ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú (UTV) là loại ung thư (UT) phổ biến ở phụ nữ nhiều
nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. UTV chiếm gần 30%
các loại ung thư ở phụ nữ, là ung thư có tỉ lệ tử vong cao thứ 5 trong số các
loại ung thư. Theo Hội nghiên cứu ung thư Mỹ, hàng năm trên toàn thế giới
có khoảng 1,3 triệu phụ nữ mắc bệnh ung thư vú mới được chẩn đoán và
465.000 ca tử vong. Ở Anh năm 2005 có 212.930 trường hợp mắc bệnh mới
trong đó 40.840 ca tử vong [33]. Ở Mỹ, năm 2010, hơn 207.000 phụ nữ mắc
bệnh ung thư vú mới được chẩn đoán và ước tính có tới 39.800 ca tử vong
[38]. Tại Việt Nam, theo ghi nhận UT giai đoạn 2001-2004, tỷ lệ mắc UTV
chuẩn theo tuổi ở Hà Nội là 29,7/100.000 dân, tại TP Hồ Chí Minh tỷ lệ này
là 19,4/100.000 dân, đứng đầu trong các loại UT ở nữ [1] [2] [16].
Mặc dù vào những năm 1990 trở về đõy đó có nhiều tiến bộ trong tầm
soát, chẩn đoán sớm và các thuốc điều trị ngày càng có hiệu quả nhưng vẫn
còn nhiều trường hợp UTV được chẩn đoán ở giai đoạn muộn dẫn đến việc
điều trị tốn kém về kinh tế cho bệnh nhân mà hiệu quả điều trị lại thấp. Các
phương pháp cận lâm sàng được áp dụng trong chẩn đoán UT như các
phương pháp chẩn đoán hình ảnh, các phương pháp sinh thiết và các phương
pháp hóa sinh phát hiện các dấu ấn ung thư (tumor marker). Mỗi loại phương
pháp chẩn đoán trên đều có những ưu điểm và hạn chế, do vậy thường phải
kết hợp các phương pháp chẩn đoán khác nhau mới đem lại hiệu quả chẩn
đoán chính xác và chẩn đoán sớm UTV. Trong những năm gần đây, cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của ngành y sinh học phân tử, đã có nhiều phương
pháp mới giúp cho việc chẩn đoán và phát hiện sớm một số loại UT nói
chung và UTV nói riêng đã được ứng dụng. Nguyên tắc chung của phương
pháp này là sử dụng kỹ thuật phân tích DNA xác định các gen gây UT có tính
1
chất gia đình, các gen nguy cơ, gen gây UT và các thương tổn đột biến gen
đặc hiệu cho UT. Việc phát hiện các gen UT nếu được lấy từ cỏc mụ UT qua
sinh thiết hoặc phẫu thuật sẽ có nhược điểm lớn là phát hiện muộn khi khối u
đã lớn, gây đau đớn cho bệnh nhân, khó làm nhiều lần, phụ thuộc vào kỹ thuật
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm bệnh và dịch tễ học UTV.
1.1.1. Khái niệm bệnh
Ung thư vú là tên gọi của ung thư có nguồn gốc từ mụ vỳ, phần lớn từ
các ống dẫn sữa hoặc các tiểu thuỳ.UTV có nguồn gốc từ ống sữa được gọi là
UT biểu mô tuyến sữa và UT có nguồn gốc từ tiểu thuỳ được gọi là UT biểu
mô tiểu thuỳ.Cú nhiều dạng UTV khác nhau với trạng thái khác nhau, sự ác
tính khác nhau, bản chất di truyền khác nhau và tỷ lệ sống sót khác nhau phụ
thuộc vào các yếu tố này.
1.1.2. Dịch tễ học UTV
* Tình hình ung thư vú trên thế giới
Ung thư vú không những là một bệnh ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ
mà còn là nguyên nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ tại nhiều nước.
Nguy cơ mắc bệnh UTV theo suốt cuộc đời người phụ nữ. Tỷ lệ mắc thay đổi
nhiều, từ 25-35/100.000 dân tại Anh, Đan Mạch, Hà Lan và Canada đến 1-
5/100.000 dân tại Nhật Bản, Mexico, Venezuela [16] [18] [19].
Bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất ở Mỹ và Bắc Âu, tỷ lệ mắc trung bình ở
Nam Âu,Tõy Âu và thấp nhất ở châu Á. UTV có xu hướng tăng lên ở tất cả
các nước đặc biệt ở Nhật Bản và Singapore, nơi có lối sống đang được
phương Tây hoá và chế độ ăn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
UTV [16]. Theo Hội nghiên cứu ung thư Mỹ, hàng năm trên toàn thế giới có
khoảng 1,3 triệu phụ nữ mắc bệnh ung thư vú mới được chẩn đoán và 465.000
ca tử vong. Ở Anh năm 2005 có 212.930 trường hợp mắc bệnh mới trong đó
40.840 ca tử vong (Hobday & Perez, 2005). Ở Mỹ năm 2007 có 178.480 ca
4
mới được xác định mắc bệnh UTV trong đó 40.460 ca tử vong (American
cancer society, statistics 2007).
Tỷ lệ UTV tăng theo tuổi, hiếm gặp ở lứa tuổi 30 (khoảng 0,8%), sau
1.2. Tiến triển và các giai đoạn ung thư vú.
1.2.1. Tiến triển ung thư vú.
Biểu hiện lâm sàng của UTV có đặc trưng là kéo dài và rất khác nhau
giữa các bệnh nhân. Đa số các trường hợp UTV xâm lấn phát sinh từ tế bào
biểu mô của thùy hoặc của ống dẫn của tuyến vú. Các tế bào bị UT hóa nhân
lên với tốc độ khoảng 60 ngày một chu kỳ. Ước tính, từ khi tế bào chuyển
biến ác tính đầu tiên đến khi phát hiện được khối u có kích thước 1cm thì phải
mất khoảng thời gian vài năm. Chỉ một số ít bệnh nhân (< 3%) ngay sau khi xuất
hiện các triệu chứng, UTV tiến triển nhanh và tử vong trong vài tháng [4] [5].
UTV có khả năng chữa khỏi ở nhiều bệnh nhân nếu bệnh được chẩn đoán trong
giai đoạn tiền lâm sàng (chưa có triệu chứng hay dấu hiệu lâm sàng).
Green Wood, Bloom và CS theo dõi những trường hợp UTV không điều
trị, thấy thời gian sống thêm trung bình kể từ khi chẩn đoán là 31 tháng, tỷ lệ sống
thêm 3 năm là 40% và 5 năm là 18 - 20%, có 4% sống thêm 10 năm [3].
Giai đoạn tại chỗ:
Khối u nguyên phát xuất phát từ đơn vị tiểu thùy - ống tuyến tận cùng,
tức phần chế tiết của tuyến vú. Sau đó phát triển lan sang mô lân cận, xô đẩy
tổ chức tuyến vú bình thường. Xu hướng vượt khỏi mô tuyến vú xâm nhiễm
mô xung quanh đến các cấu trúc lân cận như da, làm co rút da, sần da cam,
phù nề da, đỏ và loét da. Khi chỳng xõm nhiễm đến cân cơ ngực và thành
ngực tạo thành một khối cứng.
6
Giai đoạn lan tràn:
+ Theo đường bạch huyết: Nhờ mạng lưới mạch bạch huyết dày đặc,
UTV lan tới các chặng hạch trong đó hạch nách là vị trí hay gặp do đây là vị
trí chính dẫn lưu dịch, bạch huyết của vú. Tiếp theo là hạch thượng đòn, rồi đi
vào hệ tuần hoàn tĩnh mạch cạnh sống, đám rối này được nối trực tiếp với vú
qua mạch máu liên sườn.
+ Theo đường máu: Các tế bào UTV có thể di căn đến khắp nơi trong
cơ thể, tuy nhiên UTV thường di căn tới xương, phổi, gan, não. Khoảng 20 -
hạch nỏch cựng bờn, hoặc di căn hạch vú trong
cựng bờn kốm di căn hạch nỏch cựng bờn, hoặc di
căn hạch thượng đũn cựng bên có hoặc khụng kốm
hạch nách hoặc hạch vú trong cựng bờn.
M: Di căn xa
M0 Không di căn xa
M1 Có di căn xa
Phân loại có những điểm mới: di căn hạch hạ đòn xếp vào N3 (trước
không đề cập), di căn hạch thượng đũn khụng xếp M1 nữa mà thành N3. Di
căn hạch vú trong trước đây xếp vào N3, nay phân ra khụng kốm đi căn hạch
nách (N2b) và kèm di căn hạch nách (N3b)
8
* Xếp giai đoạn lâm sàng
Bảng 1.1. Phân chia giai đoạn UTV
GĐ TNM tương ứng
0 Tis N0 M0
I T1 N0 M0
IIA
T0 N1 M1
T1 N1 M0
T2 N0 M0
IIB
T2 N1 M0
T3 N0 M0
IIIA
T0 N2 M0
T1 N2 M0
T2 N2 M0
T3 N1 M0
T3 N2 M0
nang to nhỏ rải rác cả hai bờn vỳ. Kích thước có thể to từ vài mm đến 10cm,
khi khám có cảm giác cũng phải chẩn đoán phân biệt nhờ vào siêu âm.
- Viờm giãn tuyến vú: chảy dịch đầu vú dai dẳng lúc đầu là dịch vàng
trong, sau đó có thể bội nhiễm thành dịch vàng mủ hoặc chất bã có mùi hôi,
một số khác chảy dịch máu.
- Áp xe tuyến vú: có triệu chứng sưng, nóng, đỏ, đau.
- Nang sữa: hình thành sau quá trình viêm tắc ống dẫn sữa, nang sữa có
thể lỏng nhưng có thể đặc sền sệt.
- U nhú nội ống: là những tổn thương trong lòng ống dẫn sữa thường
gặp ở những ống dẫn sữa chính, tính chất u tròn, mềm có thể gây chảy dịch,
máu qua núm vú.
- U mỡ hoặc hoại tử mỡ ở vú: hiếm gặp
- U phyloide lành tuyến vú
10
1.3.3. Chẩn đoán mô bệnh học
Carcinom chiểm khoảng 90% trong đó:
- Carcinom ống tuyến xâm nhập : 78%
- Carcinom tiểu thùy : 9%
- Carcinomdạng tủy : 1,5%
- Carcinom dạng kéo : 1,5%
- Sarcom, paget không xếp loại, nhưng bệnh paget có khối u được
phân loại theo kích thước của u.
1.4.Các yếu tố tiên lượng bệnh UTV
Các quyết định trong điều trị bổ trợ UTV được dựa vào các yếu tố tiên
lượng. Bên cạnh việc đánh giá các yếu tố tiên lượng kinh điển như kích thước
u, loại mô học, độ mô học, tình trạng hạch nỏch, cỏc nhà nghiên cứu đang có
xu hướng đi sâu về bệnh học phân tử và gen để tìm ra bản chất phát triển của
khối u nhằm đưa ra một phương thức điều trị tối ưu nhất cho bệnh nhân.
1.4.1. Hạch vùng
Hạch nách: Tình trạng hạch nách được coi là yếu tố tiên lượng quan
thuỳ xâm nhập chiếm khoảng 6,3%, tỷ lệ sống thêm chung sau 5 năm là 82%
[9] [10].
1.4.6. Độ mô học (ĐMH)
Độ mô học là một yếu tố tiên lượng quan trọng mặc dù nú khụng sử
dụng để đánh giá giai đoạn bệnh. Độ mô học dựa vào sự hình thành ống nhỏ,
12
sự đa hình thái của nhân và hoạt động nhân chia. Có rất nhiều hệ thống chia
độ nhưng hệ thống chia độ của Bloom và Richardson có hiệu quả nhất trong
tiên lượng bệnh [11].
Bảng 1.2 : Độ mô học theo Scarff - Bloom - Richardson
1 2 3
Mức độ biệt hoỏ
cỏc tuyến ống
Rõ nét Tuyến ống kết
hợp với tuyến bè
Không có tuyến
ống nào
Mức độ đa dạng
của nhân
Nhân đồng đều Nhân không đồng
đều vừa phải
Nhiều nhõn quỏi
Nhân chia Tối đa 1/ vi trường 2/ vi trường ít nhất 3/vi
trường
Tổng cộng : 3,4,5 : xếp độ I - tiên lượng thuận lợi
6 hoặc 7 : xếp độ II - tiên lượng trung bình
8 hoặc 9 : xếp độ III - tiên lượng xấu.
1.4.7. Tỷ lệ sống theo giai đoạn
Bảng 1.3 : Tỷ lệ sống thêm theo giai đoạn
GĐ Tỷ sống 5 năm (%) Tỷ lệ sống 10 năm (%)
- CEA (Carcino Embryonic Antigen) được Gold và Freedman mô tả lần
đầu tiên vào năm 1965, là kháng nguyên ung thư bào thai có bản chất là
glycoprotein. CEA được sản xuất trong thời kỳ bào thai đặc biệt ở dạ dày, tụy
và gan. Sau khi sinh chỉ tồn tại với hàm lượng rất trong huyết thanh của người
bình thường và tăng cao trong một số loại ung thư. CEA được coi là dấu ấn
đặc hiệu cho ung thư đại tràng, tuy nhiên CEA còn thấy tăng trong ung thư
vú, đường tiờu hoỏ, phổi, buồng trứng, tụy và tuyến tiền liệt. Hơn nữa, nó
cũng tăng lên ở người nghiện rượu, viêm ruột, xơ hoá bàng quang (cystic
14
fibrosis) và ở những người hút thuốc lá nặng. Mặc dù CEA không đặc hiệu
cho chẩn đoán, nhưng có giá trị tiên lượng và theo dõi điều trị. Việc định
lượng CEA ở những bệnh lý u khác nhau cho phép đánh giá về khả năng sử
dụng và xác lập giá trị giới hạn của nó trong từng trường hợp cụ thể. Nồng độ
CEA cao sau điều trị là cơ sở nghĩ đến sự tiến triển của khối u hay di căn.
- CA 15-3 (Carbohydrat Antigen) bản chất là một glycoprotein không
đặc hiệu nhưng nhạy cảm đối với UTV. Bình thường có trong huyết thanh
người với nồng độ 30 U/ml, CA 15-3 tăng kèm theo phosphatase kiềm dự báo
khả năng tái phát của UTV. Do vậy CA 15-3 thường được sử dụng để sàng
lọc, theo dõi điều trị và phát hiện tái phát UTV sau giai đoạn điều trị.
1.6.2. Dấu ấn có bản chất là enzym.
Các xét nghiệm về enzyme huyết thanh để chẩn đoán UT thường có độ
đặc hiệu kém do vậy hiện nay rất ít được sử dụng trong chẩn đoán. Enzym
CK-BB là enzyme được sử dụng trong chẩn đoán UTV. Tuy nhiên để chẩn
đoán xác định cần phải phối hợp với lâm sàng và các xét nghiệm khác nữa.
- Creatine kinase: Isoenzyme creatine kinase BB (CK1, CK-BB) có
trong huyết thanh nguồn gốc từ não và liên quan đến nhiều bệnh ung thư ác
tính. CK-BB tăng trong huyết thanh trong một số bệnh UT ác tính như: UTV,
UT buồng trứng, UT não, UT phổi, CK-BB trong huyết thanh bệnh nhân
UTV di căn khoảng 13% . Tuy nhiên CK-BB trong huyết thanh không đặc
hiệu. Isoenzym CK-BB được phát hiện và định lượng nhờ điện di.
receptor- EGFR): là thụ thể của các yếu tố sinh trưởng biểu mô (EFG) và yếu
tố biến đổi sinh trưởng tế bào α (transforming growth factor α TGF-α). Họ thụ
thể của các yếu tố sinh trưởng gồm các thụ thể: EGFR (ErbB-1), HER2/c-neu
(ErbB-2), HER3/c-neu (ErbB-3), HER4/c-neu (ErbB-4). Sự vắng mặt của thụ
thể này tỉ lệ thuận với một đáp ứng tốt với tamoxifen. Nồng độ cao của thụ
thể có liên quan đến sự tái phát khối u và sự sống sót của bệnh nhân UTV
1.6.3. Gen đặc hiệu trong UTV.
Các gen gây UT của tế bào (gen ung thư tế bào) là các gen bình thường
có liên quan tới sự sinh trưởng, tăng sinh, biệt hóa và hoạt hóa phiờn mó. Cỏc
gen gây UT của tế bào có thể biểu hiện một cách bất thường bởi sự đột biến
gen hoặc do sự sắp xếp lại/sự chuyển vị, khuyếch đại biểu hiện gen hoặc
thông qua việc mất các yếu tố điều hoà kiểm soát sự biểu hiện. Với các khiếm
khuyết đú thỡ chỳng được gọi là gen gây UT. Sự biểu hiện lầm lạc sẽ phát
triển sự tăng sinh tế bào và gây ác tính. Tới nay đó cú 60 gen gây UT đã được
xác định có liên quan với nhiều loại khối u trong đó có UTV. Đầu thập kỷ 90,
bắt đầu cú cỏc chương trình nghiên cứu về gen được tiến hành, trong đó có 3
gen được tập trung nghiên cứu và có khả năng liên quan nhiều đến UTV là
BRCA1 ( breast cancer 1), BRCA2 và p53.Gen BRCA1 là gen ức chế khối u
nằm trờn nhỏnh dài của NST 17 có vai trò trong sửa chữa DNA, một số
nghiên cứu cho rằng có khoảng 80- 90% gặp đột biến gen này và gặp ở
những gia đình có UTV và UT buồng trứng. Gen BRCA2 nằm trờn nhỏnh dài
của NST 13 có vai trò cố định các tổn thương DNA. Gen BRCA2 chiếm
khoảng 35-40% UTV mang tính di truyền và đã tìm thấy trong những gia đình
bị UTV. Gen p53 là gen ức chế khối u nằm trên NST 17 tham gia vào quá
trình điều hòa chu kỳ tế bào và ức chế sự chết theo chương trình của tế bào
(apoptosis) gây hậu quả ác tính ở rất nhiều tế bào đích và các cơ quan. Đột
17
biến gen p53 được tìm thấy khoảng gần 30% trong UTV hay gặp ở người
trẻ ,độ mô học cao,thụ thể nội tiết âm tính, nhìn chung có tiên lượng xấu. Cho
đến nay bằng kỹ thuật PCR và hiện đại hơn là RT- PCR, các nhà khoa học đã
(IAP). Survivin được phát hiện vào năm 1997 bởi kỹ thuật Hybridization
Screening từ thư viện hệ gen của người. Chức năng protein Survivin ức chế
hoạt hoá caspase là enzyme thủy phân protein, điều hòa sự phân chia tế bào
và thúc đẩy quá trình hình thành mạch, từ đó dẫn đến ức chế quá trình
apoptosis. Gen Survivin có chiều dài 15kb, nằm ở vị trí NST 17q25. Gen
Survivin có 3 intron và 4 exon, mã hóa cho protein gồm 142 aa với TLPT vào
khoảng 16,5 kDa. Survivin được biểu hiện rất cao trong quá trình phát triển
phôi, bào thai và trong nhiều loại ung thư, trong đó có UTV. Điều đặc biệt có
ý nghĩa là các protein này không phát hiện được trong mô của người bình
thường [28]. Kiểu biểu hiện của protein này và chức năng ức chế quá trình
apoptosis cho thấy vai trò quan trọng của Survivin đối với việc duy trì sự sống
của tế bào ung thư và kiểm soát quá trình apoptosis [31]. Survivin biểu hiện
cao nhất trong cỏc dũng tế bào UTV và UTP và thấp hơn nhiều trong các UT
khác [30]. mRNA Survivin đã được phát hiện tới 69,2% -93,8% của UTV
giai đoạn đầu [24]. Chớnh vì lý do này mà Survivin có thể là một mục tiêu lý
tưởng trong chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi điều trị UTV.
19
1.7. Các kỹ thuật di truyền phân tử sử dụng trong nghiên cứu.
1.7.1. PCR
PCR được phát minh bởi Kary Mullis năm 1983, và giỳp ụng đoạt giải
Nobel hóa học năm 1993.
* Nguyên lý
PCR được sử dụng để khuếch đại một chuỗi DNA (DNA đích). Chuỗi
này có thể là gen, một phần của gen, hay chuỗi không mã hóa. PCR dựa trên
hoạt động của DNA polymerase. Khi DNA polymerase tổng hợp một mạch
DNA mới từ mạch khuôn cần có mồi chuyên biệt. Mồi là những đoạn DNA
ngắn có thể bắt cặp chuyên biệt với một đầu của mạch khuôn và DNA
polymerase nối dài mồi tạo một mạch DNA mới [12].
Phản ứng PCR điển hình cú cỏc thành phần sau: DNA polymerase,
khuôn mẫu DNA, các đoạn mồi gồm mồi xuôi và mồi ngược, các
o
C sẽ
phá vỡ nối hydrogen của chuỗi đôi DNA tạo thành các chuỗi đơn.
- Bắt cặp: nhiệt độ được hạ xuống 55-65
o
C để các đoạn mồi bắt cặp bổ
xung vào hai đầu của đoạn DNA đích.
- Kéo dài chuỗi: nhiệt độ phụ thuộc vào DNA polymerase sử dụng,
thường là 72
o
C, thích hợp cho hoạt tính của DNA polymerase kộo cỏc
dNTPs lại đầu 3’của đoạn mồi đang bắt cặp trên đầu 5’ của sợi DNA
đích để tổng hợp mạch bổ xung mới.
- Kéo dài kết thúc: thường được thực hiện ở nhiệt độ 70-74
o
C trong 5-15
phút sau chu kỳ PCR cuối cùng để đảm bảo tất cả các chuỗi đơn DNA
được kéo dài đủ.
- Giữ nhiệt kết thúc: ở nhiệt độ 4-15
o
C, thời gian không cố định để lưu
giữ phản ứng trong thời gian ngắn.
Qua mỗi chu kỳ nhiệt, một DNA đớch đó được nhân thành hai bản sao, và
nếu chu kỳ được lặp lại liên tục 25-35 lần thì từ 1 DNA đích sẽ được khuếch
đại lên 2
25
đến 2
35
bản sao, tức là hàng tỷ bản sao [12] [13] [25].Thông thường
tổng số chu kỳ dưới 30,nếu càng kéo dài thì khả năng xảy ra đột biến càng
o
C.
22
- Bước cuối cùng là nhân bản gen quan tâm bằng PCR là kéo dài DNA
nhờ Taq DNA polymerase chịu nhiệt ở 72°C, tại đó các enzyme hoạt động tối ưu.
1.7.3.Phương pháp giải trình tự DNA
Giải trình tự DNA giúp xác định trình tự của các nucleotide (A, G, C,
T) trong một chuỗi DNA oligonucleotide. Năm 1975, trình tự DNA bộ gen
đầu tiên được xác định là bacteriophage ỉX174 dài 5kb. Lần lượt sau đó các
trình tự DNA khác được xác định là virus SV40 (dài 5kb, năm 1977), DNA ti
thể người (16kb, 1981), bacteriophage lambda (47kb, 1982). Đến năm 1995,
trình tự bộ gen sinh vật đầu tiên được xác định là vi khuẩn Haemophilus
influenza với kích thước 1800kb. Chỉ 6 năm sau đó, HGP (Human Genome
Project) và công ty tư nhân Celera đã xác định được trình tự DNA bộ gen
người với độ dài không dưới 3 tỷ cặp base. Cuộc cách mạng này đã tạo điều
kiện phát triển kỹ thuật giải trình tự DNA số lượng lớn [25].
Trước đây, sử dụng 2 phương pháp giải trình tự bằng tay:
- Phương phỏp hoá học của Maxam- Gilbert
- Phương pháp enzyme của Sanger và cộng
* Phương pháp Maxam-Gilbert
Năm 1976-1977, Allan Maxam và Walter Gilbert đã xây dựng một
phương pháp giải trình tự DNA dựa vào biến đổi hóa học của DNA và cắt liên
tiếp các vị trí base đặc hiệu. Với phương pháp này, DNA có thể được sử dụng
trực tiếp sau khi được tinh sạch.
Trước hết, DNA cần giải trình tự được đánh dấu một đầu bằng phospho
đồng vị phóng xạ (32P). Sau đó chúng được chia làm 5 phân đoạn, mỗi phân
đoạn được xử lý hóa học chuyên biệt biến đổi một loại nucleotide và cắt phân
tử DNA tại nucleotide đó. Năm nhóm nucleotide bị tác động là: G, A, C,
G+A, T+C. Kết quả xử lý hóa học là tạo 5 nhóm oligonucleotide, các
oligonucleotide trong một nhúm cú kích thước khác nhau nhưng đều chấm
24
ddNTP được gắn vào một oligonucleotide và lập tức sự tổng hợp
oligonucleotide đó ngừng lại. Những sợi DNA có đánh dấu mới tổng hợp
được biến tính bằng nhiệt, sau đó xác định kích cỡ qua điện di gel
polyacrylamide và kết quả đọc trên phim phóng xạ tự ghi [12] [13] [26].
Qui trình giải trình Sanger được tóm tắt theo hình 1.5.Hình 1.5. Phương pháp giải trình tự Sanger.
25
5[33ng các UT khác [38sis [3911
(A) bắt đầu tổng hợp chuỗi
DNA khuôn
Vị trí -H thay
thế -OH của
dNTP
(C) Ngừng tổng hợp chuỗi
khi ddNTP gắn vào
Tập hợp “A”
(D) Đọc kết quả
Trình tự DNA