LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực, chính xác và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin đã được trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Huế, ngày tháng 8 năm 2014
Người cam đoan
Nguyễn Thị Kiều Anh
LỜI CẢM ƠN
i
Luận văn là kết quả của quá trình học tập nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với
kinh nghiệm trong quá trình công tác thực tiễn, với sự nỗ lực cố gắng của bản thân.
Đạt được kết quả này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới quý thầy (cô)
giáo Trường Đại học kinh tế Huế và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Cô giáo, Phó giáo sư - Tiến sĩ
Phùng Thị Hồng Hà là người trực tiếp hướng dẫn khoa học; Cô đã dày công giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến ban lãnh đạo, cán bộ viên chức BHXH
tỉnh Thừa Thiên Huế đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
Mặc dù đã có sự nỗ lực cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những
khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quí thầy (cô), và các
bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn!
Huế, ngày tháng năm 2014
Nguyễn Thị Kiều Anh
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN
ii
Họ và tên học viên : Nguyễn Thị Kiều Anh
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 01 02
Niên khóa : 2012-2014
Doanh nghiệp Nhà nướcDNNN
Doanh nghiệp ngoài quốc doanhDNNQD
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiDNVĐTNN
Hành chính sự nghiệpHS
Ngoài công lậpNCL
Người lao độngNLĐ
Sử dụng lao độngSDLĐ
Sản xuất – Chế biếnSX-CB
Thương mại – Dịch vụTM-DV
Xây dựngXD
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN ii
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHỤ LỤC vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC 6
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 6
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 6
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội 6
2.2. THỰC TRẠNG THU BHXH BẮT BUỘC CỦA BHXH TỈNH THỪA THIÊN
HUẾ THỜI GIAN QUA 39
2.2.1. Tình hình tham gia BHXH 39
2.2.2. Tình hình thu BHXH 42
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BHXH BẮT BUỘC TẠI BHXH TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ 45
2.3.1. Công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc 45
2.3.2. Công tác quản lý mức thu BHXH 46
2.3.3. Công tác tổ chức thu BHXH 48
2.3.4. Công tác thanh tra, kiểm tra BHXH 49
2.4. ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ VIÊN CHỨC BHXH VỀ QUẢN LÝ THU BHXH
BẮT BUỘC TẠI BHXH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 55
2.4.1. Thiết kế bảng hỏi 55
2.4.2. Thiết kế mẫu 56
2.4.3. Thông tin tổng hợp về mẫu khảo sát 56
2.4.4. Đánh giá của cán bộ viên chức BHXH về mức độ tuân thủ luật BHXH của
các đơn vị 58
2.4.5. Đánh giá của cán bộ viên chức BHXH về công tác quản lý đối tượng tham
gia BHXH 60
2.4.6. Đánh giá của cán bộ viên chức BHXH về công tác quản lý mức thu BHXH62
2.4.7.Đánh giá của CBVC BHXH về Công tác tuyên truyền và phổ biến chính sách,
luật BHXH: 64
2.4.8. Đánh giá của CBVC BHXH về công tác thanh tra, kiểm tra BHXH 65
2.5. ĐÁNH GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH
BẮT BUỘC TẠI BHXH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 68
2.5.1 Thông tin chung về phiếu điều tra doanh nghiệp 68
2.5.2. Ý kiến của doanh nghiệp về việc đóng BHXH 69
2.5.3. Đánh giá của doanh nghiệp về công tác đăng ký tham gia BHXH 71
2.5.4. Đánh giá của doanh nghiệp về công tác quản lý mức thu BHXH 73
2.5.5. Đánh giá của doanh nghiệp về công tác tuyên truyền phổ biến chính sách luật
vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Quy trình quản lý thu BHXH bắt buộc 28
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế 35
viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số đơn vị tham gia BHXH tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế 39
giai đoạn 2011 - 2013 39
Bảng 2.2 Số lao động tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH 41
tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011 – 2013 41
Bảng 2.3. Kết quả thu BHXH bắt buộc của BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế 42
giai đoạn 2011 - 2013 42
Bảng 2.4. Tình hình quản lý lao động tham gia BHXH tại BHXH 45
tỉnh Thừa Thiên Huế tính đến quý IV/2013 45
Bảng 2.5: Tổng quỹ tiền lương đóng BHXH của các đơn vị năm 2013 47
Bảng 2.6: Phân bổ cán bộ quản lý tính đến quý IV/2013 48
Bảng 2.7: Tình hình kiểm tra đóng BHXH của BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế 50
Bảng 2.8: Tình hình nợ BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế 51
Bảng 2.9. Tình hình nợ đọng BHXH tại các DNNQD 52
Bảng 2.10. Tình trạng thất thu BHXH bắt buộc tính đến quý IV/2013 53
Bảng 2.11: Thông tin mẫu khảo sát về CBVC BHXH 57
Bảng 2.12: Ý kiến đánh giá của cán bộ về mức độ tuân thủ pháp luật BHXH của các đơn vị
58
Bảng 2.13: Ý kiến đánh giá CBVC BHXH về công tác quản lý đối tượng 60
Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá của CBVC về Công tác quản lý mức thu 62
Bảng 2.15. Ý kiến đánh giá của CBVC BHXH về công tác tuyên truyền 64
phổ biến chính sách luật BHXH 64
Bảng 2.16. Ý kiến đánh giá của CBVC BHXH về công tác thanh tra, 66
kiểm tra BHXH 66
Bảng 2.17. Cơ cấu mẫu điều tra doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo loại hình và ngành
bộc lộ những hạn chế, thiếu sót, đặc biệt trong công tác quản lý thu BHXH đó là:
- Công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật BHXH đối
với các Doanh nghiệp cố tình không đóng, đóng không đúng, không kịp thời, đóng
không đầy đủ BHXH cho người lao động
- Giải quyết nợ tồn đọng BHXH đang là một vấn đề gây bức xúc nhất hiện nay.
- Chưa quản lý hết số lao động phải tham gia BHXH bắt buộc. Nhiều đơn vị sử
dụng lao động vẫn gian lận trong việc đăng ký tham gia BHXH cho người lao
động, gian lận trong việc kê khai quỹ lương đóng BHXH.
Những vấn đề nêu trên nếu không được quan tâm khắc phục sẽ tác động xấu
đến toàn bộ hoạt động BHXH trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là sự tác động
khách quan do quá trình hội nhập mang lại và do chính vị trí và vai trò quản lý thu
1
BHXH. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần có sự nghiên cứu một cách hệ thống, toàn
diện vấn đề quản lý thu của BHXH Thừa Thiên Huế, nhằm tìm ra giải pháp hoàn
thiện quản lý thu BHXH của BHXH Thừa Thiên Huế, đáp ứng những yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội của Thừa Thiên Huế trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam mở
cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Chính vì lẽ đó, tôi
chọn vấn đề “ Công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội tỉnh
Thừa Thiên Huế” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Từ năm 1995, sau 18 năm thành lập và đi vào hoạt động của hệ thống BHXH
Việt Nam đã có trên một trăm công trình nghiên cứu của cán bộ lãnh đạo, quản lý,
các chuyên gia trong ngành và ngoài ngành, từ đề tài cấp bộ, luận văn thạc sỹ, luận
án tiến sỹ đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung, cũng như từng lĩnh vực cụ thể về
BHXH, nhưng về quản lý thu BHXH còn rất hạn chế, mới có một số đề tài được
nghiên cứu một cách có hệ thống, đó là:
- "Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội hiện nay và các biện pháp nâng cao
hiệu quả công tác thu", đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, do Tiền sỹ Nguyễn Văn
Châu, nguyên Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam chủ nhiệm đề tài, bảo vệ năm 2006.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nước trên
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu bảo
hiểm xã hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã
hội tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã
hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội
tỉnh Thừa Thiên Huế.
3
4.2. Đối tượng khảo sát
Các viên chức đang đảm nhận công tác quản lý thu tại Bảo hiểm xã hội tỉnh
Thừa Thiên Huế; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang hoạt động trên địa bàn
và các lao động đang làm làm việc tại các doanh nghiệp này.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phạm vi thời gian: trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2013
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống thực trạng công tác quản lý
thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế, luận văn sử
dụng những phương pháp sau:
5.1. Phương pháp chung
Luận văn vận dụng cách tiếp cận theo phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử; vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong quá trình
đổi mới kinh tế để phân tích thực trạng quản lý và việc thực hiện chính sách và Luật
BHXH ở địa bàn nghiên cứu. Từ đó rút ra một số nhận xét và kiến nghị đề xuất các
giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu BHXH bắt buộc đối
với các đơn vị tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phương pháp tiếp cận: xem xét, nghiên cứu dưới góc độ các quy trình thu,
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội
Cuộc sống của con người luôn phấn đấu cho an sinh hạnh phúc, nhưng quy luật
của tạo hóa là sinh ra, lớn lên và già yếu, đi theo đó là những rủi ro, ốm đau, hoạn
nạn có thể đến bất cứ lúc nào. Với trí óc thiên phú, con người luôn có những phát
kiến khoa học cả về tự nhiên và xã hội để chế ngự thiên nhiên, khắc phục những
diễn biến bất thường của quy luật, làm cho xã hội không ngừng phát triển. BHXH
như là một phát kiến văn minh của nhân loại về khoa học xã hội kết hợp với khoa
học tự nhiên để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khỏe của con người.
Thực tế cuộc sống có nhiều rủi ro xảy ra mà không thể phòng trước được, để
khắc phục hậu quả của nó thì mỗi cá nhân có thể dự phòng ở những mức độ khác
nhau tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh của từng người. Nhưng, dù cá nhân có
chủ động và dự phòng những rủi ro khi xảy ra thì cũng không thể nào đối phó được
hết tất cả các rủi ro có thể xảy ra trong cuộc sống của mỗi con người. Vì vậy, cần
phải có biện pháp khắc phục tổng thể và lâu dài mang tính cộng đồng xã hội, do đó
ngoài dự phòng cá nhân, còn cần có dự phòng của cộng đồng.
Trong tất cả các biện pháp phòng chống và khắc phục rủi ro, bảo hiểm là biện
pháp mang lại hiệu quả cao nhất. Bảo hiểm là chế độ bồi thường kinh tế, chia nhỏ
rủi ro, tổn thất của một người hay một số ít người cho nhiều người người có cùng
khả năng xảy ra rủi ro theo những nguyên tắc, chuẩn mực được thống nhất và quy
định trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia. Bảo hiểm không những đảm bảo
cho người tham gia về kinh tế mà còn góp phần ổn định xã hội.
Trên thế giới, BHXH ra đời cách đây hàng trăm năm và trở thành giải pháp
hữu hiệu giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống và trong
quá trình lao động. BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội
của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát
triển. Để đảm bảo quyền lợi cơ bản cho người lao động trên toàn thế giới và an toàn
6
xã hội, ILO ban hành công ước 102 ngày 04/06/1952 về quy phạm tổi thiểu an toàn
xã hội, có quy định 09 chế độ trợ cấp gồm: chế độ chăm sóc y tế; chế độ trợ cấp
- Dưới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành
từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự bảo đảm thay thế một phần thu nhập khi
người lao động có tham gia BHXH bị mất hoặc bị giảm.
- Theo Bộ luật Lao động:
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất
hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua
việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia
bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
- Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm về BHXH được chấp
nhận rộng rãi trên toàn thế giới: BHXH là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các
thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm tránh tình trạng khốn
khó về mặt kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm đáng kể thu nhập vì bệnh tật, thai
sản, tai nạn lao động, mất sức lao động và tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp cho các
gia đình có con nhỏ.
BHXH góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao
động và gia đình họ. BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng
sản phẩm trong nước (GDP) để thoả mãn nhu cầu an toàn kinh tế của người lao
động và an toàn xã hội. BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội. Về
mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của người lao động và
gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội. Về mặt xã hội,
do có sự “san sẻ rủi ro” của BHXH, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản
nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật
chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra. ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc
“lấy của số đông bù cho số ít”. [1]
8
Nghiên cứu về BHXH, chúng ta có thể thấy có nhiều tác giả nước ngoài cũng
đã đưa ra các định nghĩa khác về BHXH hoặc bảo trợ xã hội, áp dụng riêng cho các
điều kiện ở các nước đang phát triển. các tác giả này có chung một quan điểm là
thực hiện chế độ do người lao động và người sử dụng lao động đóng góp và Nhà
nước hỗ trợ, đấy chính là tính chất xã hội trong kết cấu nguồn lập quỹ. Tính xã hội
còn được thể hiện thông qua các chế độ BHXH được hưởng. Thời điểm bắt đầu
tham gia đóng BHXH đồng thời là thời điểm được hưởng chế độ BHXH, đó là chế
độ trợ cấp ốm đau, thai sản, trợ cấp TNLĐ-BNN. Trong chế độ hưu trí, thời gian
đóng góp của người tham gia đóng và mức đóng với mức hưởng thấp nhất bằng
mức lương tối thiểu chung hoặc tỷ lệ từ 45% đến 75% tiền lương bình quân đóng
BHXH và được hưởng chế độ BHYT bằng 1,5 tháng lương bình quân. Đây chính là
phần xã hội mà người sử dụng lao động đã đóng góp vào Ngân sách nhà nước hỗ
trợ mà có. Tính chất xã hội còn được thể hiện ở chế độ tử tuất, ngoài trợ cấp mai
táng phí, người đóng BHXH chết có thân nhân phải nuôi dưỡng được hưởng trợ cấp
tuất theo quy định. BHXH là sự san sẻ rủi ro, chia nhỏ rủi ro cho nhiều cá nhân
trong cộng đồng cùng gánh chịu, hay nói cách khác là “lấy số đông bù số ít”, tức là
dùng số tiền đóng góp của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho
một số ít người khi gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất.
Như vậy, mục tiêu của BHXH là tạo ra mạng lưới an toàn gồm nhiều tầng,
nhiều lớp bảo vệ cho tất cả các thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị
giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia
đình do những biến cố và những “rủi ro xã hội”. Vì vậy, để tạo ra lưới an toàn gồm
nhiều tầng, nhiều lớp, BHXH phải dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực
hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các
biện pháp khác nhau. Có thể thấy rõ bản chất của BHXH là nhằm che chắn, bảo vệ
cho các thành viên của xã hội trước mọi biến cố xã hội bất lợi. BHXH thể hiện chủ
nghĩa nhân văn cao đẹp, đó là: mọi người trong xã hội với tư cách là một công dân,
họ phải được đảm bảo mọi mặt để phát huy đầy đủ những khả năng của mình,
không phân biệt địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo đều bình đẳng về BHXH.
10
Thứ hai: BHXH là một công cụ để quản lý xã hội, là sự đảm bảo của Nhà
nước để ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và an toàn xã hội, thúc đẩy
sản xuất phát triển. Đồng thời đây là quá trình phân phối lại thu nhập xã hội.
nước quy định và mỗi người tham gia có mức đóng BHXH khác nhau tương ứng
với mức tiền lương, tiền công đó; hàng năm Nhà nước còn trích một khoản nhất
định từ Ngân sách để hỗ trợ quỹ BHXH. Chi BHXH là việc trả tiền cho người có
nhu cầu phát sinh về BHXH dựa trên mức đóng và thời gian đóng BHXH trong chế
độ dài hạn, nhưng trong chế độ ngắn hạn thì không dựa trên nguyên tắc này mà có
sự chia sẻ giữa người khỏe cho người ốm, người trẻ cho người già.
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội
Hoạt động BHXH là hoạt động sự nghiệp vì lợi ích chung của toàn xã hội, phục
vụ mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải là mục tiêu của hoạt động
BHXH. Do đó, chính sách BHXH có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã
hội của một quốc gia và được thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động và gia đình
khi đã hết tuổi lao động hoặc không đủ sức tiếp tục lao động hoặc quá trình làm
việc không may gặp phải rủi ro.
Mục đích lớn nhất của BHXH là đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình
họ, người tham gia BHXH sẽ được thay thế một phần thu nhập bị mất hoặc giảm thu
nhập, nó làm cho người lao động yên tâm cống hiến và không phải lo lắng khi rủi ro có
thể xảy ra. Đồng thời, BHXH góp phần hạn chế và điều hòa các mâu thuẫn có thể xảy
ra giữa người sử dụng lao động và người lao động, tạo môi trường làm việc bình đẳng,
ổn định, đảm bảo cho hoạt động sản xuất, công tác đạt hiệu quả cao, từ đó góp phần
tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Đây là vai trò cơ bản nhất của chính sách
BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất, phương thức hoạt động BHXH.
Thứ hai, BHXH làm gắn bó lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao
động đối với Nhà nước.
BHXH không những đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia
đình họ mà còn góp phần bảo vệ lợi ích giữa người sử dụng lao động khi rủi ro xảy
12
ra đối với người lao động của mình, nó tạo điều kiện cho người sử dụng lao động có
thể nhanh chóng ổn định sản xuất. Đồng thời, thể hiện sự quan tâm của người sử
dụng lao động đối với người lao động thông qua việc đóng góp vào quỹ BHXH do
gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản lý chi trả và quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng
trưởng. [13,tr.11].
Khi nói đến quản lý thu BHXH là nói đến một loạt quan hệ, bao gồm quan hệ
giữa Nhà nước, người SDLĐ, NLĐ và cơ quan BHXH. Trong mối quan hệ trên đây,
thì người SDLĐ, NLĐ là đối tượng quản lý; Nhà nước giao cho cơ quan BHXH làm
chủ thể quản lý; Nhà nước là chủ thể duy nhất điều tiết và quản lý BHXH, vì các bên
tham gia có lợi ích khác nhau thậm chí trái ngược nhau. Đó là người lao động muốn
đóng ít nhưng lại muốn được hưởng thụ quyền lợi nhiều, người sử dụng lao động
muốn đóng BHXH càng ít càng tốt để giảm chi phí sản xuất nâng cao lợi nhuận. Nhà
nước với hai tư cách: thứ nhất là, thông qua cơ quan lập pháp (Quốc Hội) đề ra Luật
BHXH, thông quan Chính phủ đề ra các quy định về BHXH; thứ hai là, thông qua
các cơ quan nhà nước để thực hiện nộp BHXH cho người lao động hưởng lương từ
Ngân sách nhà nước và thành lập cơ quan chuyên trách (BHXH Việt Nam) thực hiện
chính sách BHXH. Để quản lý thu BHXH đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà
nước, cơ quan BHXH phải xây dựng biện pháp, kế hoạch, tổ chức các thao tác nghiệp
vụ, phối hợp với các cơ quan hữu trách và hình thành hệ thống chuyên thu từ Trung
ương đến cấp huyện, thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, khép kín. Như vậy, trong
quản lý thu BHXH, mối quan hệ ba bên là người lao động, người sử dụng lao động
và cơ quan BHXH được xác lập quyền và trách nhiệm của mỗi bên do pháp luật về
BHXH quy định, các quy định này là những căn cứ pháp lý mà mỗi bên phải tuân
thủ, thực hiện nghiêm túc. Mặt khác, để thu đúng, đủ, kịp thời, không để thất thoát
tiền thu, đòi hỏi cơ quan BHXH phải có.
Phương pháp và biện pháp hữu hiệu, kể cả các biện pháp hỗ trợ. “Thu
BHXH là một khái niệm phức hợp, bao gồm các định hướng, chủ trương, phương
pháp, biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, khuyến khích
đẩy mạnh công tác thu bảo hiểm xã hội” [15, tr.5] và “Quản lý thu BHXH là một
14
quá trình chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý, trong hoạt động dự báo,
xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm tra để đạt được
mục tiêu quản lý bằng các nguyên tắc và phương pháp nhất định” [16, tr.19]