ĐẶT VẤN ĐỀ
Polyp đại trực tràng (PLĐTT) là một bệnh lý có tỷ lệ tương đối cao
trong nhóm bệnh ở đường tiêu hóa dưới. Polyp là u lồi vào lòng đại trực
tràng, nó được hình thành do sự tăng sản quá mức của niêm mạc đại tràng.
Diễn biến của PLĐTT khá phức tạp, đã có nhiều nghiên cứu cho thấy: hơn
95% ung thư đại trực tràng có nguồn gốc từ polyp[24].
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thường là mờ nhạt, không điển hình và
không đặc hiệu, bệnh thường diễn biến trong một thời gian với các dấu hiệu
mà bệnh nhân thường ít quan tâm đến như đau bụng không rõ nguyên nhân,
rối loạn phân, đi ngoài ra máu không thường xuyên, do vậy việc phát hiện và
chẩn đoán PLĐTT thường khó khăn và chủ yếu là bằng phương pháp nội soi
ĐTT kết hợp với xét nghiệm mô bệnh học để chẩn đoán. Một số yếu tố được
cho là có liên quan đến nguy cơ PLĐTT là chế độ ăn ít chất xơ, giàu năng
lượng, hút thuốc lá, uống nhiều rượu .v.v., yếu tố gia đình thông qua cơ chế
gen di truyền đã được chứng minh có liên quan chặt chẽ với các bệnh đa
polyp tuyến gia đình (FAP: Familial Adenomatous Polyposis), Polyp Peutz-
Jeghers, polyp trong hội chứng Gardner, Turcot Diễn biến của PLĐTT
thường phức tạp, nguy cơ polyp trở nên ác tính cao nếu không được phát hiện
sớm và điều trị triệt để.
Trong những năm gần đây nhờ có sự phát triển của nội soi đại trực
tràng ống mềm mà gần đây số bệnh nhân có PLĐTT được phát hiện ngày
càng nhiều, các kỹ thuật loại bỏ polyp qua nội soi đó giỳp làm giảm tỷ lệ tiến
triển thành ung thư đại trực tràng và nâng cao hiệu quả điều trị[33].
Qua nội soi ống mềm có thể quan sát trực tiếp mặt trong của đại
trực tràng, cho phép xác định hỡnh thỏi, vị trí, tính chất, mức độ tổn thương
của ống tiêu hóa nói chung và của PLĐTT nói riêng. Qua đó có thể làm một
số các thủ thuật (như cắt polyp, tiêm cầm máu ) và tiến hành sinh thiết để
làm giải phẫu bệnh, giúp cho chẩn đoán phân biệt cũng như theo dõi các bệnh
lý đại tràng[33],[35].
1
Trong lịch sử y học đã có nhiều phương pháp được áp dụng để
1.1 SƠ LƯỢC VỀ GIẢI PHẪU- MÔ HỌC CỦA ĐẠI TRỰC TRÀNG LIÊN
QUAN ĐẾN NỘI SOI[11],[16].
1.1.1 Hình thể ngoài:
Nhìn ngoài toàn bộ khung đại tràng có dạng hình chữ U ngược, được
chia thành: Manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại
tràng sigma, trực tràng và ống hậu môn. Có ba chỗ gấp khúc là: đại tràng góc
gan, đại tràng gúc lỏch và đại tràng sigma, những vị trí này thường khó khăn
trong việc đưa đèn soi đi qua. Trên bề mặt đại tràng có ba dải cơ dọc, các
bướu đại tràng, các bờm mạc nối.
1.1.2 Đường đi và liên quan:
- Manh tràng: manh tràng nằm ở hố chậu phải, tiếp nối với đại tràng lên
cho tới góc gan. Phía sau liên quan với thành bụng sau, thận và niệu quản
phải, phía trong liên quan với các quai ruột non, mạc nối. Trên hình ảnh nội
3
soi thấy van hồi manh tràng (van Bauhin), lỗ ruột thừa, ba dải cơ dọc tập
trung tại gốc ruột thừa. Đây là những mốc giải phẫu quan trọng để xác định
manh tràng khi nội soi.
- Đại tràng lên: đại tràng lên nối tiếp với manh tràng, từ hồi manh tràng
đi lên nhưng khi tới mặt dưới gan thì đại tràng lên quặt ngang tạo thành một
góc là góc đại tràng phải hay góc gan. ĐT lên dài khoảng 12- 15cm. Trên hình
ảnh nội soi thấy lòng ĐT có hình tam giác, các nếp niêm mạc dày.
- Đại tràng ngang: từ góc gan đến gúc lỏch, dài khoảng 45 cm nằm
võng xuống và ngang qua phần giữa trên của ổ bụng, ở gúc lỏch nú gấp một
góc nhọn (góc ĐT trái hay gúc lỏch) rồi chạy ra sau và xuống dưới để trở
thành ĐT xuống. So với góc gan, gúc lỏch ở sâu hơn, cao hơn, gấp góc hơn,
khó di động hơn và cũng thường khó khăn hơn khi soi. Trên hình ảnh nội soi
thấy lòng ĐT ngang cũng có hình tam giác xếp liên tiếp với nhau.
- Đại tràng xuống: bắt đầu từ gúc lỏch, chạy xuống dưới và vào trong
để tiếp nối với đại tràng sigma, liên quan phía sau với thận trái và cơ thành
bụng sau, phía trước với quai ruột non. ĐT xuống là đoạn cố định do đó nó
- Trên phương diện sinh lý và bệnh lý thì ĐTT được chia thành hai
đoạn: ĐT phải và ĐT trái, vị trí phân chia là đoạn 1/3 bên phải của ĐT
ngang[16].
1.1.3 Cấu tạo mô học của đại trực tràng[11],[16].
Thành của đại trực tràng đựơc cấu tạo bởi 4 lớp, từ ngoài vào trong
gồm có:
1.1.3.1 Lớp thanh mạc
Là lá tạng của phúc mạc, dính với lớp cơ bằng tổ chức dưới thanh mạc.
Trong tổ chức này có chứa mạch máu, thần kinh và bạch huyết. Thanh mạc
5
của đại tràng phải và trỏi dớnh với phúc mạc thành sau tạo thành mạc dính
Told, thanh mạc của đại tràng sigma, đại tràng ngang không dính và tạo thành
mạc treo.
1.1.3.2 Lớp cơ
Có hai loại thớ: thớ vòng (ở trong) và thớ dọc (ở ngoài). Thớ cơ vòng
phân bố ở phía trong như ở ruột non nhưng mỏng hơn nhiều. Thớ cơ dọc
không trải đồng đều mà tụ lại thành ba dải cơ lồi ra phía ngoài thành ĐT, nhìn
từ phía bên ngoài ĐT thấy rõ ba dải cơ này ở manh tràng và đại tràng lên, hơi
phân tán ở đại tràng xuống, không thấy ở đại tràng sigma và trực tràng.
1.1.3.3 Lớp dưới niêm mạc
Chỉ là tổ chức lỏng lẻo chứa mạch máu, thần kinh và bạch huyết.
1.1.3.4 Lớp niêm mạc
Toàn bộ phần niêm mạc được chia làm 3 lớp: lớp biểu mô, lớp đệm và
lớp cơ niêm.
- Lớp biểu mô: phủ bề mặt là lớp biểu mô trụ đơn, do 3 loại tế bào (TB)
tạo thành: TB hình đài, TB mõm khớa và TB ưa bạc.
- Lớp đệm: nằm dưới lớp biểu mô phủ, lớp này được tạo thành bởi các
mô liên kết có nhiều tương bào và lympho bào. Những nang lympho nhiều
khi vượt quá lớp cơ niêm xuống lớp dưới niêm mạc. Trong lớp đệm còn chứa
các tuyến Lieberkuhn, đó là tuyến ống đơn thẳng ít khi phân đôi, thành ống
sau [70]:
- Polyp có cuống (Pedunculate): khi phần đầu polyp lớn hơn phần
cuống nhiều lần và có ranh giới rõ giữa đầu và cuống. Cuống polyp có dạng
như cuống một số loại quả.
- Polyp không có cuống (Sessile): khi phần chân polyp lớn hơn phần đầu.
7
- Polyp nửa cuống: khi mà phần cuống polyp chỉ nhỏ hơn phần đầu một
chút và ranh giới không rõ ranh giới giữa đầu với cuống polyp.
- Polyp dạng dẹt: khi mà phần đỉnh polyp “bằng phẳng” to bè, có khi
rộng gần như phủ phần chõn, cú tác giả còn gọi polyp dạng dẹt là polyp có
hình tấm thảm (carpet).
Polyp có cuống Polyp nửa cuống Polyp không cuống
Hình 1.1: Một số dạng polyp thường gặp
Ngoài ra PLĐTT còn có rất nhiều hình dạng khác nhau như polyp
giống hình một số loại quả, polyp giống hình mào gà nhưng chúng vẫn có
những đặc điểm nêu trên và vẫn được xếp vào một trong 4 loại trên.
1.2.2.2 Kích thước polyp:
Kích thước polyp thường được tính ở chỗ polyp to nhất. Polyp có
cuống tính đường kính đầu, polyp không cuống tính đường kính ở chân.
PLĐTT có kích thước rất nhỏ từ vài mm đến rất to >50mm, có khi gõy bỏn
tắc hoặc làm tắc hẳn lòng của ĐTT[68],[70].
1.2.2.3 Vị trí polyp:
Polyp có thể thấy ở bất cứ vị trí nào của ĐTT. Để tiện cho chẩn đoán
điều trị cũng như nghiên cứu người ta chia vị trí polyp tương ứng theo sự
phân chia vị trí giải phẫu của ĐTT. Như vậy ĐTT được chia làm 6 đoạn thì
polyp cũng có 6 vị trí tương ứng. Trên phương diện sinh lý và bệnh lý thì
ĐTT lại được chia thành 2 đoạn: ĐT phải và ĐT trái, do đó cũng có polyp ĐT
phải và polyp ĐT trái.
1.2.2.4 Số lượng polyp:
8
chưa thống nhất tên gọi nên ở đây dựng nguyờn thuật ngữ Hamartomatous
polyp, loại này gồm có: bệnh đa polyp tuyến gia đình (FAP: Familial
Adenomatous Polyposis), Polyp Peutz-Jeghers, polyp trong hội chứng
Gardner, Turcot
- Polyp không xếp loại (unclassified polyps) gồm có các loại: polyp đa
dạng lympho (lympho polyp), polyp tăng sản (Hyperplasia): gồm 3 loại polyp
tăng sản đơn thuần, polyp tăng sản cú viờm, polyp tăng sản có u tuyến.
1.2.3.1 Đặc điểm mô học nhóm polyp u tuyến[30],[68],[70].
- Polyp u tuyến ống nhỏ:
Polyp loại này có thể có cuống hoặc không, ở polyp có cuống thì từ cuống
có một trục mô xơ huyết quản đi đến đầu polyp. Cuống polyp được phủ bởi một
lớp niêm mạc ruột bình thường. Lớp biểu mô tuyến của đầu polyp gồm những
ống và tuyến dài xếp dày đặc, ngăn cách nhau bởi mô đệm thưa, tế bào biểu mô
có hình thỏi ớt biệt hóa mặc dù vẫn còn rải rác và ít TB hình đài.
- Polyp u tuyến nhung mao:
Hình ảnh vi thể polyp loại này có dạng nhú gần như vi nhung mao của
ruột non, mỗi nhú có một trục liên kết mạch máu và được phủ lớp biểu mô,
lớp biểu mô này có thể chỉ là một lớp TB trụ cao xếp đều đặn, hoặc có thể là
những TB không biệt hóa sắp xếp thành nhiều lớp lộn xộn.
- Polyp u tuyến nhỏ nhung mao:
Cấu trúc vi thể vừa có hình dạng tuyến ống, vừa có hình ảnh nhung mao.
Tóm lại: ở polyp u tuyến sự sinh sản của tế bào diễn ra ở bề mặt ống
tuyến, sự phát triển của TB càng ớt thỡ càng cú ớt TB không biệt hóa và càng
ít ung thư hóa: lúc đó gọi là loạn sản nhẹ, sự phát triển TB càng mạnh, nhiều
TB không biệt hóa: loạn sản vừa. Nếu sự phát triển TB nhiều hơn nữa, TB
10
không biệt hóa lan rộng chiếm toàn bộ polyp, đôi khi có hình lông gọi là loạn
sản nặng[4],[5],[30],[68],[70].
1.2.3.2 Đặc điểm mô bệnh học nhóm non-neoplastic[30],[68],[70]:
• Polyp viêm: Polyp loại này cũng thường đơn độc và không có
mạc và có niêm mạc lành che phủ. Có tác giả cho rằng đây là những ổ quá sản
lympho dưới niêm mạc của ĐTT.
1.2.3.3 Đặc điểm mô bệnh học polyp ung thư hóa[31],[37]:
Polyp có ổ ung thư (UT) hay polyp UT hóa chia làm 2 loại: Polyp có ổ
UT tại chỗ và polyp có ổ UT đã xâm nhập.
Hình ảnh mô bệnh học cho thấy khi một polyp có cuống tiến triển từ
bình thường sang polyp UT có 3 mức độ khác nhau[68],[70]:
- Mức 1: ổ UT ở đỉnh polyp.
- Mức 2: ổ UT lan đến sát phần cổ polyp.
- Mức 3: ổ UT lan qua lớp cơ niêm, xâm lấn qua cuống polyp vào thành
ruột sau đó mới lan đến hệ bạch huyết.
Như vậy, khi polyp có ổ UT tại chỗ thì hình ảnh vi thể ở mức 1 và 2,
còn khi polyp có ổ UT đã xâm nhập thì hình ảnh vi thể thuộc mức 3.
Vị trí ổ UT trên polyp rất quan trọng, nú giỳp cho việc quyết định
phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh. Đối với loại polyp không cuống
hoặc polyp dạng dẹt thì không có 3 mức này và ổ UT thường lan qua lớp cơ
niêm rất nhanh. Nghiên cứu của Rambecken BJ và cộng sự [75]cho thấy: 54%
thương tổn bao gồm loạn sản nặng hoặc UT loại Duckes A là polyp dạng dẹt,
vì vậy polyp loại này thường rất nguy hiểm.
Sự tiến triển của polyp bình thường sang polyp UT phụ thuộc
vào nhiều yếu tố:
12
• Kích thước polyp:
Thông thường những polyp có đường kính < 5mm rất ít có khả năng
UT hóa, Nusko G và cộng sự[71] nghiờn cứu trên 5027 PLĐTT với kích
thước <5 mm đã không tìm thấy 1 trường hợp nào UT. Kích thước của polyp
càng lớn thì khả năng UT càng cao. Theo Morson[70] thì:
- Polyp nhỏ có đường kính <10mm: chỉ có 1% nguy cơ UT.
- Polyp có đường kính 10- 20mm: đó cú tới 10% nguy cơ UT.
- Polyp có đường kính >20mm: khả năng UT lên đến 50%.
+ Tiền sử bản thân:
Ngoài các triệu chứng lâm sàng hiện tại, bệnh nhân có thể có một số
dấu hiệu trong tiền sử như đi ngoài phân lẫn máu, rối loạn tiêu hóa, đau bụng
không rõ nguyên nhân [34],[36],[37].
+ Triệu chứng lâm sàng:
- Phân lẫn máu: là triệu chứng hay gặp nhất, có thể thấy máu tươi thành
vệt trờn phõn hoặc máu tươi loang trong phân, có thể phõn cú nhầy lẫn máu
màu nâu, đen hoặc mỏu cỏ Chảy máu có thể ở nhiều mức độ khác nhau:
chảy máu đại thể hoặc vi thể. Tuy nhiên đi ngoài ra máu không phải là triệu
chứng đặc hiệu của PLĐTT mà còn gặp trong rất nhiều bệnh lý khác như hội
chứng lỵ, bệnh trĩ, UTĐTT, viờm loột ĐTT chảy máu , vì vậy triệu chứng
này chỉ có giá trị gợi ý, định hướng chẩn đoán[34],[36],[37].
- Đại tiện phân lỏng: đôi khi có dấu hiệu đi ngoài phân lỏng thất
thường, số lần đi ngoài trong ngày không nhiều, có thể tự hết mà không cần
14
điều trị gì. Những polyp nằm ở trực tràng đoạn thấp gần hậu môn khi kích
thước polyp lớn hoặc cú viờm, loột có thể gây ra các triệu chứng kích thích
như đi ngoài nhiều lần, có khi xuất hiện đau quặn, mót rặn nên dễ nhầm với
hội chứng lỵ[34],[36],[37].
- Đau bụng: dấu hiệu này xuất hiện không thường xuyên và với các
mức độ rất khác nhau tùy thuộc vào từng bệnh nhân, có thể gặp đau bụng mơ
hồ không rõ vị trí, đau bụng âm ỉ, đau quặn, thậm chí có tác giả còn phát hiện
được trường hợp polyp quá lớn gây triệu chứng bán tắc và tắc ruột và khi đú
cú biểu hiện đau điển hình của cơn đau bán tắc ruột[36],[37].
- Dấu hiệu polyp ra ngoài hậu môn: những polyp trực tràng ở thấp, loại
có cuống có thể bị lồi ra ngoài hậu môn nhất là sau khi đi ngoài, đây cũng là
một dấu hiệu giúp cho chẩn đoán bước đầu[36],[37].
- Thăm trực tràng: có thể phát hiện được những polyp cách hậu môn
dưới 7cm, đõy là phương pháp đơn giản, rẻ tiền nhưng kém hiệu quả nên
được áp dụng trong thăm khám ban đầu.
tượng không tuân thủ được chế độ ăn kiêng trong thời gian làm xét nghiệm,
còn ở đối tượng tuân thủ chế độ ăn kiêng đặc biệt thì tỷ lệ dương tính là 1%,
trong các trường hợp test Hemoccult dương tính đó thấy có tới 40% là
PLĐTT và khoảng 10% là ung thư, còn lại là nguyên nhân khác[80]. Phạm
Văn Nhiên nghiên cứu ở 196 người không có triệu chứng tình nguyện làm
FOBT nhận thấy: 39 người có test dương tính (19,9%), tác giả đã tiến hành
nội soi trực tràng cho những người có test dương tính và đã phát hiện thấy 1
người có polyp trực tràng [26]. Test tỡm mỏu ẩn trong phân dược Tổ chức Y
tế Thế giới, Hiệp hội quốc tế chống ung thư khuyến cáo sử dụng cho các
16
chương trình khám sàng lọc nhằm phát hiện và chẩn đoán sớm những người
có PLĐTT và UTĐTT trong cộng đồng[13],[14].
17
Bảng 1.1: Một số kết quả của test tỡm mỏu ẩn trong phân
NHÓM NGHIÊN CỨU
SỐ ĐỐI TƯỢNG
NGHIÊN CỨU
KẾT QUẢ DƯƠNG TÍNH
Goteburg (Thụy Điển) 27.000 1,9%
Nottingham (Anh) 150.000 2,1%
NewYork (Hoa Kỳ) 22.000 1,7%
Funen (Đan Mạch) 62.000 2,4%
Minnesota 1993 (Hoa Kỳ) 46.551 2,4%
Winawer 1993 (Hoa Kỳ) 12.479 2,6%
Các nghiên cứu gần đây cho thấy hiệu quả phát hiện máu trong phân
hàng loạt của test tỡm mỏu ẩn trong phõn cũn bị hạn chế bởi độ nhạy thấp,
đặc biệt nếu chế độ ăn kiêng không đúng yêu cầu thì có thể làm thay đổi từ
15% đến 50% kết quả, mặt khác chi phí cho test này cao nên việc dùng test
làm hàng loạt còn hạn chế, đặc biệt ở những nước hoàn cảnh kinh tế khó
khăn[13],[80].
sớm và chính xác tổn thương[21].
1.3.3.1 Soi hậu môn trực tràng bằng ống cứng:
Năm 1853 Desormeaux một phẫu thuật viên người Pháp đã sáng chế ra
dụng cụ soi trực tràng, đến năm 1895 phương pháp soi trực tràng được áp
dụng rộng rãi, ống soi trực tràng được cải tiến để có thể soi được đoạn cuối
của đại tràng sigma, kết hợp với kỹ thuật bơm hơi vào để quan sát lòng đại
tràng đã đem lại hiệu quả đáng kể trong chẩn đoán bệnh lý hậu môn trực
tràng. Đặc biệt từ năm 1957 với phát minh của Hirschowitz dùng sợi thủy tinh
dẫn ánh sáng, sử dụng nguồn sáng lạnh, kỹ thuật soi trực tràng có những bước
tiến mới. Từ năm 1958 ống soi mềm được sử dụng, soi trực tràng- đại tràng
sigma được áp dụng rộng rãi, thao tác thuận tiện, người bệnh dễ chịu hơn.
Hiện nay ống soi trực tràng đã được cải tiến, dễ sử dụng, giá thành rẻ do vậy
19
soi trực tràng vẫn được áp dụng khá rộng rãi để chẩn đoán và điều trị bệnh lý
ở hậu môn trực tràng[17],[50],[53],[63].
1.3.3.2 Soi đại tràng bằng ống mềm:
Nhờ phát minh dùng sợi thủy tinh dẫn ánh sáng của Hirschowitz, nội
soi đại tràng bằng ống mềm đã được ứng dụng. Tác giả Nhật Bản Matsunaga
đã sử dụng nội soi ĐT ống mềm từ năm 1957 đến năm 1962 đã soi được 200
trường hợp. Từ năm 1970, nội soi đại tràng đã được áp dụng khá rộng rãi ở
nhiều nơi trên thế giới. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ số hóa,
máy nội soi có độ phân giải cao, độ phóng đại lớn ra đời kết hợp với kỹ thuật
sử dụng nguồn điện cao tần để cắt polyp qua nội soi nhằm mục đích điều trị
và ngăn ngừa các biến chứng ung thư hóa của polyp dạng adenoma[18],[21].
Trong những năm gần đây nội soi ĐTT đã được ứng dụng rộng rãi để
chẩn đoán và điều trị PLĐTT. Các nghiên cứu về nội soi tiêu hóa trên thế giới
đều công nhận lợi ích của phương pháp nội soi trong chẩn đoán tổn thương ở
ống tiêu hóa, nó cho phép quan sát trực tiếp vị trí tổn thương, sinh thiết chính
xác mô tổn thương, do đó có thể chẩn đoán chính xác và phân loại mô bệnh
học, đánh giá mức độ ác tính của tổn thương từ đó có kế hoạch điều trị, quản
cắt ĐT hoặc một phần ĐT qua nội soi.
1.4.1.3 Cắt polyp đại trực tràng qua nội soi:
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu ở các nước dùng nội soi ĐTT
ống mềm để phát hiện các polyp nhỏ, các dạng u loạn sản tiền ung thư để
đánh giá sự tiến triển của PLĐTT và đưa ra phương pháp điều trị PLĐTT sớm
bằng thủ thuật cắt polyp qua nội soi. Các công trình nghiên cứu còn đi sâu so
sánh đánh giá hiệu quả và các nguy cơ tai biến trong khi làm thủ thuật cắt
polyp qua nội soi bằng các loại dụng cụ và nguồn cắt khác nhau.
21
Các nghiên cứu này đã cho thấy giá trị của phương pháp nội soi để
đánh giá tổn thương đặc biệt là những tổn thương polyp loạn sản có nguy cơ
ung thư hóa. Tuy nhiên cần có những nghiên cứu với số lượng bệnh nhân lớn,
với một quy trình thống nhất để chẩn đoán sớm và đề ra phương pháp điều trị
hiệu quả, kịp thời cho người bệnh cũng như kế hoạch theo dõi, sàng lọc và
quản lý những người có PLĐTT.
1.4.2 Phương pháp cắt polyp qua nội soi
1.4.2.1 Cắt polyp trực tràng qua nội soi ống cứng bằng lực cơ học
+ Cắt bằng lực cơ học đơn thuần: dùng kẹp, thòng lọng, kìm sinh thiết,
kéo chuyên dùng để cắt rời hoặc tác động lực cơ học làm đứt polyp, sau đó
cầm máu bằng gạc, bông thấm adrenalin hoặc que kim loại được đốt nóng
bằng nhiệt[2]. Phương pháp này có ưu điểm là các trang thiết bị không đắt
tiền và kỹ thuật dễ thực hiện. Nhược điểm của phương pháp cắt polyp bằng
lực cắt cơ học là gây chảy máu tại chỗ và khó cầm máu sau khi cắt rời polyp.
Phương pháp này chỉ cắt được những polyp nhỏ (khi đường kính dưới 5mm)
+ Phương phỏp dựng dõy thắt chặt cuống gây hoại tử và polyp tự rụng:
hiện nay không dùng.
1.4.2.2 Cắt polyp đại trực tràng qua nội soi bằng LASER:
LASER là chữ viết tắt của cụm từ: Light Amplification by Stimulated
Emission Radiation. Năm 1917 Einstain là người đầu tiên đã đưa ra khái niệm
lý thuyết về LASER nhưng mãi đến thập niên 60 LASER mới được nghiên
đặc biệt là sử dụng để cầm máu tại chỗ trong những trường hợp chảy máu tại
chân polyp rất hiệu quả, đây là ưu điểm chính của phương pháp điều trị bằng
LASER qua nội soi. Tác giả Lambert và Sabhen đã điều trị bằng LASER cho
209 tổn thương ở ĐTT, trong đó có 131 ung thư và 78 polyp kích thước lớn
đã thu được kết quả tốt[46]. Tuy nhiên điều trị bằng LASER cũn cú một số
hạn chế như: vị trí điều trị cần phải bộc lộ rõ để trỏnh cỏc tổn thương do
chùm tia gây ra trong quá trình điều trị, thiết bị LASER đắt tiền vì vậy chưa
được ứng dụng rộng rãi.
1.4.3 Cắt polyp ĐTT qua nội soi bằng điện cao tần:
1.4.3.1 Nguyên tắc chính của nguồn cắt điện.
- Nguồn cắt điện sử dụng dòng điện xoay chiều với tần số cao từ 300
KHz trở lên, với tần số này không gây ra điện giật, không kích thích sợi thần
kinh cơ nờn khụng gõy rung thất. Khi thòng lọng điện tiếp xúc với polyp
dòng điện cao tần được chuyển từ điện năng thành nhiệt năng tại vị trí tiếp
xúc. Quá trình cắt đốt và cầm máu được tạo ra nhờ sự kết hợp giữa nhiệt năng
và lực cơ học do thòng lọng siết chặt[23],[74].
1.4.3.2 Thiết bị:
Gồm hai phần chính:
- Nguồn cắt đốt điện cao tần: có tác dụng biến dòng điện xoay chiều
220v thành dòng điện cao tần có tần số từ 300KHz trở lên. Để cắt polyp
thường dùng nguồn cắt có công suất được chia làm nhiều mức từ thấp đến
cao, thường từ 10w đến 175W. Nguồn cắt đốt điện tạo ra 3 tác dụng là cắt,
cầm máu hay điện đông và tác dụng phối hợp. Ba loại tác dụng trên được biểu
24
hiện bằng 3 loại sóng khác nhau. Các nghiên cứu về dòng điện cao tần đã chứng
minh được rằng khi dòng điện có tần số thấp đi qua cơ thể thì gây ra nguy hiểm,
nó có thể triệt tiêu các dòng điện đang duy trì hoạt động sống của cơ thể, ngược
lại các dòng điện có tần số càng cao thì mức nguy hại càng thấp, khi dòng điện
có tần số >300KHz thì mức nguy hại gần như không đáng kể.
Dạng sóng cắt (cutting)