1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD) là bệnh ác tính hay gặp, tỷ lệ tử vong cao.
Theo Hiệp hội Ung thư quốc tế (UICC), mỗi năm trên thế giới có trên bảy
triệu ung thư mới được phát hiện, trong đó UTDD chiếm khoảng một phần
ba. Riêng đối với ung thư tiêu hoá thì UTDD là loại gặp nhiều nhất. Trong
năm 2007 ở Mỹ có đến 21260 trường hợp mắc mới (13.000 nam và 8260 nữ)
và có đến hơn 11.000 trường hợp tử vong [33]
Ở Việt Nam UTDD đang là vấn đề y tế lớn trong nhân dân, đặc biệt là
ở nam giới trên 40 tuổi. Ước tính hàng năm có khoảng 15000 – 20000 người
bị UTDD. Theo số liệu ghi nhận ung thư tại Hà Nội, TPHCM và một số tỉnh,
ước tính các năm gần đây tần số mắc UTDD là 23,7/ 100000 dân đối với nam
(đứng thứ 2 sau ung thư phổi), và 10,8/ 100000 dân đối với nữ (đứng thứ 2
sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung) [11], [18].
Trên thực tế bệnh nhân UTDD thường đến khám bệnh ở giai đoạn
muộn vì các triệu chứng của UTDD thường mơ hồ và không đặc hiệu. Khi
các triệu chứng rõ thì bệnh đã ở giai đoạn muộn hiệu quả điều trị thường rất
thấp.
Trong thập kỷ vừa qua y học đã đạt được nhiều tiến bộ trong chÈn
đoán và điều trị UTDD giai đoạn sớm. Chính vì vậy mặc dù tỷ lệ mắc UTDD
tăng nhưng tỷ lệ tử vong do căn bệnh này từng bước giảm đi rõ rệt. Trong đó,
sự đóng góp của nội soi ống mềm đã mang lại nhiều kết quả. Đây là phương
pháp đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán sớm UTDD đặc biệt là khi kết
hợp với sinh thiết [28].
Trong y văn cũng như một số tài liệu hiện nay cho rằng: pH dịch vị ở
người bình thường lúc đói dao động từ 0.8 đến 3 và ở người UTDD thì
thường acid dịch vị giảm, có thể giảm tương đối, nhưng còng có thể mất hẳn
độ acid tù do trong dịch vị, có khi độ acid toàn phần không quá 0,5 – 1 g/l.
Đây là hiện tượng và triệu chứng thường gặp trong UTDD [10], [16].
1.1. Mét số đặc điểm về giải phẫu, mô học và sinh lý của dạ dày.
1.1.1. Sơ lược về giải phẫu [ 5], [ 9 ], [14 ].
Dạ dày là đoạn phình to nhất của ống tiêu hoá nằm giữa thực quản và tá
tràng, chủ yếu nằm ở hạ sườn trái - bên trái đường trắng giữa - chỉ có 1/5 –
1/6 nằm ở bên phải đường đó, với dung tích khoảng 1 – 1,5 lít. Dạ dày nằm
trong ổ bụng ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang, dưới cơ hoành; phía trên
tiếp xúc với mặt dưới cơ hoành và thành bụng, phía sau giáp với thân và đuối
tuỵ, lá thành của hậu cung mạc nối.
Dạ dày có hai thành trước và sau, thành trước hướng về phÝa thành
bụng, thành sau hướng về phía cột sống; hai bê cong là bờ cong nhỏ và bờ
cong lớn, ở chỗ tiếp giáp giữa thân vị và hang vị bờ cong nhỏ hơi gấp hơn các
chỗ khác nên được gọi là góc bờ cong nhỏ; tâm vị và môn vị ở hai đầu. Lần
lượt từ trên xuống dưới có:
Tâm vị: là vùng rộng khoảng 3 – 4cm nằm kế cận thực quản, bao gồm cả
lỗ tâm vị. Lỗ này là chỗ nối thực quản với dạ dày, không có van đóng kín, cấu
tạo là một lớp niêm mạc.
Thân vị: là phần tiếp theo đáy vị, hình ống, được cấu tạo bởi hai thành và
hai bờ. Giới hạn trên là mặt phẳng cắt ngang qua lỗ tâm vị, giới hạn dưới là
mặt phẳng quan khuyết dưới góc bờ cong nhá.
Hang vị: là phần nối tiếp theo thân vị, hướng sang phải và hơi ra sau.
Èng môn vị thu hẹp lại giống cái phễu và đổ vào tâm vị, ở giữa môn vị là
lỗ môn vị thông với hành tá tràng.
Việc phân vùng dạ dày đã giúp Ých nhiều cho việc xác định vị trí tổn
thương của ung thư dạ dày. Theo Trịnh Hồng Sơn, ung thư vùng hang vị
chiếm 55, 88%, bê cong nhỏ là 28, 76%, tâm phình vị là 9,8%, toàn bộ dạ dày
là 1,96% [26].
4
- Về hệ thống mạch máu: động mạch dạ dày bắt nguồn từ động mạch
thân tạng, có hai vòng mạch chính nuôi dưỡng dạ dày đó là vòng mạch bờ
Là một mô liên kết lỏng lẻo, có chứa các mạch máu và các mạch bạch
huyết nhỏ, các sợi thần kinh và tế bào thần kinh, các tế bào mỡ và các tế bào
có đuôi nằm rải rác xen lẫn với các nguyên bào sợi, các sợi cơ trơn và tế bào
bón (hay cơ trơn).
1.1.2.4. Lớp niêm mạc.
Bao gồm biểu mô, mô đệm và cơ niêm ở bên dưới
* Biểu mô: toàn bộ bề mặt niêm mạc dạ dày được che phủ bởi một lớp tế
bào biểu mô chế nhày hình trụ cao, nhân hình trụ hoặc bầu dục, hơi lệch về
phía màng đáy. Các tế bào này chỉ chứa chất nhày trung tính. Tế bào biểu mô
phủ sắp xếp một cách tinh vi với những chỗ lõm (crypte) nơi đổ vào của các
tuyến dạ dày. Phân tuyến ở các vùng dạ dày không giống nhau cả về các loại
tế bào và các chất chế tiết:
- Tuyến tâm vị: gồm những tuyến ống đơn hoặc có nhánh Ýt, tế bào
tuyến tiết nhày hoặc dạng nhày, chủ yếu chế tiết chất nhày trung tính.
- Tuyến thân vị: đây là tuyến quan trọng nhất của dạ dày trong việc chế
tiết ra dịch vị. Tuyến thân vị thuộc loại tuyến ống thẳng Ýt chia nhánh và gồm
3 loại tế bào đó là tế bào tiết nhày tập trung nhiều ở vùng cổ tuyến và hai loại
tế bào chuyên biệt cao là tế bào chính và tế bào viền (tế bào thành).
+ Tế bào tiết nhày: tiết ra các phân tử chất nhày (mucus, mucin) bản
chất là một glycoprotein trong đó phần chủ yếu là polysaccarid nên còn
được gọi là mucopolysaccarid. Các phân tử chất nhày này có tính hơi kiềm
không thích hợp với hoạt động tiêu của pepsin. Nếu nồng độ chất nhày đạt
6
30 – 40 mg/ ml thì từ dạng hòa tan nó sẽ chuyển sang dạng gel, làm cho sự
khuếch tán ngược của ion H
+
chỉ còn 25% - điều này có tác dụng bảo vệ
niêm mạc dạ dày.
+ Tế bào chính: hình trụ, ái kiềm, tiết ra pepsinogen I và pepsinogen
-
và nước dẫn đến hình
thành HCl của dịch vị. Nhờ hiểu biết này các nhà khoa học đã tìm ra nhiều
loại thuốc ức chế giảm acid của tế bào thành trong điều trị loét dạ dày tá tràng
rất hiệu quả. Tế bào thành bị kích thích bởi histamin, gastrin và thần kinh phế
vị.
+ Ngoài hai loại tế bào trên ở thân vị còn có tế bào nội tiết Delta (tế bào
D) sản xuất ra somatostatin, bombesine và tế bào ECL tiết ra Histamin.
- Tuyến hang vị: là loại tuyến chia nhánh, chủ yếu chế nhầy và
pepsinogen II. Rải rác trong lớp biểu mô tuyến còn có các tế bào nội tiết: Tế
bào D (tiết Somatostatin), tế bào G (tiết gastrin)
* Mô đệm.
* Cơ niêm: lớp cơ kéo ngăn cách niêm mạc và hạ niêm mạc.
1.1.3. Sinh lý bài tiết dịch vị.
7
1.1.3.1. Thành phần.
Dịch vị là một chất dịch nhầy, nhớt, không màu,rất quánh. pH dịch vị lúc
đói theo các tài liệu rất khác nhau, dao động từ 0,8 -3, [1 ] [10] [16] [51].
Thành phần của dịch vị gồm:
* Các thành phần hữu cơ: Gồm chủ yếu là các men tiêu hoá
(pepsinogen, pepsin, lipase, gelatinase), chất nhầy và các yếu tố nội sinh.
Trong đó quan trọng là vai trò của pepsin và chất nhầy.
- Vai trò của pepsin: do tế bào chính của tuyến thân vị bài tiết ra dưới
dạng tiền chất pepsinogen (PG), được HCl hoạt hóa thành pepsin và một
lượng nhỏ pepsin tự hoạt hóa PG thành pepsin. Có 7 loại PG xếp thành hai
nhóm pepsinogen I (PGI) và pepsinogen II (PGII). Pepsin là tác nhân gây ăn
mòn lớp màng nhày phủ trên bề mặt niêm mạc, nhưng vì phân tử lượng lớn
không khuếch tán xuống dưới lớp gel được nên tác động của chúng chỉ hạn
chế trên bề mặt màng nhày. Vì thế, sự tiêu hủy của pepsin ở lớp sâu chỉ có thể
HCO
3
-
1.1.3.2. Sự bài tiết của dịch vị.
* Các giai đoạn bài tiết dịch vị: Ngoài bữa ăn, dịch vị được bài tiết với
số lượng Ýt, chủ yếu là tiết của các tế bào nhầy, pH dịch vị gần nh- trung
tính. Trong bữa ăn dịch vị được tiết nhiều do tăng lưu lượng của tế bào thành.
Quá trình bài tiết dịch vị được chia thành 3 giai đoạn : giai đoạn não, giai
đoạn dạ dày, giai đoạn ruột. Các giai đoạn này chịu tác động của cơ chế thần
kinh và cơ chế thể dịch.
* Tiết acid clohydric (HCl)
Khi bị kích thích, tế bào thành bài tiết một nội dung chứa khoảng 160
mol HCl/l, pH≈ 0,8 ở pH này, nồng độ ion H
+
cao gấp khoảng 3 triệu lần so
với trong máu động mạch.
Tế bào thành có những kênh nhỏ, các kênh này được đổ vào lòng ống
tuyến dạ dày. Quá trình tạo ra HCl theo những bước sau:
- Ion Cl
-
được vận chuyển tích cực từ trong bào tương của tế bào viền ra
lòng các kênh, đồng thời ion Na
+
đi từ lòng kênh vào trong tế bào theo cơ chế
vận chuyển tích cực. Hai quá trình này đều sinh ra một điện thế âm ở lòng
kênh, khoảng -40 đến -70mV. Nhờ đó đã tạo ra sự khuếch tán thụ động của
ion K
+
và một Ýt ion Na
+
sẽ thế chỗ chúng ở lòng kênh.
- CO
2
được tạo ra trong quá trình chuyển hoá tế bào hoặc từ dịch ngoại
bào đi vào trong tế bào. Dưới tác dụng của men cacbonic anhydrase (CA),
CO
2
kết hợp với ion OH
-
để tạo ra HCO
3
-
khuếch tán vào dịch ngoại bào để
trao đổi với Cl
-
. Ion Cl
-
đi vào tế bào rồi vận chuyển tích cực vào trong lòng
kênh. Tại kênh này, Cl
-
kết hợp với ion H
+
để tạo ra HCl, hoặc kết hợp với K
+
và một phần với Na
+
tạo thành KCl và một lượng rất nhỏ NaCl. Nước đi qua
tế bào kênh nhờ tác dụng thẩm thấu. Nh- vậy, dịch bài tiết cuối cùng của
* Cơ chế thần kinh:
Chủ yếu do dây X. Dây này phân nhánh vào đám rối Meissner. Từ đây
có các sợi đi đến các tuyến dạ dày và các tế bào nội tiết ở niêm mạc hang vị
bài tiết gastrin(tế bào G). Khi bị kích thích, các tận cùng hậu hạch của dây X
bài tiết acetylcholin. Acetylcholin tác động lên các thụ thể ở tế bào tuyến dạ dày,
làm tăng bài tiết dịch vị cả về thể tích lẫn hàm lượng pepsinogen, đồng thời các
tế bào G cũng tăng bài tiết gastrin. Ngoài ra, hệ thần kinh ở ruột cũng có vai trò
quan trọng trong điều hoà bài tiết dịch vị thông qua các phản xạ tại chỗ.
* Cơ chế thể dịch:
Sự bài tiết dịch vị chịu ảnh hưởng của nhiều loại hocmon nh-: gastrin,
histamin, các hocmon của tuỷ thượng thận, cortisol
- Gastrin: Do các tế bào G của vùng hang vị bài tiết là chủ yếu, phần Ýt
do niêm mạc tá tràng bài tiết. Gastrin kích thích các tuyến vùng thân và đáy vị
gây bài tiết HCl và pepsinogen nhưng lượng HCl nhiều gấp 3 – 4 lần lượng
pepsinogen.
11
- Histamin: Niêm mạc dạ dày bài tiết liên tục một lượng nhỏ Histamin.
Chất này làm tăng tác dụng kích thích bài tiết acid dịch vị gastrin và
acetycholin.
* Các yếu tố tác động lên tế bào thành:
- Các thụ thể muscarin cholinergic M
2
- Các thụ thể Histamin – H
2
: Bị ức chế bởi các thuốc chống H
2
nh-
cimetidin, ranitidine, famotidin, roxatidin
bằng khái
niệm pH.
12
][
1
lg
H
pH
hoặc pH= - lg[H
+
]
Theo công thức này nồng độ ion H
+
cao thì pH thấp sẽ gây ra aicd,
ngược lại nồng độ H
+
thấp thì pH cao gây kiềm.
Thành phần dịch vị có nhiều HCl, theo nhiều tác giả pH dịch vị bình
thường dao động từ 0,8 đến 3 [10] [16].
1.2. Bệnh ung thư dạ dày.
1.2.1. Một số đặc điểm dịch tễ học.
Bệnh ung thư dạ dày (UTDD) là một bệnh rất phổ biến thường gặp trên
thế giới. Nhưng châu Á đã chiếm 2/3 tổng số UTDD của thế giới [18].
Tỷ lệ mắc UTDD ở nam là 12,6% và ở nữ 8% tổng số các ung thư nói
chung, và thường xảy ra ở những người trên 50 tuổi. Số liệu thống kê năm
1997 của tổ chức nghiên cứu phòng chống ung thu quốc tế (IARC) cho thấy
Nhật là nước có tỷ lệ mắc ung thư cao nhất: 95,54/100000 dân đối với nam và
lựơng Nitrat tham gia vào chu trình nước bọt – dạ dày. Nước bọt người bình
thường có chứa 6 – 10mg nitrit/lít và 15 – 30mg nitrat/lít. 20% lượng nitrat
của nước bọt bị vi khuẩn cộng sinh ở mồm thuỷ phân thành nitrit, song đây lại
là phần chính (80%) lượng nitrit của dạ dày, còn lại 20% nitrit của dạ dày là
từ thức ăn. Ở dạ dày, nitrit phản ứng với các amin cấp 2, cấp 3 thành
nitrosamid. Người ta cho rằng chất nitrosamid được tạo thành sẽ alkyl hoá
acid nhân của ADN, ARN tạo ra đột biến gen gây UTDD. Sự tạo thành
nitrosamid ở dạ dày chỉ cần pH giảm, không cần sự tham gia của Enzym. Ở
mức độ pH dạ dày khác nhau lượng nitrosamid được tạo thành khác nhau.
Nếu không được tạo thành nitrosamid, nitrat sẽ tự phân huỷ nhanh chóng.
Trong lâm sàng, lượng nitrosamid thường tăng cao ở bệnh nhân thiếu máu ác
14
tính, sau cắt đoạn dạ dày, UTDD. Lượng nitrosamid ở nam thường cao hơn
nữ. Quá trình trên điều kiện để tạo thành nitrosamid là có nitrat thức ăn, có vi
khuÈn, pH giảm, có acid amin Qua nghiên cứu vitamin C có khả năng giảm
tần sè nguy cơ mắc UTDD [13][36][43][42][52]. Những người nghiện hút
thuốc lá nặng trên 30 điếu một ngày tần số dễ mắc UTDD cao hơn 6 lần so
với người không hút thuốc lá. Nuốt khói thuốc có ảnh hưởng tới vị trí ung
thư: hay gặp ung thư tâm vị [13] [34].
1.2.2.2. Acid dịch vị trong ung thư dạ dày.
Bình thường 6% thanh niên và trung niên, 20 – 30% người già có tình
trạng giảm acid chlorhydric sinh lý. Trong trường hợp UTDD thì acid
chlorhydric có thể giảm hoặc không có [10] [16].
Trong loét dạ dày có giá trị đặc hiệu dịch vị có thể thiểu toan, đa toan
hoặc bình thường. Trước một ổ loét dạ dày có dịch vị vô toan cần nghĩ đến
tính chất ác tính hoặc diễn biến ác tính của ổ loét [20].[13]
Theo Tạ Long: có khoảng 60 – 70% sè BN UTDD có độ acid dịch vị
giảm, song nhiều BN tuy không có UTDD cũng có biểu hiện tương tự nên độ
đặc hiệu không cao.[20]
* Viêm teo niêm mạc dạ dày (NMDD): viêm teo NMDD (còn gọi là viêm
teo dạ dày) rất hay gặp ở bệnh nhân UTDD. Viêm teo và dị sản ruột (DSR) là
kết quả cuối cùng của quá trình viêm DD mạn dài ngày do HP.
Theo Correa P. và CS (1985), có 3 typ viêm teo dạ dày.
- Viêm teo dạ dày do môi trường: thường do độc tố hoặc vi khuẩn gây
ra và thường bắt đầu từ hang vị (VDD typ B). Loại này thường gặp ở bệnh
nhân UTDD.
- Viêm teo DD tự miễn: thường bắt đầu từ thân vị, do cơ chế tự miễn
dịch. Tình trạng này thường thiếu máu Biermer và cũng có liên quan với
UTDD, dù có nhiễm HP hay không.
16
- Viêm teo DD giảm tiết: thường có liên quan tới loét DD tá tràng và Ýt
có liên quan tới UTDD.
Mặc dù HP đóng vai trò chủ chốt trong việc gây ra viêm DD teo dẫn tới
UT trong đa số các trường hợp, nhưng mối liên quan giữa UTDD với viêm
teo DD ở các thể tự miễn gợi ý rằng sự hiện diện của vi khuẩn HP không phải
là cần thiết mà viêm teo và giảm tiết acid mới là điều cần phát triển UTDD.
Trong VDD do HP, có thể hình dung là hàng loạt kích thích ban đầu do nhiễm
khuẩn đã gây ra những sai lầm trong hệ gen của tế bào. Lúc đầu viêm cấp rồi
viêm mạn, về sau là viêm teo, dị sản ruột và không do bản thân vi khuẩn gây
ra.
Mối liên quan giữa UTDD với một số genotyp chịu trách nhiệm sản xuất
ra nhiều cytokin tiền viêm, là đề tài của nhiều nghiên cứu ca bệnh – chứng,
đặc biệt là IL – 1 vì khả năng chống tiết acid mạnh. TNF - và IL – 10 cũng
có thể đóng một vai trò quan trọng và có thể giải thích vì sao tỷ lệ UTDD cao
nhất là ở Châu Á. Người ta giải thích tỷ lệ UTDD cao nhất ở Nhật là do tình
trạng tiết acid dạ dày ở mức thấp nhất của nhân dân Nhật không phụ thuộc
tình trạng nhiễm HP hoặc phơi nhiễm với một số yếu tố môi trường.
* Dị sản ruột ở niêm mạc dạ dày (NMDD):
1.2.3. Triệu chứng học ung thư dạ dày.
1.2.3.1. Triệu chứng lâm sàng.[27][13][8][21]
Trên thực tế bệnh nhân UTDD thường đến ở giai đoạn muộn do các triệu
chứng của bệnh nhân mơ hồ và không đặc hiệu. Khi các triệu chứng rõ thì
bệnh đã ở giai đoạn lan tràn không còn khả năng điều trị. Ở giai đoạn này BN
thường có các triệu chứng sau:
- Đau bụng: đây là triệu chứng làm bệnh nhân khó chịu nhất, đau bụng
không có chu kỳ, dùng các thuốc chống acid không cắt được cơn đau.
- Thể trạng suy kiệt, sụt cân .
- Ăn không ngon .
18
- Nuốt khó
- Thiếu máu
- Xuất huyết
- Cổ trướng
- Sờ thấy u vùng thượng vị.
- Các biến chứng của ung thư: hẹp môn vị gây nôn, ăn chậm tiêu, lắc óc
ách khi đói, dạ dày gây viêm phúc mạc
- Các triệu chứng của di căn xa: di căn hạch thượng đòn, khó thở tuỳ
thuộc vào vị trí di căn.
1.2.3.2. Triệu chứng cận lâm sàng.
* X – Quang:[20][35]
Hình ảnh X- quang UTDD khác nhau tuỳ thuộc loại tổn thương. Thể u
sùi biểu hiện trên X quang là hình khuyết. Thể thâm nhiễm hay gặp hình
nhiễm cứng, hình cong như mái tôn, hình chóp nón. Thể loét thường phát hiện
được khi tổn thương ở 2 bê cong với ổ loét hình mâm, hình thấu kính. Các
trường hợp ổ loét ở mặt dạ dày thường khó phát hiện.
Trên đây là hình ảnh tổn thương UTDD phát hiện bằng phương pháp
chụp X- quang có thuốc cản quang thông thường. Tại Nhật Bản, người ta hay
nghiệm soi dạ dày ống mềm và nghiên cứu mảnh dạ dày cắt qua phẫu thuật đã
phân loại UTDD sớm thành 3 typ:
- Typ I (typ lồi): U phát triển nổi lồi trên bề mặt niêm mạc dạ dày có
dạng polyp dạng cục hay nhó nhung mao, gặp khoảng 20%.
- Typ II (typ phẳng): chia làm 3 nhóm nhỏ
+ Nhóm IIa (phẳng gồ): mô u phát triển ở niêm mạc tạo thành một
mảng nhỏ hơi gồ lên, ranh giới rõ chỉ cao hơn một chút so với niêm mạc
xung quang.
20
+ Nhóm IIb (phẳng dẹt): Mô u phát triển ở niêm mạc tạo thành mảng
nhỏ hơi chắc và tương đối phẳng so với niêm mạc bình thường xung quanh.
Loại này khó phát hiện trên nội soi trừ một vài thay đổi về màu sắc.
+ Nhóm IIc (phẳng lõm): vùng u hơi lõm xuống thấp hơn so với niêm
mạc xung quanh. Lõm có thể do mô u hoại tử loét, bề mặt phủ lớp dịch phù tơ
huyết mỏng. Typ này chiếm 30 – 50%. Graanen (1991) gặp 38,7%
- Typ III (typ loét): tổn thương loét có độ sâu tương đối rõ, loại này
thường gặp khoảng 20 – 40 %
Hay gặp tổn thương của các typ kết hợp với nhau, ví dụ typ IIa + IIc, typ
IIc + III.
UT thể loét thường nông, bờ gồ ghề, niếm mạc xung quanh ổ loét không
đều, niêm mạc kết thúc với nhiều hình dáng khác nhau: tập trung, riêng rẽ,
hoặc cắt cụt.
Việc tăng cường phát hiện sớm là biện pháp tốt nhất để giảm tỷ lệ chết
của UTDD
21
Hình 1.2. Các tuyp ung thư sớm theo phân loại của Nhật Bản.
* UTDD giai đoạn muộn:
+ UT xơ đét (linite plastique): khi mới phát triển và ở thể đơn thuần có
thể chẩn đoán nhầm. Khi soi cảm tưởng mọi lớp của vách dạ dày còn nguyên
vẹn, chỉ hơi dày lên nh- dạng viêm kèm xơ hoá. Khi UT phát triển, vách dạ
dày dày lên như bìa, có khi tới 2 -3 cm, chắc như mo cau làm cho mét phần
lớn hay một phần dạ dày co lại, có thể thu nhỏ như hình chiếc chai hay hình
bít tất ngắn. Niêm mạc có những nếp nhăn thẳng song song và vết sước hay
những loét nhỏ. Có thể có những vùng sùi dạng polip.
* Phương pháp tế bào học:
23
Phương pháp áp lam mảnh sinh thiết qua nội soi dạ dày được áp dụng
rộng rãi vì phương pháp này đơn giản, rẻ tiền, và cho kết quả nhanh, độ chính
xác tới 80 – 85%, theo Ngô Quang Dương phương pháp này đạt đọ chính xác
92,2%. Tuy nhiên phương pháp này không phân được loại mô học UTDD.
*Phương pháp mô bệnh học:
Qua nội soi tiến hành sinh thiết để làm xét nghiệm mô bệnh học là
phương pháp không thể thiếu trong chẩn đoán UTDD, được coi là tiêu chuẩn
vàng giúp chẩn đoán xác định. áp dụng phương pháp này sau khi phẫu thụât
còn giúp xác định giai đoạn bệnh [5] [39] [55] [49]. Việc phân loại UTDD về
vi thể có ba phân loại mô học được ứng dụng rộng rãi là:
* Phân loại theo Lauren năm 1965:
+ UTBM: loại ruột, loại lan toả, loại pha và các loại khác.
+ UT không biểu mô.
Phân loại này đơn giản và sử dụng theo dõi BN UTDD. Loại lan toả
thường có xu hướng phát triển lan rộng và có tiên lượng xấu. Cần chú ý khi
phẫu thuật nên xét có khả năng cắt bỏ rộng rãi .
* Phân loại theo WHO 1997 gồm:
+ Ung thư biểu mô (UTBM):
- UTBM tuyến gồm: UTBM tuyến nhú, UTBM tuyến ống, UTBM
tuyến nhầy, UTBM tế bào nhẫn.
8144/3
UTBM tuyến nhú
8260/3
UTBM tuyến ống nhỏ
8211/3
UTBM tuyến nhày
8480/3
UTBM tế bào nhẫn
8490/3
UTBM tuyến vẩy
8560/3
UTBM tế bào vẩy
8070/3
UTBM tế bào nhỏ
8041/3
UTBM không biệt hoá
8020/3
25
Các loại khác: Carcinoid (u nội tiết biệt hoá cao)
8240/3
* Hình ảnh mô bệnh học của UTDD
- UTBM tuyến
Mô UT có cấu trúc tuyến và có lòng rộng hoặc lòng hẹp với số lượng bất
kỳ, bao gồm 3 loại nhỏ:
+ UTBM tuyến ống: tế bào u sắp xếp tạo thành hình ống. Khi cắt
ngang tuyến có kích thước khác nhau, lòng tuyến có thể giãn rộng thành
nang. Tế bào u hình trụ hoặc hình vuông, khi tuyến giãn rộng chứa chất nhầy,
tế bào trở nên thấp dẹt. Quanh các tuyến UT thường có mô liên kết bao bọc.
+ UTBM tuyến nhầy: mô UT có một lượng lớn chất nhầy. Chất này chứa