đã thuộc bảng chia, tôi thấy các em
thực hiện phép chia cho số có 1 chữ số khá tốt.
+ Hướng dẫn kĩ cách ước lượng thương ngay từ phép chia cho số có 2 chữ số.Kết hợp
trong qua trình dạy mỗi bài với việc phân dạng phép chia cho số có 2 chữ sốnhư sau:
11
Dạng 1:Phép chia có tận cùng là chữ số 0:
- Hướng dẫn HS cách lược bỏ cùng một số chữ số 0 ở tận cùng của số bị chia và số
chia để đơn giản phép chia thành chia cho số có 1 chữ số bằng ví dụ cụ thể:
VD : 320 :40 =(320 :10 ): (40 :10)=32 : 4 =8
Sau đó HS thực hành với 1 số phép tính có dạng điển hình : 480 : 30 ; 1500 :
60 ; 3050 : 50 ….Ở bước này, cần nhấn mạnh: số chữ số 0 được xoá đi ở cả số bị
chia và số chia phải bằng nhau và chỉ được xoá các chữ số 0 ở tận cùng của mỗi số.
- Luyện đến khi HS làm thạo và liên tục nhắc lại khi găp dạng tương tự.
Dạng2: Phép chia mà mỗi bước chia, số bị chia chỉ có 2 chữ số.
* Trong mỗi phép tính đều có nhiều bước tính( mỗi lần hạ chữ số để chia và
thực hiện chia là 1 bước),mỗi bước ấy lại có nhiều bước nhỏ( chia,nhân,rồi trừ
nhẩm ),HS yếu rất khó nhớ thứ tự.Vì vậy,giáo viên phải hướng dẫn thật
chậm,tuần tự từng bước một, .Khi HS chưa thạo,không nên hướng dẫn trừ nhẩm
trực tiếp.Tăng cường khâu động viên, khuyến khích để các em mạnh dạn nói to
cách chia trước lớp sau mỗi lần thưc hiện trên bảng hoặc nhận xét bài của bạn
giúp các em nhanh thuộc các bước chia và ghi nhớ nhanh hơn.ở đây,tôi chỉ xin đi
sâu về việc hướng dẫn học sinh cách ước lượng thương,các bước còn lại trong
phép chia giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm đúng quy trình.
* Hướng dẫn bằng một ví dụ cụ thể :
VD: 441:21 =?
- Hướng dẫn đặt tính: 441 21
42 21
21
21

- Hướng dẫn thực hiện tính: 3482 54
324 64
242
216
26
- Hướng dẫn ước lượng thương:
+Bước 1: 348 :54 350 : 50 35 : 5 được 7
Trong bước này,sau khi tìm được thương là 7, lấy: 7 x 54 =378 ; 378
>348 .Vì vậy ,ta phải bớt đi 1 lần thương còn 6.
+ Bước 2: 242 :54 240 :50 24: 5 được 4.
Việc hướng dẫn học sinh cách ước lượng thương như trên được thực hiện ngay
trong khi dạy về phép chia cho số có 2 chữ số ở trên lớp trong các tiết chính khoá
.Song, đối với học sinh yếu, cần phân dạng, củng cố lại ở các tiết tăng và phụ đạo
ngoài giờ theo hệ thống để học sinh nắm thật chắc và vận dụng được dạng này mới
chuyển sang dạng khác.
14
Muốn vậy, với mỗi dạng,cần phải đưa 1 thêm một số ví dụ tương tự, đủ để học sinh
thực hiện thành thạo dạng phép chia đó.
Khi đã hướng dẫn kĩ cách ước lượng thương trên với phép chia cho số có 2 chữ
số,thì tương tự với phép chia cho số có 3 ,4,…chữ số, tôi chỉ cần mở rộng với cách
làm tròn số là học sinh có thể thực hiện phép chia cho số có 3,4 , chữ số một cách nhẹ
nhàng.
VD: 48679 : 234= ? 48679 234
468 208
1879
1872
07
Bước 1: 456 : 234 500:200 5 :2 được 2.
Bước 2: 1879 :234 1900: 200 19 : 2 được 9.
Ở bước 2, sau khi tìm được thương là 9,lấy 9 x 234 = 2106, 2106 >1879 .Vì vậy

khen cả HS khá giỏi trong từng cặp.
b.Phụ đạo vào buổi sáng thứ 7
Căn cứ vào kết quả trên ,tôi nhận thấy :phần lớn HS đã thực hiện 4 phép tính
tương đối đúng ,tôi tiếp tục phụ đạo về kĩ năng giải toán.Cụ thể là:
Bước 1:Hướng dẫn HS đọc kĩ đề bài (ít nhất 3 lần:đọc to,đọc thầm,đọc lướt)
Bước 2: Hướng dẫn phân tích đề theo hướng đi lên,kết hợp lập ra được lưu đồ
cho bài toán.
16
Bước 3:Dựa vào lưu đồ,lập ra kế hoạch giải toán
Bước 4 :Giải bài toán theo dạng đã học dựa trên những yếu tố đã biết.
Bước 5 :Thử lại bài toán.
Tiến trình trên cần được thực hiện một cách nhuần nhuyễn,tỉ mỉ ,kĩ lưỡng,tránh
lối dạy “lướt”,theo đà những câu trả lời đế của những em học sinh khá giỏi.
Trong những buổi học phụ đạo và cả ở các tiết tăng, giáo viên hướng dân
cho học sinh giải các dạng toán cơ bản đã học trong tuần. Ưu tiên những em
yếu được thường xuyên lên bảng thực hiện trước. Các bạn khác nhận xét, bổ
sung.Nếu các bạn đó thực hiện sai thì được các bạn khác phát hiện và yêu cầu
bạn đó nêu lại cách thực hiện, nêu rõ xem mình sai ở bước nào.
Đây là phương pháp giúp học sinh ghi nhớ và khắc sâu cách thục hiện các
bài toán. Đặc biệt học sinh biết đựoc lý do mình thực hiện sai để từ đó tìm ra cách làm
đúng bài toán.
* Dạy cho các em phương pháp học :
Giáo viên giúp các em có thể tự đánh giá bài làm của mình bằng cách thử lại kết
quả bài toán
Chẳng hạn :
- Lấy phép trừ để thử kết quả phép cộng ( hoặc ngược lại )
- Lấy phép nhân để thử kết quả phép chia ( hoặc ngựơc lại)
- Lây kết quả thay vào thành phần chưa biết để thực hiện ( dạng bài tìm một
thành phần chưa biết )
- Lấy số lớn cộng với số bé để đựơc tổng ( dạng toán tìm hai số khi biết tổng và

tập của các em đã đươc cải thiện,các em tích cực,chăm chỉ và tự tin hơn rất nhiều.
V.SO VỚI ĐỐI CHỨNG:
18
Trước đây, khi chưa áp dụng những biện pháp trên, số lượng học sinh yếu kém
môn Toán thường nhiều ,nếu có tiến triển thì cũng chậm.,thậm chí không đáng kể. Các
em gần như mất gốc lượng kiến thức cơ bản,gây tâm lý chán nản, lười học thậm chí có
những em sợ hoc,sợ cả thầy cô. Trong thời gian qua, nhờ áp dụng những biện pháp
này các em học sinh yếu kém môn toán lớp tôi đã dần nắm đựơc kiến thức cơ bản, tạo
cơ sở ban đầu để học sinh lĩnh hội những kiến thức mới sau này. Các em đã hứng thú
hơn với những giờ học toán. Ở đây các em đựơc học tập, được bộc lộ rõ khả năng của
mình, đặc biệt các em đựơc học hỏi không chỉ ở thầy cô mà còn ở cả bạn bè.Tình cảm
giữa các bạn trong lớp với nhau ngày càng trở nên thân thiện, gần gũi.
STT HỌ VÀ TÊN ĐIỂM KIỂM TRA ĐỊNH KỲ MÔN TOÁN
Đầu năm HKI HKII
1 HS1 4 5 7
2 HS2 2 4 5
3 HS3 3` 5 6
4 HS4 4 5 6
5 HS5 2 3 5
VI.BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Muốn khắc phục tình trang học sinh yếu kém về học lực nói chung trước hết
người giáo viên cần nhận thức được vai trò của mình trong dạy học,Mỗi giáo viên cần
trang bị cho mình những kiến thức sư phạm cần thiết, cần phải học hỏi nhiều hơn nữa
về chuyên môn nghiệp vụ, cải tiến, đổi mới phương pháp.Cần có sự tận tâm, có cái
nhìn thiện cảm đối với những đối tượng học sinh không may mắn về nhiều mặt.
Công bằng trong việc đánh giá chất lượng học sinh, tạo niềm tin vững chác từ
phía học sinh, đồng nghiệp và phụ huynh học sinh.Phát hiện kịp thời những kiến thức
19
bị hổng của học sinh để kịp thời phụ đạo bằng nhiều hình thức. Phát hiện những tiến
bộ dù là rất nhỏ của các em để kịp thời khuyến khích , động viên.

phải chăm chỉ học”.
Trong những năm gần đây, nhiều nội dung của công tác thi đua trong nghành
giáo dục đã đựơc cụ thể hoá bằng các cuộc vận động “ Hai không” cuộc vận động “
Mỗi thầy cô giáo là tấm gương tự học và sáng tạo” phong trào “ Xây dựng trường học
thân thiện-Học sinh tích cực”. Những cái tên như thế đã thực sự gắn với trách nhiệm
và đựơc sự ửng hộ của các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và toàn xã hội.
Theo tôi song song với việc bồi dưỡng nhân tài thì việc hạn chế đến mức thấp
nhất tỷ lệ học sinh yếu kém, bỏ học cũng là một vấn đề hết sức quan trọng góp phần
nâng cao chất lượng của lớp, của trường, của địa phương và của toàn xã hội.
Những biện pháp tôi vừa trình bày không phải quá xa lạ đối với chúng ta,
nó tựa như những thứ “Rau cỏ trị bệnh” mà ta bắt gặp trong cuộc sống đời thường. Bất
cứ ai cũng có thể hiểu và áp dụng được. Tuy vậy, trong thực tế không phải lúc nào đối
tưọng học sinh yếu kém cũng đựơc giáo viên chú trọng, nó đòi hỏi ở lương tâm người
thầy, cần phải coi học sinh như chính những đứa con mà mình dứt ruột đẻ ra. Khi
những cố gắng của người giáo viên đạt kết quả tốt, được học sinh tin yêu. Đó mới
chính là phần thưởng lớn nhất trong cuộc đời dạy học của mình.
Tôi mong muốn những biện pháp cũng như quan điểm của mình đựơc đón nhận
và triển khai trong tương lai để chứng minh tính khả thi của sáng kiến kinh nghiệm .
Do hạn chế về kiến thức, thời gian nên việc nghiên cứu,viết sáng kiến kinh
nghiệm không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong Ban giám hiệu và các đồng chí
góp ý kiến để kinh nghiệm ngày càng hoàn thiện và có tính khả thi cao hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
21
Cổ Bì , ngày 15 tháng 2 năm 2012.
Người viết
Đỗ Thị Mến
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status