ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Võ Thị Thu Thủy
VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI THIÊN NHIÊN
QUA KHÔNG GIAN Ở CỦA NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62.31.70.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS.KTS. HOÀNG ĐẠO KÍNH
PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP
1. TS. ĐỖ NGỌC ANH
2. PGS.TS NGUYỄN TRI NGUYÊN
PHẢN BIỆN
1. PGS.TS PHAN THỊ THU HIỀN
2. PGS.TS LÊ THANH SƠN
3. PGS.TS TRẦN HỒNG LIÊN
TP. Hồ Chí Minh – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
1.1.4. Văn hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở ............................... 27
1.2. Các lý thuyết tiếp cận đề tài nghiên cứu ...................................................... 29
1.2.1. Thuyết hành vi và văn hóa ứng xử ....................................................... 30
1.2.2. Địa - văn hóa ....................................................................................... 32
1.2.3. Sinh thái văn hóa ................................................................................. 33
1.2.4. Giao lưu tiếp biến văn hóa ................................................................. 36
1.3. Cách thức và trình tự nghiên cứu vấn đề .................................................... 41
1.3.1. Cách thực hiện và xác lập các tiêu chí điều tra khảo sát ....................... 41
1.3.2. Trình tự xem xét và mô tả yếu tố thiên nhiên trong không gian ở truyền
thống. ................................................................................................. 44
1.4. Những đặc điểm cơ bản của thiên nhiên Việt Nam ..................................... 45
1.4.1. Điều kiện địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên Việt Nam ................. 46
1.4.2. Những thuận lợi và bất lợi về điều kiện tự nhiên ................................. 47
1.5. Yếu tố lịch sử - kinh tế - xã hội..................................................................... 49
1.5.1. Đặc điểm lịch sử tác động đến xã hội truyền thống Việt ...................... 49
1.5.2. Tác động của kinh tế và phương thức sản xuất đến không gian ở......... 51
1.5.3. Đặc điểm về hệ tư tưởng, tôn giáo tín ngưỡng, tập quán lối sống ảnh
hưởng đến tổ chức không gian ở. ........................................................ 52
1.5.4. Vai trò của làng xã trong xã hội Việt Nam truyền thống. ..................... 59
CHƯƠNG 2
VĂN HÓA ÚNG XỬ VỚI YẾU TỐ THIÊN NHIÊN TRONG KHÔNG GIAN
Ở TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI BA MIỀN
2
2.1. Ứng xử với thiên nhiên trong không gian ở của cư dân đồng bằng BắcBộ 65
2.1.1. Đặc điểm thiên nhiên - xã hội .............................................................. 65
2.1.2. Đặc điểm về cấu trúc và hình thái các làng điển hình Bắc Bộ .............. 66
2.1.3. Đặc điểm về tổ chức không gian ở của cư dân đồng bằng Bắc Bộ ....... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 169
PHỤ LỤC ..............................................................................................................183
3
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
Con người là thành phần không tách lìa khỏi thiên nhiên, sống trong thiên
nhiên, dựa nhờ và bổ sung cho thiên nhiên, cộng sinh với thiên nhiên. Hành động
trong sự nhận thức bởi trí tuệ trở thành ứng xử. Sự ứng xử, cách ứng xử với thiên
nhiên, bởi sự tiến hóa của văn minh, trở thành văn hóa ứng xử với thiên nhiên. có
những cộng đồng ứng xử với thiên nhiên như trong phạm vi khuôn viên cư trú của
gia đình, trong phạm vi một xóm làng cùng vùng đất canh tác hoặc sản xuất bao
quanh, trong phạm vi một quốc gia và ở thời đại chúng ta, trong phạm vi toàn cầu.
Văn hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở của người Việt là hệ giá trị trong
tổng thể các hệ giá trị văn hóa của người Việt. Trong lĩnh vực văn hóa vật thể, việc
kiến thiết các không gian ở là nhằm mục đích tự bảo vệ, đồng thời thể hiện thái độ,
nhận thức và hành vi của con người trước thiên nhiên, tạo nên nếp văn hóa ứng xử
gắn với tập quán tín ngưỡng, thị hiếu của mỗi dân tộc và trở thành giá trị nhân văn
trong tiến trình xã hội tự hoàn thiện mình.
Chính sự dị biệt về văn hóa ứng xử với thiên nhiên (khí hậu, địa hình địa
mạo…) tại các địa phương khác nhau trên hành tinh trong cách tổ chức ăn ở và mưu
sinh đã làm nảy sinh ra các nền văn minh, văn hóa khác nhau. Làm bộc lộ những
đặc thù văn hóa ấy là công việc khoa học thường xuyên của các nhà nghiên cứu. Nó
góp phần giúp cho mỗi quốc gia và mỗi dân tộc có thể hiểu rõ chính mình, hiểu rõ
giá trị văn hóa mà dân tộc ấy từng dày công xây dắp qua suốt quá trình lịch sử.
Trong lịch sử lâu dài của dân tộc Việt Nam, cha ông ta đã dựa vào thiên
nhiên để sinh tồn, tạo dựng được một quốc gia độc lập và một nền văn minh như
ngày nay. Tìm hiểu để kế thừa và phát triển những kinh nghiệm từ truyền thống ứng
người thể hiện văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên một cách đa dạng.
Học giả Philippe Papin trong sách Việt Nam, cuộc hành trình một dân tộc đã
nhận xét: “Việt Nam thiện xảo bậc thầy trong nghệ thuật dung hóa, hòa đồng và hội
nhập tất cả những gì đã áp đặt trên dân tộc này qua bao thời kỳ khác nhau. Tiếp cận
những vấn đề rất khác nhau này dưới góc độ văn hóa - lịch sử là cách thức duy nhất
giúp ta thấu hiểu những động lực tiềm tàng về sự độc đáo của dân tộc Việt”.
5
Văn hóa ứng xử hiện diện trên nhiều mặt, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
là hệ giá trị trong tổng thể các giá trị văn hóa - nhân văn của người Việt. Đi tìm các
đặc trưng trong văn hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở, qua đó làm nổi
bật những giá trị văn hóa hàm chứa bên trong cách ứng xử ấy. Việc nghiên cứu văn
hóa ứng xử với thiên nhiên có khả năng bổ sung một phần đáng kể những mặt hiện
còn thiếu trong lĩnh vực học thuật.
Tuy chưa có điều kiện đi sâu vào lĩnh vực này, song trong quá trình công tác
và giảng dạy, tác giả luận án đã quan tâm và mong muốn được thâm nhập trong
chừng mực có thể vào đề tài này. Bên cạnh đó sự quan sát, nhìn nhận và luận giải
những đặc điểm, đặc trưng trong việc ứng xử với thiên nhiên trong không gian ở
của cha ông trên các phương diện khai thác, ứng phó, thích nghi ..., qua đó làm rõ
bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, trang trí mỹ thuật v.v... Đó là lý do để NCS
mạnh dạn chọn đề tài “Văn hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở của người
Việt” làm luận án tiến sĩ ngành Văn hóa học, góp phần nhận diện đặc trưng văn hóa
ăn ở trong môi trường thiên nhiên giầu tiềm năng và đầy biến động của người xưa.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách, bài viết khảo cứu về ứng xử của
con người với môi trường tự nhiên và xã hội Việt Nam dưới góc nhìn từ các ngành
khoa học (địa lý, sử học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, kiến trúc, mỹ thuật
v.v…) của nhiều nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước.
Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Thị Yến Tuyết trong Nhà ở, trang phục, ăn
uống của các dân tộc vùng ĐBSCL (1993) từ góc nhìn dân tộc học đã mô tả một
cách tường tận về kiến trúc nhà ở dân gian của người Việt, Hoa và Khmer, như một
dạng thức có tính tổng hợp chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường sinh thái, hoạt
động kinh tế xã hội và phản ánh khá sâu về địa vị xã hội cũng như quan niệm thẩm
mỹ, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục… của chủ nhân các ngôi nhà Nam bộ. Tác giả
đã so sánh và đưa ra nét đặc trưng, các yếu tố ảnh hưởng qua lại giữa các dân tộc
miền Bắc và miền Trung trong kiến trúc nhà ở có khả năng chống chọi, ứng phó với
thiên nhiên. Công trình nghiên cứu này có tính thực tiễn cao, là tài liệu tham khảo
quý giá về các lý thuyết tiếp cận văn hóa, phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và
so sánh vùng miền rất cần thiết và bổ ích cho luận án.
7
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1997) nhà nghiên cứu Trần
Ngọc Thêm đề cập nhiều vấn đề của cuộc sống và con người Việt Nam từ góc nhìn
văn hóa học. Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt được thể hiện
qua việc đối phó với thời tiết, khí hậu, bằng các hình thức xây dựng nhà thể hiện
trong cấu trúc, chọn hướng nhà, chọn đất, chọn vật liệu..., nêu bật những đặc tính về
hình thức kiến trúc thể hiện tính động, tĩnh, sự hài hòa, tính linh hoạt và vận dụng
tối đa nguồn lợi của thiên nhiên. Tác giả đã chiêm nghiệm sâu sắc về cội nguồn văn
hóa nông nghiệp cùng với tâm thức người Việt, những ảnh hưởng từ triết lý âm
dương, những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống trong kiến trúc của dân tộc
Nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa Trần Quốc Vượng trong sách Theo dòng
lịch sử - Những vùng đất, con người, tâm thức người Việt (2006) đã nêu lên mối
tương quan, tương tác giữa con người và tự nhiên, quan hệ nhiều tầng với tự nhiên
qua các thành tố Trời (không khí, gió, mưa, thời tiết), Đất (thổ nhưỡng), Nước
(sông, ngòi, đầm hồ, biển…) và phong thủy. Đó là những cơ sở mang tính thực tiễn
cao, có thể giúp làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu về các yếu tố thiên nhiên tác
Về lĩnh vực kiến trúc
Do những hoàn cảnh nhất định mà việc lưu truyền kinh nghiệm dân gian về
ứng xử với thiên nhiên gần như tự phát, truyền miệng nên khó có thể tập hợp và hệ
thống để có một cái nhìn tổng thể. Có một số tài liệu do các tác giả nước ngoài sưu
tầm về kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật truyền thống trong xây dựng nhà cửa, phong
tục, tín ngưỡng… của người Việt khá đầy đủ, công phu như của Pierre Gourou
(1936), Leopold Cadière (1994), hay bộ tạp chí Những người bạn cố đô Huế
(B.A.V.H.) (2000) là những nguồn tham khảo có giá trị. Bộ sách 3 tập Kỹ thuật của
người An Nam (2009) của Henri Oger chứa đựng hàng trăm hình vẽ về kiểu nhà ở,
không gian cư trú của người Việt ba miền. Nhiều hình ảnh trong sách nay có thể
không còn thấy ở Việt Nam. Đây là những tài liệu rất bổ ích cho những nhà nghiên
cứu văn hóa nói chung và kiến trúc truyền thống nói riêng.
Nhà ở truyền thống là mảng đề tài đã có nhiều tác giả và công trình nghiên
cứu trong các ngành khoa học dân tộc học, văn hóa học, kiến trúc, lịch sử…
9
Nhà hoạt động văn hóa Nguyễn Cao Luyện trong cuốn Từ những mái nhà
tranh cổ truyền (1997) cho rằng: “Trong hiện thực Việt Nam, nếp nhà vốn dĩ là một
tổng quát những quan hệ giữa con người và thiên nhiên về mặt kiến trúc. Do đó, nó
không phải chỉ trơ trụi là một nếp nhà mà là cả một không gian kiến trúc đã thể hiện
cái khái niệm về ở của con người Việt Nam ngay giữa thiên nhiên Việt Nam”. [80,
Tr.19] Tác giả đã cho thấy thông qua nếp nhà dân gian (bao gồm cả khái niệm về tư
duy, tinh thần, cốt cách, thói quen… của con người) là mối quan hệ giữa con người
với thiên nhiên, là những kinh nghiệm, cách thức ông cha ta ứng xử và thích ứng
với thiên nhiên để dựng xây nơi trú ngụ cho mình.
Nghiên cứu về kiến trúc dân gian, lịch sử kiến trúc Việt Nam, có nhiều tác
giả và các công trình như: Tìm hiểu lịch sử kiến trúc Việt Nam (1986) của Ngô Huy
Quỳnh, Kiến trúc cổ Việt Nam (1990) của Vũ Tam Lang, Góp phần tìm hiểu bản
Kiến trúc sinh thái cũng là mảng đề tài chiếm nhiều tâm huyết của ông qua nhận
định: “Cần coi kiến trúc, hiểu theo nghĩa rộng, là tài nguyên thứ hai sau thiên nhiên.
Kiến trúc phải hòa đồng với thiên nhiên, lấy sự thích ứng và ứng phó mềm làm
phương châm trong ứng xử với thiên nhiên; đặt các hoạt động kiến trúc vào nhiệm
vụ trọng đại là chữa trị và ở mức độ có thể; hồi phục thiên nhiên”. Những ý
tưởng này đã mở ra cho luận án một số vấn đề mới trong hướng nghiên cứu về văn
hóa ứng xử với thiên nhiên qua không gian ở của người Việt.
Một công trình nghiên cứu khoa học (đề tài cấp Nhà nước) do trường Đại
học Kiến trúc Hà Nội thực hiện Mô hình và giải pháp Quy hoạch - Kiến trúc các
vùng sinh thái đặc trưng ở Việt Nam (2003) đã đưa ra tầm nhìn toàn cảnh cho việc
tiếp cận văn hóa ứng xử với thiên nhiên từ mục tiêu đi tìm bản sắc các vùng miền.
Với 11 đề tài nhánh tiến hành tại 22 địa điểm ở khắp Bắc Trung Nam, trong đó có
Bắc Ninh, Hưng Yên, Thừa Thiên - Huế và đồng bằng Nam Bộ, đề tài đã phân chia
cả nước thành 8 vùng sinh thái Quy hoạch - Kiến trúc và làm rõ những đồng nhất
hoặc khác biệt giữa các vùng này. Đây cũng là một tài liệu có thể giúp ích cho tác
giả luận án tham khảo [148].
Chương trình hợp tác giữa Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin và
Trường đại học nữ Showa - Nhật Bản Nghiên cứu điều tra nhà ở dân dụng truyền
thống (2004) đã khảo sát, vẽ ghi hiện trạng mặt bằng tổng thể khuôn viên nhà và
11
vườn cổ ở một số làng xã tại 3 miền Bắc Trung Nam. Đây là nguồn tài liệu có giá trị
khoa học giúp NCS tham khảo trong quá trình tiến hành điền dã phục vụ luận án.
Tác phẩm Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng
(2008) do nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền chủ biên đã bổ sung từ góc nhìn văn hóa
về kiến trúc truyền thống ở châu thổ sông Hồng, để nhận diện đầy đủ hơn về bản
sắc văn hóa dân tộc. Các tác giả đã phân tích các yếu tố chi phối quá trình tạo dựng
không gian cư trú truyền thống, mối quan hệ giữa tự nhiên với nơi ở, đánh giá hiệu
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đề cập và nghiên cứu văn hóa ứng xử với thiên nhiên trong phạm
vi nhỏ nhất - khuôn viên cư trú gia đình người Việt (dân tộc Kinh) truyền thống,
trên địa bàn nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng vùng duyên hải Trung bộ
và đồng bằng Nam Bộ. (Luận án không đề cập đến không gian ở và kiến trúc các
dân tộc thiểu số)
Về thời gian: chủ yếu xem xét nhà ở truyền thống hiện hữu từ nửa cuối cuối
thế kỷ XIX, được xây dựng khoảng 100 năm. Đây là giai đoạn còn lưu giữ được khá
nhiều kiến trúc nhà ở truyền thống của dân tộc, cũng là giai đoạn phản ánh sâu sắc
cách thức ứng xử với thiên nhiên trong không gian ở.
Luận án không đề cập nhiều đến làng xã là những không gian cư trú vĩ mô.
Các chuyên đề khoa học liên quan đến ứng phó với thiên nhiên (thiên tai lũ,
lụt), khí hậu (nóng, lạnh)… đã được nhiều học giả thuộc chuyên ngành vật lý kiến
trúc đề cập. Vì vậy ở đây chỉ trình bày vắn tắt về chuyên ngành này khi cần thiết.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng một số phương pháp
Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary)
Trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn dưới góc nhìn văn hóa học một khoa học ráp gianh giữa khoa học xã hội và nhân văn. Phương pháp này được
tổng hợp cùng nhiều phương pháp cụ thể như:
13
Phương pháp phân tích và tổng hợp (analysis and synthesis)
Trên cơ sở tổng hợp và hệ thống các tư liệu liên quan đến nhiều lĩnh vực
dưới góc nhìn từ các ngành khoa học (địa lý, sử học, dân tộc học, xã hội học, văn
hóa học, kiến trúc, mỹ thuật v.v…) để tìm hiểu không gian ở và một số nhà ở dân
gian hiện còn lưu giữ được. Sau đó tổng hợp, phân tích để có cái nhìn đầy đủ và
toàn diện về đối tượng nghiên cứu nhằm tìm ra các luận điểm khách quan về bản
chất và quy luật, sự chi phối, các biểu hiện, thông qua ba nhóm: địa hình (đất,
tự nhiên (tính thích nghi với điều kiện địa lý, khí hậu), kinh tế (chức năng sinh lợi
của không gian ở), xã hội (lối sống và nhận thức), kỹ thuật (vật liệu và kỹ thuật xây
dựng), yếu tố thẩm mỹ (bố cục, tỉ lệ, màu sắc, hình thức, thành phần trang trí).
Dựa trên nhóm tiêu chí khảo sát về tổ chức thiên nhiên trong không gian ở mặt bằng tổng thể, thiên nhiên trong kiến trúc nội ngoại thất, tác động của địa lý khí hậu - lịch sử - xã hội để chọn ra những ngôi nhà đáp ứng các nội dung sau:
- Có qui mô và tổng thể hoàn chỉnh
- Bảo lưu được khuôn viên với các công trình phụ, tình trạng bảo tồn tốt
- Kiến trúc có yếu tố trang trí tạo hình và thẩm mỹ
Kết quả thu được từ các đợt khảo sát thực tế cho thấy những nét đặc trưng
của từng miền, rút ra những quy luật, giá trị và tri thức dân gian cũng như tác
động của tự nhiên, môi trường sinh thái đến việc quyết định cách lựa chọn và thích
ứng trong kiến trúc nhà ở truyền thống.
5. Kết quả và đóng góp mới của luận án
Về giá trị khoa học
Qua khảo sát, tổng hợp thông tin, hình ảnh (phỏng vấn, vẽ ghi, ảnh chụp)
liên quan, từ đó phác họa quá trình tiếp cận, khai thác và thích nghi với thiên nhiên
của người Việt.
Định dạng và nhận biết những đặc điểm tương đồng hoặc khác biệt trong
ứng xử với thiên nhiên ở mỗi miền, lý giải vai trò, giá trị và tác động dẫn đến cách
ứng xử với thiên nhiên (cảnh quan, môi trường, khí hậu, kiến trúc, tôn giáo…) trong
không gian cư trú, qua đó khẳng định giá trị nổi trội và sự tồn tại lâu bền của văn
hóa ứng xử của người Việt.
15
Về giá trị thực tiễn
Hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng đến không gian ở để cung cấp thêm tài
liệu tham khảo khi trùng tu các di tích, nhà cổ hoặc xây dựng các ngôi nhà thuần
Việt theo hướng hiện đại. Cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và cán
bộ giảng dạy các trường kiến trúc, văn hóa nghệ thuật…
1.1. Khái niệm
1.1.1. Ứng xử và văn hóa ứng xử
Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh (1992) thì từ ứng: đáp lại; và xử có
nghĩa là quyết đoán. Từ điển Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) cho nghĩa xử
là đối đãi. Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (1992) thì xử có nghĩa “Hành
động theo cách nào đó thể hiện thái độ đối với người khác trong một hoàn cảnh cụ
thể nhất định”.
Khái niệm ứng xử (etiquette), cách ứng xử liên quan đến các tương tác xã hội
trong phạm vi chuẩn mực văn hóa, đề cập đến các quy tắc ứng xử với các hình thức
truyền thống và tập quán [179] là cách cư xử, là hành vi (cho con người) và nghĩa
tập tính trong sinh vật học, đồng nghĩa có từ tiếng Anh comportement ( hay
conduite trong tiếng Pháp) được xem là hành vi, sự tiếp nhận, tác động từ bên
ngoài. Consciousness chỉ hành động mà biết rõ ảnh hưởng hay kết quả của việc
mình làm, là loại hành vi có ý thức, có chủ định, có độ phức tạp và cao cấp, bị chi
phối bởi lý trí.
Bách khoa toàn thư Xô Viết định nghĩa về từ ứng xử: Hệ thống các hệ tương
tác, các phản ứng được thực hiện bởi các vật thể sống để thích nghi với môi trường.
Ứng xử (hành vi, tập tính) của động vật và con người được nghiên cứu bởi các
ngành tập tính học, tâm lý học, xã hội học [6]. Ứng xử được xem là một hệ thống
17
quan hệ tương tác giữa sinh vật (kể cả con người) và môi trường. (tự nhiên và xã
hội). Ứng xử là có thái độ, hành vi thích hợp với xung quanh.
Trong ngành khoa học tâm lý, các nhà tâm lý học có cách nhìn nhận về bản
chất ứng xử của con người với nhiều chiều kích, phần lớn quan tâm đến ứng xử, đến
mối quan hệ và đối xử đối xử giữa những con người với nhau. Ngoài ra, đối tượng
ứng xử không chỉ giữa con người với nhau mà còn có quan hệ ứng xử giữa con
người với thế giới tự nhiên, với thiên nhiên…
cứu cách ứng xử trong vấn đề nào thì cũng có nghĩa là nghiên cứu khía cạnh văn
hóa của vấn đề ấy. Tác giả Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa về văn hóa là một hệ
thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua
quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội
của mình [109, tr.55]
Văn hóa cũng có thể được xem như một khái niệm để nhận dạng và đánh giá
phẩm chất đạo đức tự nhiên hay tự tạo của con người hay những sản phẩm thể hiện
được giá trị văn hóa do con người tạo ra (như mỹ thuật, kiến trúc, âm nhạc, văn
học…). Mặt khác, các nền văn hóa khác nhau đều có những giá trị và chuẩn mực
tạo nên bản sắc riêng. Theo tác giả Phan Ngọc thì “...văn hóa dưới hình thức dễ
nhận thấy nhất biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người,
khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác ” [85, tr.17].
Tiếp cận văn hóa với khái niệm khoa học - triết học, theo tác giả Hồ Bá
Thâm có bốn đặc trưng cơ bản :
- Tiếp cận hoạt động: Xem văn hóa là tòan bộ họat động của con người
trong các mối quan hệ (tự nhiên, xã hội, bản thân)
- Tiếp cận giá trị : Văn hóa là chân - thiện - mỹ
- Tiếp cận phát triển: Văn hóa sẽ là sáng tạo và phát triển, đặc biệt là phát
triển năng lực con người.
- Tiếp cận công nghệ: Văn hóa là phương thức tồn tại, sinh sống và phát
triển của con người.
19
Luận án cũng dùng thuật ngữ văn hóa để giới thiệu một số khái niệm mang
tính tiếp cận đến bản chất ứng xử của văn hóa qua tiếp cận hoạt động và tiếp cận
thể hiểu theo một nghĩa tương ứng khác: đó là không gian sống (living space)
của mỗi gia đình với ngôi nhà và khu vườn hoàn toàn độc lập với các không gian
sống của gia đình khác. Trong khái niệm này, không gian kiến trúc - ngôi nhà, nhà
ở (residence) - là thành phần quan trọng nhất, là một cấu trúc phục vụ nhu cầu ở,
nơi để ở, có người sống hoặc trú ngụ [Encyclopedia of Cultural Anthropology
(1,2,3,4) - 173]. Trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam, ông bà ta có dùng từ “thổ cư”
để chỉ phần đất ở của một gia đình; “Thổ cư của một gia đình thường gồm nhà
chính, nhà phụ, nhà bếp, chuồng trâu bò, vườn, ao” [132, tr.162].
Không gian ở nghiêng nhiều về thuộc tính của vật chất với nghĩa là một nơi
trú ngụ. “Thoạt tiên, nhà ở chỉ đơn thuần là một nơi trú thân đơn giản, nhằm bảo vệ
con người chống lại những bất lợi của điều kiện thiên nhiên hoang dã như nắng,
mưa, tuyết, gió, lũ, bão, thú rừng… Dần dần nó đã cho từng con người và mỗi gia
đình những điều kiện thuận lợi để nghỉ ngơi, tái hồi phục sức lao động, sinh con đẻ
cái nhằm bảo vệ nòi giống, tiến đến có thể làm kinh tế để sinh tồn và phát triển”
[113, tr. 5]. Xây dựng một không gian ở hội tụ nhiều yếu tố, cho phép thu hẹp hay
mở rộng các hình thức, khả năng tương tác với xã hội. Việc bố trí đồ đạc, sắp đặt
trang trí trong nhà (nội thất), sân vườn (ngoại thất), cảnh quan… đều có tác động và
ảnh hưởng nhất định đến con người và quan hệ của họ với xã hội.
Không gian ở ban đầu chỉ là nơi để ăn ở, nghỉ ngơi (giá trị vật chất), các hoạt
động này kéo dài trong nhiều năm, trong suốt quá trình sống của mỗi một con
người. Do vậy nó còn thể hiện tình cảm gia đình, làng xóm, đạo đức, phong tục tập
quán, triết lý sống, thẩm mỹ, nghệ thuật, kiến thức khoa học, tôn giáo tín ngưỡng…
Nhà ở dân gian là không gian cư trú chính của người dân quê - tổ ấm gắn bó
nhiều mặt của các thành viên trong quan hệ gia đình, thân tộc để từ đó mở ra quan
hệ với xóm giềng, làng nước. Nơi sinh ra, nuôi dưỡng và hình thành đầu tiên nhân
cách; nơi lưu giữ và trao truyền những giá trị văn hoá của thế hệ này cho thế hệ
khác; nơi tổ chức những hoạt động kinh tế và các hoạt động sinh sống của mọi
người trong gia đình. “Ngôi nhà là nơi tụ hợp những kiến thức dân gian về kỹ thuật
“Tất thảy những gì người ta biết hoặc làm theo, tức là bằng một sự lưu truyền từ thế
22
hệ này sang thế hệ nọ nhờ ở lời nói hay làm mẫu”. Hàm ẩn trong khái niệm truyền
thống là nghĩa “trao - truyền” liên quan đến vật được trao và hành vi truyền giao
giữa các chủ thể. “Truyền” nghĩa là làm tồn tại cái gì đã từng tồn tại, còn “bảo lưu"
là “giữ gìn cái đã được truyền” [103, Tr. 392].
Mỗi nền văn hóa thường thích nghi với một môi trường tự nhiên nhất định,
theo truyền thống riêng, phù hợp với các điều kiện sinh tồn có tính khu biệt của nền
văn hóa ấy. Truyền thống không chỉ giới hạn ở sự bảo tồn và lan truyền những giá
trị đã được kết tinh ở một lĩnh vực nào đó có ích lợi và được cộng đồng công nhận.
Nó không chỉ là các sự kiện, các học thuyết, hệ ý thức, các phong tục hay thiết
chế… mà còn hàm chứa những giá trị tiếp nối được kế thừa, phát huy từ truyền
thống để trở thành giá trị mới theo thời gian. Do vậy, “Truyền thống không chỉ là
cái trung gian và cái tích hợp bức thiết đối với mọi nền văn hóa. Bằng cách bảo tồn
và truyền lại cái mình biết, một cộng đồng “tự tái sáng tạo” bản thân nó và “làm
thành mới” cái nó đã từng là theo như nó muốn.”[103, tr.397]
Tìm hiểu về nguồn gốc nhà ở - không gian ở truyền thống của người Việt là
công việc không đơn giản, vì những tài liệu về khảo cổ học trong lĩnh vực này khá
hạn hẹp. Vật liệu xây dựng có nguồn gốc tự nhiên có thể là một trong những lý do
làm cho kiến trúc cổ còn lại đến ngày nay không nhiều, hay nói đúng hơn là không
còn tồn tại. “Nền kiến trúc của dân tộc Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm. Kiến
trúc Việt chủ yếu là kiến trúc gỗ. Vật liệu gỗ, dù là tứ thiết cũng ít khả năng đề
kháng trước độ ẩm, lũ lụt, rêu mốc, mối mọt, dễ trở thành tro than trong hỏa hoạn
hoặc chiến tranh... Bởi thế mà di sản của người Việt không lấy gì làm phong phú.
Không còn những di tích có niên đại xa xưa”. [69, tr.33]
Nhà ở truyền thống là loại hình kiến trúc được con người tạo lập từ lâu đời,
là những mẫu nhà ở đã định hình, tồn tại theo chiều dài lịch sử, ổn định về tổ chức
mang tính thống nhất và tác động lên môi trường sống mỗi vùng. Khí hậu mỗi vùng
vì thế mà có các tính chất đặc trưng riêng. Thiên nhiên liên tục tác động trực tiếp
đến cuộc sống và môi trường cư trú, “…thiên nhiên không thể tự nó chi phối cốt
cách của nếp nhà. Chính là do con người đã nhận thức rõ thiên nhiên mà sáng tạo ra
cốt cách của nếp nhà trên đất nước mình” [80, tr. 24].
Các yếu tố thiên nhiên không ngừng tác động đến mọi mặt cuộc sống. Đó
là mối quan hệ phức tạp mang tính thống nhất, biện chứng, hợp quy luật. Trong quá