nhận xét hình ảnh nội soi, mô bệnh học và kết quả cắt polyp đại trực tràng bằng nguồn cắt endoplasma - Pdf 24

đặt vấn đề
Polyp đại trực tràng (PLĐTT) là một bệnh lý khá phổ biến ở các nước
Châu Âu, Bắc Mỹ và một số nước Châu Á. Polyp là u lồi vào lòng đại trực
tràng, khối u được hình thành do sự tăng sản quá mức của niêm mạc đại tràng.
Diễn biến của PLĐTT khá phức tạp, đã có nhiều nghiên cứu cho thấy: hơn
95% ung thư đại trực tràng có nguồn gốc từ polyp đại trực tràng.
Trong những năm gần đây nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của nội soi
ống mềm nên việc chẩn đoán, phát hiện và theo dõi bệnh nhân có PLĐTT và
UTĐTT ngày càng tốt và có hiệu quả hơn.
Qua nội soi ống mềm có thể quan sát trực tiếp mặt trong của đại trực
tràng, cho phép xác định hình thái, vị trí, tính chất, mức độ của tổn thương nói
chung và của PLĐTT nói riêng. Qua đó có thể làm một số các thủ thuật (nh
cắt polyp, tiêm cầm máu ) và tiến hành sinh thiết để làm giải phẫu bệnh, giúp
cho chẩn đoán phân biệt cũng nh theo dõi các bệnh lý đại tràng.
Trong lịch sử y học đã có nhiều phương pháp được áp dụng để điều trị
PLĐTT như cắt polyp qua đường hậu môn, cắt polyp qua mổ đường bụng, cắt
polyp qua nội soi ĐTT bằng ống cứng hoặc ống mềm, phương pháp cắt polyp
qua nội soi gần đây được sử dụng tương đối rộng rãi đã cho những kết quả
khả quan và thể hiện tính ưu việt của nó.
Ở Việt Nam kỹ thuật nội soi ĐTT ống mềm gần đây đã được áp dụng
rộng rãi, do vậy số bệnh nhân được phát hiện PLĐTT ngày càng nhiều, những
nghiên cứu về hình ảnh đại thể và vi thể của polyp đã có những bước tiến
mới, nội soi kết hợp với sinh thiết để làm rõ bản chất polyp, từ đó đề ra
phương pháp điều trị cũng như tiên lượng, theo dõi sau điều trị. Cùng với sự
phát triển của nội soi, các phương pháp điều trị PLĐTT cũng được nghiên cứu
và ngày càng hoàn thiện, trong đó kỹ thuật cắt polyp qua nội soi ống mềm sử
1
dông nguồn điện xoay chiều có tần số cao để điều trị PLĐTT đã được áp dụng
ở một số cơ sở như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện 108, Bệnh viện Đại học
Y Hà Nội Tuy nhiên những nghiên cứu về hiệu quả và độ an toàn của kỹ
thuật này hãy còn Ýt và chưa có báo cáo nào có tính hệ thống được công bố.

võng xuống và ngang qua phần giữa trên của ổ bụng, ở góc lách nó gấp một
góc nhọn (góc ĐT trái hay góc lách) rồi chạy ra sau và xuống dưới để trở
thành ĐT xuống. So với góc gan, góc lách ở sâu hơn, cao hơn, gấp góc hơn,
3
khó di động hơn và cũng thường khó khăn hơn khi soi. Trên hình ảnh nội soi
thấy lòng ĐT ngang cũng có hình tam giác xếp liên tiếp với nhau.
- Đại tràng xuống: bắt đầu từ góc lách, chạy xuống dưới và vào trong
để tiếp nối với đại tràng sigma, liên quan phía sau với thận trái và cơ thành
bụng sau, phía trước với quai ruột non. ĐT xuống là đoạn cố định do đó nó
cũng góp phần làm cho ống soi khi đi qua góc lách gặp khó khăn. Khi nằm
nghiêng về bên trái thì ĐT xuống là nơi thấp nhất, do đó khi đưa ống soi qua
đây thường thấy có Ýt dịch còn đọng lại, đó cũng là đặc điểm góp phần nhận
biết ĐT xuống trong khi soi. Trên hình ảnh nội soi thấy lòng ĐT ở đây có
hình ống hơn là hình tam giác, các nếp niêm mạc, các bóng phình đại tràng ở
đây không rõ nét nữa.
- Đại tràng sigma: là đoạn kế tiếp sau ĐT xuống, rất thay đổi về độ dài
(13- 60 cm) và đường đi. ĐT sigma nằm trong tiểu khung, đoạn cuối chạy
cong lên trên ra sau rồi gập góc xuống dưới (tạo thành cuộn kiểu
α
) để chạy
lượn theo chiều cong của xương cùng xuống dưới và trở thành trực tràng. Vì
ĐT sigma dài lại nằm trong khung chậu chật hẹp do vậy nó rất gấp góc và khó
khăn cho quá trình nội soi. Mặt trong của ĐT sigma có nhiều nếp niêm mạc
tạo ra các nếp gấp ngang, hình ảnh này cũng giúp khi soi phân biệt được với
trực tràng.
- Trực tràng và ống hậu môn: là đoạn cuối cùng của ống tiêu hoá, dài
khoảng 15- 20cm. Trực tràng chia làm hai phần: phần trên là bóng trực tràng
dài khoảng 12- 15cm, nằm trong chậu hông bé, tiếp nối với đại tràng sigma
(giới hạn bởi cơ thắt Obierne), phần dưới trực tràng thu hẹp lại thành ống hậu
môn và dài khoảng 3-5 cm. Trực tràng không có ngấn thắt như ở ĐT, phần

tạo thành: TB hình đài, TB mâm khía và TB ưa bạc.
5
- Lớp đệm: nằm dưới lớp biểu mô phủ, lớp này được tạo thành bởi các
mô liên kết có nhiều tương bào và lympho bào. Những nang lympho nhiều
khi vượt quá lớp cơ niêm xuống lớp dưới niêm mạc. Trong lớp đệm còn chứa
các tuyến đều là tuyến Lieberkuhn, đó là tuyến ống đơn thẳng Ýt khi phân
đôi, thành ống tuyến là biểu mô trụ đơn gồm có các loại TB: TB mâm khía,
TB hình đài, TB ưa crom và ưa bạc.
- Lớp cơ niêm: được tạo thành bởi những bó cơ trơn vòng và cơ trơn dọc.
1.2. Polyp đại trực tràng.
1.1.1. Định nghĩa polyp đại trực tràng.
Polyp là u lồi vào trong lòng ĐTT, khối u được hình thành do sự tăng
sinh quá mức của niêm mạc ĐTT. Bề mặt polyp có lớp niêm mạc bao phủ.
Thuật ngữ polyp dùng để chỉ những khối u lồi ra từ niêm mạc. Do đó có
những khối u nhìn bề ngoài rất giống PLĐTT nhưng lại không phải là polyp
như: u mì, u cơ, u thần kinh, giả polyp (Pseudopolyp) Vì vậy PLĐTT là một
thuật ngữ mô tả chung, nó không đặc hiệu cho bất cứ loại u lồi nào nhô lên bề
mặt niêm mạc.
Cấu tạo vi thể chung của các loại polyp: ở giữa trung tâm polyp có trục
liên kết mạch máu, niêm mạc tuyến tăng sản, các tuyến dài ra, TB tuyến
thường biệt hóa, nhân các TB bình thường. Khi các polyp thoái hóa, loạn sản
thì các tuyến bắt màu kiềm hơn, có nhiều TB không biệt hóa, nhân TB to
không đồng đều, có nhiều nhân chia nhưng cơ niêm còn nguyên vẹn, nó khác
hẳn với polyp bị ung thư hóa: màng đáy bị phá vì, TB có nhân quái nhân chia,
tuy nhiên, dựa vào những đặc điểm riêng, đặc hiệu của cấu trúc vi thể, người
ta có thể phân chia PLĐTT làm nhiều loại khác nhau nhưng tất cả đều có
điểm chung là cấu tạo bên trong polyp chủ yếu là các thành phần của niêm
mạc ĐTT.
1.1.2. Hình ảnh đại thể của PLĐTT
6

được chia thành 2 đoạn: ĐT phải và ĐT trái, do đó cũng có polyp ĐT phải và
polyp ĐT trái.
1.1.2.4. Số lượng polyp:
Về phương diện số lượng polyp trên 1 BN, người ta chia polyp ra làm 3
loại:
• Polyp đơn độc (Single polyp)
Khi trong ĐTT của BN chỉ có một polyp thì polyp đó gọi là polyp đơn độc.
Polyp đơn độc có nhiều loại:
- Polyp đơn độc thiếu niên (Polyp Solitaire Juvenile): Polyp loại này
thường có cuống.
- Polyp tuyến đơn độc (Polyp Solitaire Adenomatous): Polyp lọai này
có thể có cuống hoặc không cuống.
• Đa polyp (Multiple polyp).
Khi BN có từ 2- 99 polyp ở ĐTT thì được gọi là đa polyp.
• Bệnh polyp (polypose):
Thuộc nhóm bệnh này khi trong ĐTT của BN có từ 100 polyp trở lên.
Trên 1 BN bị đa polyp hoặc bệnh polyp, polyp có thể ở nhiều hình dạng, kích
thước khác nhau.
1.1.3. Phân loại mô bệnh học của polyp đại trực tràng:
Có rất nhiều cách phân loại mô bệnh học của PLĐTT, nhưng cách phân
loại của Morson năm 1976 đã được nhiều nhà GPB, nội soi, ung thư học và
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chính thức áp dụng. Năm 2000 WHO có bổ
xung thêm phân loại chi tiết bao gồm các loại polyp nh sau:
• Nhóm polyp u tuyến (Adenomatous) hay polyp u (Neoplastic polyp)
- Polyp u tuyến ống nhỏ (Tubular adenoma)
8
- Polyp u tuyến nhung mao (Villious adenoma)
- Polyp u tuyến hỗn hợp (Tubolovillous adenoma)
• Nhóm non-neoplastic polyps: còn gọi là polyp không u, nhóm này có:
- Polyp thiếu niên (Juvenile polyp): gồm 3 loại: polyp thiếu niên đơn

mạnh, nhiều TB không biệt hóa: loạn sản vừa. Nếu sự phát triển TB nhiều
hơn nữa, TB không biệt hóa lan rộng chiếm toàn bộ polyp, đôi khi có hình
lông gọi là loạn sản nặng.
1.1.3.2. Đặc điểm mô bệnh học nhóm non-neoplastic:
- Polyp viêm: Polyp loại này cũng thường đơn độc và không có cuống,
bề mặt polyp có thể bị loét. Hình ảnh vi thể cho thấy có tăng sản mô hạt trong
lớp đệm và kèm nhiều TB viêm xâm nhập.
- Polyp thiếu niên: Polyp thiếu niên thường là loại polyp to, đơn độc, có
cuống và lành tính. Trên hình ảnh vi thể cho thấy mô đệm phát triển rất mạnh,
các ống tuyến hình túi giãn rộng, nhưng vẫn lót biểu mô ĐT bình thường.
- Harmatomatous polyp: Nhóm này gồm nhiều loại polyp, mỗi loại cũng
có những đặc điểm MBH riêng, tuy nhiên để chẩn đoán chính xác phải kết
hợp với lâm sàng, tiền sử gia đình và số lượng polyp.
+ Polyp trong bệnh polyp gia đình (FAP): hình ảnh vi thể của polyp loại
này chủ yếu là dạng tuyến nhú hay vi nhung mao, nhưng phải xen lẫn với
thành phần mô đệm, có khi thành phần mô đệm chiếm ưu thế, đó là điều khác
hẳn với polyp tuyến dạng vi nhung mao.
+ Polyp trong hội chứng Gardner: hình ảnh vi thể của polyp loại này cũng có
dạng tuyến nhú hay vi nhung mao, nhưng có xen lẫn với thành phần mô đệm mà
chủ yếu là các dải mô xơ hóa, đó là điều khác với các loại bệnh polyp khác.
10
+ Polyp trong hội chứng Peutz-Jeghers: cấu trúc vi thể của polyp thấy có
dạng tuyến nhú hay vi nhung mao, nhưng các tuyÕn có lót nhiều loại TB và
thường giãn rộng thành nang, các polyp này thường chứa các dải cơ trơn.
- Polyp không xếp loại:
+ Polyp tăng sản: Dưới kính hiển vi polyp tăng sản gồm những ống và
hốc tuyến có hình thái rất rõ ràng, có lót một lớp TB biểu mô dưới dạng biệt
hóa của TB hình đài hoặc TB hấp thu. Do đó có nhiều TB biểu mô, bờ của
polyp khi nhìn nghiêng như có hình răng cưa.
+ Nhóm polyp lympho: rất hiếm gặp, gồm nhiều mô lympho phủ bởi lớp

- Polyp nhỏ có đường kính <10mm: chỉ có 1% nguy cơ UT.
- Polyp có đường kính 10- 20mm: đã có tới 10% nguy cơ UT.
- Polyp có đường kính >20mm: khả năng UT lên đến 50%.
• Loại polyp:
- Polyp không cuống khả năng UT cao hơn loại polyp có cuống.
- Polyp đơn độc khả năng UT thấp hơn đa polyp và bệnh polyp có khả
năng UT cao hơn, đặc biệt với bệnh polyp gia đình (FAP) nếu không được
điều trị thì khả năng UT đến 100% khi BN trên 40 tuổi.
- Polyp u tuyến có khả năng UT hóa cao hơn nhóm non-neoplastic
polyp. Trong polyp tuyến thì loại polyp u tuyến nhung mao (villous) có tới
40% UT, loại polyp u tuyến ống nhỏ nhung mao (tubolovillous) có 22% UT,
trong khi đó loại polyp u tuyến ống nhỏ (tubular) chỉ có 5% UT.
• Polyp ở ĐT phải thường Ýt có nguy cơ UT hơn polyp ĐT trái. Nghiên
cứu Nusko G và cộng sự cho thấy nguy cơ UT hóa của polyp ĐT phải thấp
hơn polyp ĐT trái nhiều lần.
12
Nội soi đại trực tràng có thể phát hiện sớm và cho phép cắt bỏ, làm sinh
thiết và theo dõi định kỳ nhằm phát hiện sớm nguy cơ ung thư hóa.
1.3. Các phương pháp chẩn đoán polyp đại trực tràng:
1.1.4. Thăm khám lâm sàng:
BN thường có các triệu chứng: đau bụng, phân có nhầy máu hoặc đại
tiện ra máu tươi, rối loạn phân (táo bón hoặc ỉa lỏng thất thường) kéo dài, mệt
mỏi gầy sút cân, thiếu máu BN có tiền sử gia đình có người bị ung thư ĐTT,
PLĐTT
1.4.2. Cận lâm sàng:
- Xét nghiệm: tìm hồng cầu trong phân bằng phản ứng Weber Mayer.
Xét nghiệm máu địmh lượng kháng nguyên CEA, định lượng P53 trong huyết
thanh (xét nghiệm gen).
- Siêu âm ổ bụng thông thường: Ýt có giá trị trong chẩn đoán PLĐTT
vì trong lòng ống tiêu hóa có hơi. Tuy nhiên trong một số trường hợp phát

học, đánh giá mức độ ác tính của tổn thương từ đó có kế hoạch điều trị, quản
lý, theo dõi PLĐTT và ung thư đại trực tràng.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ số hóa, máy nội soi có
độ phân giải cao, độ phóng đại lớn ra đời kết hợp với kỹ thuật sử dụng nguồn
điện cao tần để cắt polyp qua nội soi nhằm mục đích điều trị và ngăn ngừa các
biến chứng ung thư hóa của polyp dạng adenoma.
- Giải phẫu bệnh: có xét nghiệm tế bào và mô bệnh học.
1.4. Các phương pháp điều trị polyp đại trực tràng:
1.4.1 Phương pháp cắt polyp đại trực tràng không qua nội soi:
1.4.1.1 Cắt polyp đại trực tràng qua đường hậu môn:
14
1.4.1.2 Cắt polyp đại trực tràng bằng mổ qua thành bụng:
1.4.1.3 Cắt polyp đại trực tràng qua nội soi:
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu ở các nước dùng nội soi ĐTT
ống mềm để phát hiện các polyp nhỏ, các dạng u loạn sản tiền ung thư để
đánh giá sự tiến triển của PLĐTT và đưa ra phương pháp điều trị PLĐTT sớm
bằng thủ thuật cắt polyp qua nội soi. Các công trình nghiên cứu còn đi sâu so
sánh đánh giá hiệu quả và các nguy cơ tai biến trong khi làm thủ thuật cắt
polyp qua nội soi bằng các loại dụng cụ và nguồn cắt khác nhau.
Các nghiên cứu này đã cho thấy giá trị của phương pháp nội soi để
đánh giá tổn thương đặc biệt là những tổn thương polyp loạn sản có nguy cơ
ung thư hóa. Tuy nhiên vẫn cần có những nhiên cứu sâu hơn tiếp theo với số
lượng bệnh nhân lớn hơn, theo qui trình chuẩn hơn để chẩn đoán sớm và đề ra
phương pháp điều trị hiệu quả, kịp thời cho người bệnh cũng như kế hoạch
theo dõi, sàng lọc và quản lý những người có PLĐTT.
1.4.2 Phương pháp cắt polyp qua nội soi bằng nguồn điện cao tần
1.4.2.1 Nguyên tắc chính của nguồn cắt điện
- Nguồn cắt điện sử dụng dòng điện xoay chiều với tần số cao trên 10
6
chu kỳ/giây. Với tần số này không gây ra điện giật, không kích thích sợi thần

• Chống chỉ định:
- Polyp có đường kính cuống hoặc chân > 20mm.
- Trong trường hợp BN có nguy cơ chảy máu biểu hiện trên các xét
nghiệm máu chảy, máu đông, tỷ lệ prothrombin, số lượng tiểu cầu không
bình thường.
- Bệnh nhân bị các bệnh tim mạch như suy tim, nhồi máu cơ tim
- BN đang bị sốt, nhiễm khuẩn, thể trạng suy kiệt.
1.4.2.3 Kỹ thuật cắt polyp qua nội soi
Tuỳ thuộc vào từng loại polyp:
• Polyp có cuống kích thước trung bình:
- Đưa thòng lọng đến vị trí có polyp, mở thòng lọng ôm lấy đầu polyp
rồi tụt xuống ôm lấy cuống polyp. Đẩy vỏ ngoài của thòng lọng sát với cuống
polyp, thắt từ từ cho đến khi có cảm giác chặt tay rồi kéo nhẹ đầu polyp lên.
- Kiểm tra xem niêm mạc của thành ruột có chui vào thòng lọng không,
nếu có niêm mạc nằm trong thòng lọng thì phải đẩy thòng lọng ra khỏi vỏ
catheter rồi mở thòng lọng ra và nhấc thòng lọng ra khái polyp và thắt lại
polyp. Nếu khó lồng thòng lọng vào đầu polyp phải xoay máy hoặc thay đổi
tư thế bệnh nhân, có thể đẩy catheter lên trên vị trí của đầu polyp rồi mở
thòng lọng ra trùm vào đầu polyp.
- Nguồn cắt điện được sử dụng trong vòng 2- 3 giây, xen kẽ giữa pha
cầm máu và pha cắt, trong khi đó sẽ từ từ thắt thòng lọng cho đến khi polyp bị
cắt rời hoàn toàn. Lấy polyp ra ngoài để xét nghiệm mô bệnh học. Ghi rõ vị
trí của polyp vào giấy xét nghiệm mô bệnh học.
17
• Loại polyp không có cuống kích thước nhỏ hoặc trung bình:
- Cần tạo ra 1 cuống cho polyp: sau khi trùm thòng lọng qua đầu polyp
thì thắt từ từ thòng lọng để cho chu vi thòng lọng nhỏ hơn đầu polyp. Sau đó
kéo thòng lọng lên phía đầu của polyp sao cho làm tách lớp niêm mạc ra khỏi
phần cơ niêm, như vậy phần cơ niêm sẽ không nằm trong thòng lọng và giảm
được nguy cơ gây thủng. Sau khi tạo được cuống polyp thì tiếp tục các bước

manh tràng. Nguy cơ thủng cao hơn khi cắt polyp ở đại tràng phải vì ở vùng
này thành đại tràng mỏng.
+ Polyp nhá (có đường kính 5- 6mm) có thể cắt bằng kìm sinh thiết nóng
(hot biopsy): dùng kìm kẹp polyp và tạo ra cuống giả bằng cách nhấc kìm ra
xa niêm mạc và đốt điện trong vài giây sau đó dứt mảnh polyp cho rời ra. Có
thể cắt cả polyp hoặc cắt một phần, chú ý nếu không tạo được cuống thì khi
cắt sẽ có nguy cơ thủng do gây bỏng thành niêm mạc.
+ Polyp ác tính: chỉ cắt polyp qua nội soi khi tổn thương ác tính không
lan vượt quá vị trí định cắt của cuống polyp hoặc không lan xuống dưới lớp
cơ niêm. Tuy nhiên cần phải xem xét tới mức độ biệt hoá của khối u và các
biến chứng tắc mạch máu, bạch mạch trong khối u để đặt vấn đề phẫu thuật.
+ Nhiều polyp: nếu số lượng polyp rất nhiều cần phải nghĩ đến bệnh polypose
và phải làm sinh thiết nhiều mảnh ở những vùng niêm mạc có vẻ nh bình thường.
Nếu kết quả mô bệnh học là adenoma thì cần phải điều trị ngoại khoa.
• Chó ý:
- Nên cắt ngay polyp nhìn thấy trong quá trình đưa máy vào nhất là
polyp đại tràng vì những polyp này có thể sẽ khó thấy trong quá trình rút đèn
soi ra.
19
- Nếu nghi ngờ mức độ lành tính của polyp, trước khi thiến hành thủ
thuật nên sinh thiết polyp và làm siêu âm- nội soi. Nếu xác định là polyp ác
tính thì không nên cắt qua nội soi mà phải điều trị ngoại khoa sớm.
- Những polyp ác tính lan toả ở bệnh nhân không có khả năng phẫu thuật
có thể điều trị tạm thời bằng cắt polyp qua nội soi phối hợp với điều trị laser
tại chỗ.
1.4.2.4 Biến chứng:
- Chảy máu : hay gặp nhất, có thể xảy ra trong quá trình cắt polyp hay
sau khi cắt vài ngày do tiến triển của ổ hoại tử di chứng sau khi cắt.
- Thủng: xảy ra ngay sau khi cắt hiếm gặp xảy ra vài ngày sau, biến
chứng này dễ xảy ra đối với những polyp to không cuống.

ý làm thủ thuật cắt polyp, sinh thiết.
Loại trừ những bệnh nhân:
- Không đồng ý làm thủ thuật.
- Bệnh nhân nội soi đại tràng phát hiện thấy tổn thương nghi ngờ polyp
hoặc polyp đại trực tràng nhưng không làm sinh thiết hoặc cắt tổn thương
(không có bệnh phẩm để làm GPB).
- Bệnh nhân đang có các bệnh như : suy tim cấp, lọan nhịp tim, viêm
phúc mạc, rối loạn đông máu, đái tháo đường không kiểm soát được, bệnh
nhân bị viêm đại tràng cấp xuất huyết ồ ạt. Bệnh nhân bị viêm đại tràng mạn
tính do xạ trị.
2.1.2. Chuẩn bị bệnh nhân.
+ Bệnh nhân được hẹn soi trong buổi chiều, buổi sáng được uống một
lọ FLEED PHOSPHO- SODA 45 ML pha trong 200 ml nước lọc uống hết,
sau đó uống thêm khoảng 1 lít nước lọc nữa. 30 phót sau khi uống lọ thứ nhất
22
pha lọ thứ 2 vào 200 ml nước lọc uống hết, ngay sau đó uống thêm 2 lít nước
lọc nữa (có thể uống thêm càng nhiều nước càng tốt), ngừng uống trước khi
làm nội soi 2h.
+ Các bệnh nhân trước khi nội soi được hỏi, khám lâm sàng các bệnh
kèm theo, ghi chẩn đoán lâm sàng trước khi nội soi. Các xét nghiệm cần làm:
thời gian máu chảy, máu đông, tỷ lệ Prothrombin, số lượng tiểu cầu, nhóm
máu. Trong quá trình nội soi được ghi mô tả chi tiết: nhận xét tổn thương
trong quá trình soi. Các tổn thương được mô tả, chụp ảnh, đánh giá sau sinh
thiết hoặc cắt polyp theo một mẫu bệnh án nghiên cứu chi tiết.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
Mô tả cắt ngang, tiến cứu.
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Khoa Điều trị nội trú, Trung tâm Nội soi Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
2.2.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 1/2009 đến tháng 9/2009.

cuống.
- Vị trí polyp: polyp trực tràng, polyp đại tràng sigma, polyp đại tràng
xuống, polyp đại tràng ngang, polyp đại tràng lên, polyp manh tràng.
- Số lượng polyp trên một bệnh nhân: polyp đơn độc, đa polyp, bệnh
polypose.
- Kích thước polyp: loại nhỏ có đường kính đầu hoặc chân polyp
<10mm, loại vừa khi đường kính đầu hoặc chân polyp từ 10- 20mm, loại to
khi đường kính polyp > 20mm.
- Tổn thương kèm theo polyp (nếu có): polyp ung thư hóa, ung thư đại
trực tràng
24
2.2.5.3 Thống nhất về quy trình soi
Trên dọc đường đi vào của ống nội soi nếu phát hiện polyp:
- Với các trường hợp nghi ngờ polyp: nhận định tính chất tổn thương,
sau đó dùng kìm sinh thiết tổn thương.
- Với polyp đã rõ:
NÕu polyp có cuống, kích thước < 2cm bệnh nhân đồng ý sẽ cắt toàn
bộ polyp.
Nếu polyp không có cuống, kích thước >2cm, bệnh nhân chưa đồng ý cắt,
chưa đủ điều kiện cắt: sinh thiết vào đỉnh và chân polyp (mỗi chỗ lấy 2- 3 mảnh),
trường hợp đa polyp thì chọn polyp có kích thước lớn nhất để sinh thiết.
- Với các trường hợp có cả polyp và tổn thương nghi ngờ tiến hành cắt
và sinh thiết, bệnh phẩm mỗi loại cho vào trong các ống nghiệm riêng.
Các mảnh sinh thiết được ngâm cố định trong dung dịch Formol 10%
có ghi rõ họ tên BN, tuổi, ngày soi, vị trí sinh thiết (nếu có nhiều ống nghiệm
trên cùng 1 BN thì đánh số thứ tự trên mỗi ống) để gửi GPB.
2.2.5.4 Thực hiện kỹ thuật cắt polyp:
 Thiết bị cắt polyp gồm:
+ Máy soi đại tràng:
- Èng soi mềm: sử dụng ống soi mềm có video cửa sổ nhìn thẳng gồm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status