VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI THIÊN NHIÊN QUA KHÔNG GIAN Ở CỦA NGƯỜI VIỆT - Pdf 24

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Võ Thị Thu Thủy
VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI THIÊN NHIÊN
QUA KHÔNG GIAN Ở CỦA NGƯỜI VIỆT

Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62.31.70.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS.KTS. HOÀNG ĐẠO KÍNH

PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP
1. TS. ĐỖ NGỌC ANH
2. PGS.TS NGUYỄN TRI NGUYÊN

PHẢN BIỆN
1. PGS.TS PHAN THỊ THU HIỀN
2. PGS.TS LÊ THANH SƠN


Tôi xin cam đoan luận án Văn hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở
của người Việt là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng lắp, sao
chép của bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học nào của các tác
giả khác.

Tác giả luận án

VÕ THỊ THU THỦY

4

BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

- Bulletin des amis du Vieux Hué B.A.V.H
- Chủ biên cb
- Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL
- Đại học ĐH
- Khoa học xã hội và nhân văn KHXH & NV
- Khoa học xã hội
KHXH

- Không gian cư trú KGCT

- Nhà xuất bản Nxb

1.2.2. Địa - văn hóa 36
1.2.3. Sinh thái văn hóa 37
1.2.4. Giao lưu tiếp biến văn hóa 40
1.3. Cách thức và trình tự nghiên cứu vấn đề 45
1.3.1. Cách thực hiện và xác lập các tiêu chí điều tra khảo sát 45
1.3.2. Trình tự xem xét và mô tả yếu tố thiên nhiên trong không gian ở truyền
thống. 48
1.4. Những đặc điểm cơ bản của thiên nhiên Việt Nam 49
1.4.1. Điều kiện địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên Việt Nam 50
1.4.2. Những thuận lợi và bất lợi về điều kiện tự nhiên 51
1.5. Yếu tố lịch sử - kinh tế - xã hội 49
1.5.1. Đặc điểm lịch sử tác động đến xã hội truyền thống Việt 49
1.5.2. Tác động của kinh tế và phương thức sản xuất đến không gian ở 55
1.5.3. Đặc điểm về hệ tư tưởng, tôn giáo tín ngưỡng, tập quán lối sống ảnh
hưởng đến tổ chức không gian ở. 56
1.5.4. Vai trò của làng xã trong xã hội Việt Nam truyền thống. 59
CHƯƠNG 2
VĂN HÓA ÚNG XỬ VỚI YẾU TỐ THIÊN NHIÊN TRONG KHÔNG GIAN
Ở TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI BA MIỀN
6

2.1. Ứng xử với thiên nhiên trong không gian ở của cư dân đồng bằng BắcBộ 69
2.1.1. Đặc điểm thiên nhiên - xã hội 69
2.1.2. Đặc điểm về cấu trúc và hình thái các làng điển hình Bắc Bộ 70
2.1.3. Đặc điểm về tổ chức không gian ở của cư dân đồng bằng Bắc Bộ 71
2.1.4. Yếu tố phong thủy, tâm linh và tập tục gắn với thiên nhiên 81
2.2. Ứng xử với thiên nhiên trong không gian ở của cư dân vùng đồng bằng
duyên hải Trung Bộ 82
2.2.1.Đặc điểm thiên nhiên - xã hội 82
2.2.2. Đặc điểm về cấu trúc và hình thái các làng điển hình Trung Bộ 86

DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
Con người là thành phần không tách lìa khỏi thiên nhiên, sống trong thiên
nhiên, dựa nhờ và bổ sung cho thiên nhiên, cộng sinh với thiên nhiên. Hành động
trong sự nhận thức bởi trí tuệ trở thành ứng xử. Sự ứng xử, cách ứng xử với thiên
nhiên, bởi sự tiến hóa của văn minh, trở thành văn hóa ứng xử với thiên nhiên. có
những cộng đồng ứng xử với thiên nhiên như trong phạm vi khuôn viên cư trú của
gia đình, trong phạm vi một xóm làng cùng vùng đất canh tác hoặc sản xuất bao
quanh, trong phạm vi một quốc gia và ở thời đại chúng ta, trong phạm vi toàn cầu.
Văn hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở của người Việt là hệ giá trị trong
tổng thể các hệ giá trị văn hóa của người Việt. Trong lĩnh vực văn hóa vật thể, việc
kiến thiết các không gian ở là nhằm mục đích tự bảo vệ, đồng thời thể hiện thái độ,
nhận thức và hành vi của con người trước thiên nhiên, tạo nên nếp văn hóa ứng xử
gắn với tập quán tín ngưỡng, thị hiếu của mỗi dân tộc và trở thành giá trị nhân văn
trong tiến trình xã hội tự hoàn thiện mình.
Chính sự dị biệt về văn hóa ứng xử với thiên nhiên (khí hậu, địa hình địa
mạo…) tại các địa phương khác nhau trên hành tinh trong cách tổ chức ăn ở và mưu
sinh đã làm nảy sinh ra các nền văn minh, văn hóa khác nhau. Làm bộc lộ những
đặc thù văn hóa ấy là công việc khoa học thường xuyên của các nhà nghiên cứu. Nó
góp phần giúp cho mỗi quốc gia và mỗi dân tộc có thể hiểu rõ chính mình, hiểu rõ
giá trị văn hóa mà dân tộc ấy từng dày công xây dắp qua suốt quá trình lịch sử.
Trong lịch sử lâu dài của dân tộc Việt Nam, cha ông ta đã dựa vào thiên
nhiên để sinh tồn, tạo dựng được một quốc gia độc lập và một nền văn minh như
ngày nay. Tìm hiểu để kế thừa và phát triển những kinh nghiệm từ truyền thống ứng
xử với thiên nhiên là một hướng nghĩ, một đòi hỏi mà xã hội ngày nay đang đặt ra,
khi đất nước ta đang triển khai chương trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Bên
cạnh đó, tốc độ phát triển nhanh chóng của đất nước đang đe dọa xói mòn và chối
bỏ một số giá trị văn hóa truyền thống. Công cuộc kiến thiết đô thị và nông thôn,
đang hướng đến việc thiết lập những môi trường sống hiện đại phù hợp với thực tế
8

Văn hóa ứng xử hiện diện trên nhiều mặt, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
là hệ giá trị trong tổng thể các giá trị văn hóa - nhân văn của người Việt. Đi tìm các
đặc trưng trong văn hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở, qua đó làm nổi
bật những giá trị văn hóa hàm chứa bên trong cách ứng xử ấy. Việc nghiên cứu văn
hóa ứng xử với thiên nhiên có khả năng bổ sung một phần đáng kể những mặt hiện
còn thiếu trong lĩnh vực học thuật.
Tuy chưa có điều kiện đi sâu vào lĩnh vực này, song trong quá trình công tác
và giảng dạy, tác giả luận án đã quan tâm và mong muốn được thâm nhập trong
chừng mực có thể vào đề tài này. Bên cạnh đó sự quan sát, nhìn nhận và luận giải
những đặc điểm, đặc trưng trong việc ứng xử với thiên nhiên trong không gian ở
của cha ông trên các phương diện khai thác, ứng phó, thích nghi , qua đó làm rõ
bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, trang trí mỹ thuật v.v Đó là lý do để NCS
mạnh dạn chọn đề tài “Văn hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở của người
Việt” làm luận án tiến sĩ ngành Văn hóa học, góp phần nhận diện đặc trưng văn hóa
ăn ở trong môi trường thiên nhiên giầu tiềm năng và đầy biến động của người xưa.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách, bài viết khảo cứu về ứng xử của
con người với môi trường tự nhiên và xã hội Việt Nam dưới góc nhìn từ các ngành
khoa học (địa lý, sử học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, kiến trúc, mỹ thuật
v.v…) của nhiều nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước.
Địa văn hóa là ngành khoa học dựa trên các lý thuyết vùng văn hóa để khảo
cứu về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái. Trên cơ sở các tài liệu về khoa học
địa lý, các tác giả đã nghiên cứu những đặc điểm về địa hình, địa mạo, khí hậu,
phong thổ của Việt Nam để nhận biết những tác động của chúng vào môi trường
sống - không gian cư trú của con người trên các miền đất nước.
Nghiên cứu về địa lý nhân văn, cuốn sách Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ
(1936) của Pierre Gourou chứa đựng lượng thông tin đa dạng, và những số liệu chi
tiết về phân vùng tự nhiên, những khảo cứu về địa lý, hình thể, nhân văn, kinh tế
10



Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1997) nhà nghiên cứu Trần
Ngọc Thêm đề cập nhiều vấn đề của cuộc sống và con người Việt Nam từ góc nhìn
văn hóa học. Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt được thể hiện
qua việc đối phó với thời tiết, khí hậu, bằng các hình thức xây dựng nhà thể hiện
trong cấu trúc, chọn hướng nhà, chọn đất, chọn vật liệu , nêu bật những đặc tính về
hình thức kiến trúc thể hiện tính động, tĩnh, sự hài hòa, tính linh hoạt và vận dụng
tối đa nguồn lợi của thiên nhiên. Tác giả đã chiêm nghiệm sâu sắc về cội nguồn văn
hóa nông nghiệp cùng với tâm thức người Việt, những ảnh hưởng từ triết lý âm
dương, những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống trong kiến trúc của dân tộc
Nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa Trần Quốc Vượng trong sách Theo dòng
lịch sử - Những vùng đất, con người, tâm thức người Việt (2006) đã nêu lên mối
tương quan, tương tác giữa con người và tự nhiên, quan hệ nhiều tầng với tự nhiên
qua các thành tố Trời (không khí, gió, mưa, thời tiết), Đất (thổ nhưỡng), Nước
(sông, ngòi, đầm hồ, biển…) và phong thủy. Đó là những cơ sở mang tính thực tiễn
cao, có thể giúp làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu về các yếu tố thiên nhiên tác
động vào không gian ở.
Nhà nghiên cứu Văn hóa Huế Nguyễn Hữu Thông trong cuốn Nhà vườn xứ
Huế (2008) đánh giá, khảo tả về cội nguồn hình thành, loại hình, kết cấu, đặc điểm,
tâm thức người Huế, sự biến đổi… của những khuôn viên nhà vườn truyền thống
Huế dưới góc nhìn văn hóa và lý giải những vấn đề về bố cục, kỹ thuật, triết lý, con
người, kinh tế, xã hội… đặc biệt là sự gắn kết của người dân xứ Huế với thiên nhiên
thông qua ngôi nhà vườn. Đồng thời nêu lên những trăn trở cũng như một số đề
xuất trong việc giữ gìn những dấu ấn của một di sản vật thể.
Nhà nghiên cứu mỹ thuật Phan Cẩm Thượng trong sách Văn minh vật chất
của người Việt (2011) cũng đã chỉ ra rằng: “Xây dựng nhà cửa là nhu cầu tối thiểu
của một dân tộc đã có tổ chức xã hội. Quá trình đó không diễn ra một hai trăm năm
mà là hàng ngàn năm… qua những làng mạc tre nứa lá và đất đắp, những ngôi nhà
ngói sân gạch, những ngôi chùa kiến trúc gỗ… Bóc ra từng lớp kiến trúc, chúng ta
12

Nhà hoạt động văn hóa Nguyễn Cao Luyện trong cuốn Từ những mái nhà
tranh cổ truyền (1997) cho rằng: “Trong hiện thực Việt Nam, nếp nhà vốn dĩ là một
tổng quát những quan hệ giữa con người và thiên nhiên về mặt kiến trúc. Do đó, nó
không phải chỉ trơ trụi là một nếp nhà mà là cả một không gian kiến trúc đã thể hiện
cái khái niệm về ở của con người Việt Nam ngay giữa thiên nhiên Việt Nam”. [80,
Tr.19] Tác giả đã cho thấy thông qua nếp nhà dân gian (bao gồm cả khái niệm về tư
duy, tinh thần, cốt cách, thói quen… của con người) là mối quan hệ giữa con người
với thiên nhiên, là những kinh nghiệm, cách thức ông cha ta ứng xử và thích ứng
với thiên nhiên để dựng xây nơi trú ngụ cho mình.
Nghiên cứu về kiến trúc dân gian, lịch sử kiến trúc Việt Nam, có nhiều tác
giả và các công trình như: Tìm hiểu lịch sử kiến trúc Việt Nam (1986) của Ngô Huy
Quỳnh, Kiến trúc cổ Việt Nam (1990) của Vũ Tam Lang, Góp phần tìm hiểu bản
sắc kiến trúc truyền thống Việt Nam (2000) của Nguyễn Đức Thiềm đã dựa theo
tiến trình lịch sử để nhận dạng, tìm hiểu sâu về các loại hình kiến trúc qua các giai
đoạn của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là kiến trúc dân gian vùng
đồng bằng Bắc Bộ.
Nhà Dân tộc học Nguyễn Khắc Tụng qua hai tập Nhà ở cổ truyền các dân
tộc Việt Nam (1996) đã khắc họa được toàn cảnh những nét chính yếu về kiến trúc
dân gian Việt Nam. Dựa trên cơ sở mặt bằng sinh hoạt để phân ra các loại hình nhà
ở, tìm kiếm những yếu tố có tính tộc người trong ngôi nhà của các dân tộc, tìm hiểu
các đặc tính địa phương, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc. Nghiên cứu cũng cho
thấy những yếu tố chung hoặc khác biệt trong nhà ở các dân tộc trên cùng địa bàn
do chịu ảnh hưởng của điều kiện địa lý - khí hậu và nhất là điều kiện sản xuất,
phong tục tập quán và tâm lý tộc người. Những sơ đồ và khảo sát của ông giúp
chúng ta hiểu biết về nhà cửa các cư dân, qua đó cho thấy quá trình đấu tranh với
thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên để sinh tồn.
Tác giả Hàn Tất Ngạn trong Kiến trúc cảnh quan (1999) đã đưa ra những
khái niệm cơ bản về kiến trúc cảnh quan, mối quan hệ giữa không gian trống và
không gian có công trình xây dựng, lược khảo lịch sử hình thành và phát triển kiến
14


vườn cổ ở một số làng xã tại 3 miền Bắc Trung Nam. Đây là nguồn tài liệu có giá trị
khoa học giúp NCS tham khảo trong quá trình tiến hành điền dã phục vụ luận án.
Tác phẩm Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng
(2008) do nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền chủ biên đã bổ sung từ góc nhìn văn hóa
về kiến trúc truyền thống ở châu thổ sông Hồng, để nhận diện đầy đủ hơn về bản
sắc văn hóa dân tộc. Các tác giả đã phân tích các yếu tố chi phối quá trình tạo dựng
không gian cư trú truyền thống, mối quan hệ giữa tự nhiên với nơi ở, đánh giá hiệu
quả tổ chức làng xã và không gian cư trú của mỗi đơn vị cụ thể.
Trên đây là một số khái quát về các tài liệu và nghiên cứu có liên quan đến
đề tài luận án. Song vì văn hóa ứng xử là lĩnh vực rộng, có tính liên ngành nên trong
thời gian tương đối ngắn không thể có được sự tổnh hợp đầy đủ mọi khía cạnh của
lĩnh vực này. Phần tổng quan vừa nêu cũng cho thấy hướng nghiên cứu về văn hóa
ứng xử của người Việt với thiên nhiên nói chung và kiến trúc trong không gian ở
nói riêng vẫn còn trống một số phần có tính chuyên biệt. Các tài liệu, bài viết, các
bộ sưu tập, vẽ ghi về văn hóa cư trú, về kiến trúc truyền thống, phong tục tập quán,
tín ngưỡng… về cách thức người Việt ứng xử với thiên nhiên trong không gian ở đã
được nhiều tác giả trước đây thực hiện khá bài bản. Những thành quả đó là nguồn
tham khảo quan trọng về lượng thông tin, gợi mở những hướng tiếp cận mới cho
việc nghiên cứu và trình bày luận án của NCS.
3. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu
Nghiên cứu để nhận diện những đặc trưng về văn hóa ứng xử của con người
với thiên nhiên qua khai thác, ứng phó và thích ứng với thiên nhiên, thể hiện trong
không gian ở của người Việt tại ba miền Bắc, Trung, Nam.
Xác định các giá trị nổi bật và đặc tính cơ bản về văn hóa ứng xử với thiên
nhiên của người Việt trong không gian cư trú, làm rõ một phần nào đó bản sắc văn
hóa dân tộc thông qua nếp ở và văn hóa ở.

16

17

Phương pháp phân tích và tổng hợp (analysis and synthesis)
Trên cơ sở tổng hợp và hệ thống các tư liệu liên quan đến nhiều lĩnh vực
dưới góc nhìn từ các ngành khoa học (địa lý, sử học, dân tộc học, xã hội học, văn
hóa học, kiến trúc, mỹ thuật v.v…) để tìm hiểu không gian ở và một số nhà ở dân
gian hiện còn lưu giữ được. Sau đó tổng hợp, phân tích để có cái nhìn đầy đủ và
toàn diện về đối tượng nghiên cứu nhằm tìm ra các luận điểm khách quan về bản
chất và quy luật, sự chi phối, các biểu hiện, thông qua ba nhóm: địa hình (đất,
nước), khí hậu (nắng, gió) và thảm thực vật (cây xanh), là những yếu tố thường
xuyên có tác động quyết định đến không gian ở. Từ tài liệu thu thập được, việc đánh
giá, phân tích các thông tin một cách hệ thống, theo những trình tự logic khoa học là
bước làm hết sức cơ bản và cần thiết. Sự tổng hợp từ một tầm nhìn khái quát những
phân tích đó giúp cho người nghiên cứu có thể trình bày nội dung vấn đề được
mạch lạc, rõ ràng.
Phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu (observation participative)Thực tế cho thấy không thể tìm hiểu văn hóa chỉ dựa vào tài liệu của những
người đi trước. Tách khỏi bối cảnh thực tiễn sẽ khó có thể nhìn nhận đặc điểm văn
hóa của các dân tộc hay vùng miền. Vì vậy, bên cạnh nguồn tư liệu tham khảo, tác
giả luận án đã áp dụng phương pháp điều tra điền dã để khảo sát một số khu vực
còn nhiều dấu ấn về kiến trúc nhà ở truyền thống, quan sát các hình thức cư trú của
dân cư, lối kiến trúc, các biểu hiện thích ứng với thiên nhiên…, rồi dựa trên cơ sở
đó giải quyết các mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề.
NCS đã thực hiện khảo sát, lập bảng biểu, chụp ảnh, vẽ ghi, tập hợp và phân
loại không gian nhà ở tại một số địa phương như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội,
Thừa Thiên - Huế, Tiền Giang, Đồng Nai, Cà Mau v.v…, tìm hiểu và đánh giá về tổ
chức không gian làng, thiên nhiên trong một số nhà ở truyền thống các vùng miền,
tiếp cận trao đổi với cư dân ở những nhà được khảo sát và phỏng vấn các chuyên

không gian cư trú, qua đó khẳng định giá trị nổi trội và sự tồn tại lâu bền của văn
hóa ứng xử của người Việt.
19 Về giá trị thực tiễn
Hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng đến không gian ở để cung cấp thêm tài
liệu tham khảo khi trùng tu các di tích, nhà cổ hoặc xây dựng các ngôi nhà thuần
Việt theo hướng hiện đại. Cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và cán
bộ giảng dạy các trường kiến trúc, văn hóa nghệ thuật…
Góp một phần nào đó vào cơ sở nguyên lý cho công tác bảo tồn, phát huy
các giá trị văn hóa dân tộc, khắc phục những hạn chế trong việc chế ngự, cải tạo
thiên nhiên trên tinh thần sống thân thiện với môi trường.
Đóng góp một số ý kiến vào tiến trình tìm đến một nền văn hóa có bản sắc
Việt trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung và kiến trúc nói riêng trong quá trình xây
dựng các khu cư dân nông thôn hiện nay.
6. Cấu trúc và quy cách trình bày luận án
Luận án gồm 168 trang, nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1 (46 trang) Một số lý thuyết và hướng tiếp cận văn hóa ứng xử với
thiên nhiên của người Việt
Chương 2 (50 trang) Văn hóa ứng xử với yếu tố thiên nhiên trong không gian
ở truyền thống của người Việt tại ba miền.
Chương 3 (50 trang) Nhận diện đặc trưng văn hóa ứng xử với thiên nhiên từ
việc nghiên cứu không gian ở của người Việt.
Ngoài ra còn có phần dẫn luận, kết luận, kiến nghị, các phụ lục và danh mục
tài liệu tham khảo.
Bản vẽ, ảnh chụp của các tác giả khác đều được ghi rõ nguồn. Toàn bộ số
bản vẽ, ảnh chụp và biểu bảng còn lại là của tác giả luận án.
20


hội). Ứng xử là có thái độ, hành vi thích hợp với xung quanh.
Trong ngành khoa học tâm lý, các nhà tâm lý học có cách nhìn nhận về bản
chất ứng xử của con người với nhiều chiều kích, phần lớn quan tâm đến ứng xử, đến
mối quan hệ và đối xử đối xử giữa những con người với nhau. Ngoài ra, đối tượng
ứng xử không chỉ giữa con người với nhau mà còn có quan hệ ứng xử giữa con
người với thế giới tự nhiên, với thiên nhiên…
Văn hóa
Có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về văn hóa. Vào cuối thế kỷ
trước, các nhà nghiên cứu đã đúc rút được 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Về
sau, con số này lên tới 400, 500 và nay đã là con số hàng ngàn. [109, tr.30]
Hiểu một cách cô đọng, văn hóa là toàn bộ các giá trị vể vật chất và tinh thần
mà con người sáng tạo ra trong suốt quá trình tồn tại của mình. Nó là cả một hệ
thống các giá trị xã hội, tư tưởng (văn học, nghệ thuật, tín ngưỡng…), tinh thần, vật
chất, khoa học kỹ thuật được bảo tồn và tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác.
E.B Tylor trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy đã đưa ra một khái niệm về
văn hóa là “Một toàn thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân
lý, luật pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác nhau và những tập quán
khác nhau mà con người như một thành viên của xã hội có được”[103, tr.451]. Điều
đó cho thấy tư tưởng và tri thức là những thành tố quan trọng của văn hóa, chi phối
hệ thống hành vi, ứng xử của con người đối với nhau và đối với thế giới tự nhiên.
Hệ thống ứng xử này là những tín hiệu mang tính biểu trưng, những khuôn mẫu ứng
xử, phụ thuộc vào môi trường sống mà có những biểu hiện khác nhau ở từng xã hội,
từng thời kỳ, thông qua những cách thức thích ứng, ứng phó của con người để thích
nghi với môi trường sống, hình thành những giá trị bản sắc văn hóa khác nhau.
Julian Steward đã cho rằng: “Văn hóa như là phương tiện thích ứng với môi
trường” do vậy cần phải nghiên cứu những mối quan hệ giữa môi trường, con người
và văn hóa [54, tr.7]. Luận án bàn về mối quan hệ giữa văn hoá và môi trường (bao
22

hàm không gian cư trú) nên có thể lựa chọn khái niệm văn hoá trên quan điểm của

23

Luận án cũng dùng thuật ngữ văn hóa để giới thiệu một số khái niệm mang
tính tiếp cận đến bản chất ứng xử của văn hóa qua tiếp cận hoạt động và tiếp cận
giá trị, từ đấy có một cái nhìn hệ thống về văn hóa ứng xử thể hiện qua sự thích ứng
đặc biệt của con người với môi trường tự nhiên cũng như là các hoạt động sáng tạo,
để rồi tìm kiếm hệ giá trị và những tri thức dân gian của người xưa trong việc ứng
xử với thiên nhiên.
Văn hóa ứng xử
Như đã trình bày trên về khái niệm ứng xử và văn hóa, văn hóa cũng có thể
được xem như một khái niệm để nhận dạng và đánh giá phẩm chất thể hiện được
giá trị về vật chất hay tinh thần do con người tạo ra. Những ứng xử có giá trị cho
cuộc sống con người, được lập đi lập lại, hình thành những giá trị truyền thống của
ứng xử và sẽ kết thành giá trị văn hóa - ứng xử có văn hóa. Có những ứng xử không
có giá trị hay không mang lại lợi ích cho cuộc sống con người sẽ bị đào thải. Luận
án tiếp cận đến bản chất ứng xử của văn hóa thông qua các biểu hiện ứng xử với
thiên nhiên trong không gian ở, từ đấy có một cái nhìn hệ thống, có sự đúc rút về
văn hóa ứng xử với thiên nhiên trong không gian ở.
Văn hoá còn bao gồm những hệ thống hành vi, ứng xử của con người đối với
nhau và đối với tự nhiên (cách thức sản xuất, tôn giáo, phong tục tập quán, nghệ
thuật…) biểu hiện qua những tín hiệu mang tính biểu trưng. Tuy nhiên, tuỳ theo hệ
tư tưởng về bản thể luận (ontology), vũ trụ luận (cosmology) của từng xã hội, từng
thời kỳ mà cách thức biểu tượng hoá và ý nghĩa của các khuôn mẫu ứng xử ấy có sự
khác nhau.
Văn hóa ứng xử gồm hai nội dung cơ bản: văn hóa ứng xử với tự nhiên, văn
hóa ứng xử với xã hội.
1.1.2. Không gian ở
Không gian ở là khái niệm dùng để chỉ một tổ hợp hàm chứa các không gian
chức năng sinh sống của con người. Đó là không gian kiến trúc (ngôi nhà), không
gian sinh hoạt, không gian kinh tế, không gian văn hóa, không gian tâm linh Có

25

kiến trúc và mỹ thuật cổ truyền… phản ánh rõ rệt trình độ kinh tế, xã hội và văn hóa
của một địa phương vào một thời điểm nhất định.” [132 tr.152]
Ngôi nhà là hạt nhân hình thành nên cơ cấu làng xóm và các đơn vị dân cư.
Bên cạnh chức năng về vật chất, ngôi nhà còn thể hiện sở hữu riêng tư, độc lập
trước xã hội của một hay nhiều cá nhân có mối liên hệ ruột thịt về tình cảm, vật chất
và tinh thần. Các nhà nghiên cứu kiến trúc dân gian trước đây đã đưa ra khái niệm
về không gian ở như là nếp nhà. Như tác giả Nguyễn Khắc Tụng đã khái quát “Nhà
ở là một phức hợp sinh hoạt - văn hóa của các cư dân, hay cũng có thể nói là một
không gian văn hóa…” hay nhà như là một “tổ hợp sinh hoạt và văn hóa”. Nhà là
một không gian văn hóa” [134, tr.230]. Nói về nếp nhà, tác giả Nguyễn Cao Luyện
cho rằng: “…nếp nhà là kết quả của những cách thức mà con người đã quan hệ với
thiên nhiên ngay trên đất nước quê hương qua các giai đoạn lịch sử cụ thể.” [80, tr.
24]. Xây dựng xong ngôi nhà, khi con người vào sinh sống mới hình thành nếp
sống, sinh hoạt, khi ấy tạo nên chất văn hóa trong mỗi nếp nhà. Những khái niệm về
nhà ở nêu trên cho thấy thuộc tính văn hóa của không gian ở và con người tạo ra
chúng. Ngôi nhà ở đây còn hàm chứa những ý nghĩa và giá trị tinh thần của các
thành viên sống trong đó.
Khuôn viên là phần đất xung quanh nhà có ranh giới xác định, có chủ sở hữu.
Trong khuôn viên nhà nông thôn, ngoài nhà chính còn có cổng, tường rào, sân, ao,
giếng, chuồng nuôi gia súc, cây ăn trái, cây lấy gỗ, cây cảnh… và các công trình
phụ kết hợp làm kinh tế gia đình. Những thành phần đó cho thấy cách tổ chức cuộc
sống, trình độ văn hóa, thẩm mỹ… thể hiện qua giao tiếp với môi trường thiên
nhiên của chủ khuôn viên.
Truyền thống là hành vi lưu truyền (tiếng La tinh là tradition: chuyển sang
cho người khác, giao, trao). Ý niệm truyền thống của R. Aileau là “sự trung gian và
tích hợp các văn hóa, sự tái sáng tạo các giá trị của một cộng đồng”. Littré nhà ngôn
ngữ học và nhà triết học thực chứng người Pháp - tác giả của cuốn Từ điển ngôn
ngữ Pháp (Dictionnaire le Langue Francaise) nổi tiếng - cho rằng truyền thống là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status