nghiên cứu đặc điểm môi trường vũng an hòa tỉnh quảng nam làm cơ sở phục hồi rnm - Pdf 24

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng ngập mặn (RNM) ven biển là hệ sinh thái (HST) vùng đới bờ rất
đặc thù tại các nước vùng nhiệt đới có biển. RNM ven biển là một trong các
HST có năng suất, đa dạng sinh học cao nhất và cũng là nơi nuôi sống một
phần tư dân số cộng đồng ven biển. Hơn thế nữa, RNM là hệ thống động lực
học, có tác động trực tiếp đến các quá trình xói lở và bồi tụ trầm tích ven bờ
[15]. RNM được xem như hàng rào chắn bão, lốc xoáy, triều cường và những
tai biến thiên nhiên nguy hiểm khác.
Bờ biển tỉnh Quảng Nam có chiều dài khoảng 125 km, với ba cửa sông
là cửa Đại của sông Thu Bồn, cửa Lở và cửa Kỳ Hà của sông Trường Giang.
Sông Trường Giang chạy song song với bờ biển, nối với sông Thu Bồn ở phía
Bắc và hợp lưu các sông Tam Kỳ, sông Trâu, sông Trầu, sông Vĩnh An ở hạ
lưu và vũng An Hòa rồi chảy ra biển qua cửa Lở và cửa Kỳ Hà. Vùng cửa
sông này hình thành nên nhiều HST đất ngập nước ven bờ quan trọng, tiêu
biểu là các HST RNM, cỏ biển và rạn san hô [2].
Vũng An Hòa thuộc huyện N\i Thành, tỉnh Quảng Nam. Với diện tích
khoảng 1.900 ha và thuộc loại vũng nước lợ nửa kín ven biển thông ra biển
bằng hai cửa: cửa Lở ở phía Bắc và cửa Kỳ Hà (còn gọi là cửa An Hòa) ở
phía Nam. Dao động mực triều lớn nhất trong vũng gần tương đương với
vùng biển ven bờ, do đó có sự trao đổi nước khá tốt. Bãi triều ven vũng và các
cồn cạn trong vũng vốn là nơi phân bố phong ph\ của các dải RNM và thảm
cỏ biển, ch\ng góp phần quan trọng trong việc bảo vệ bờ, làng mạc, ổn định
môi trường và làm phong ph\ nguồn lợi thủy sản trong khu vực [5].
Vũng An Hòa gắn liền đời sống kinh tế của hàng chục ngàn hộ dân với
gần 130.000 khẩu thuộc 13 xã, thị trấn của huyện N\i Thành, sinh sống xung
quanh vùng bờ suốt hàng trăm năm nay; là vùng có nguồn lợi sinh vật đa
2
dạng và phong ph\; là nơi di tr\ và bãi đẻ của nhiều loài sinh vật có giá trị
kinh tế cao từ các vùng biển lân cận. Hiện nay, khu vực này được coi là khu

3. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: Từ tháng 2/2012 đến
tháng 8/2012.
Đối tượng nghiên cứu là một số đặc điểm môi trường nước, trầm tích
có liên quan đến sự phân bố và sinh trưởng của CNM (nhiệt độ, pH, độ mặn,
lân dễ tiêu, đạm dễ tiêu, thành phần chất hữu cơ và thành phần hạt) và cấu
tr\c thành phần loài cây ở HST RNM thuộc năm xã: Tam Hòa, Tam Hải, Tam
Giang, Tam Quang và Tam Nghĩa thuộc huyện N\i Thành, tỉnh Quảng Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin
- Thu thập và kế thừa những tài liệu liên quan đến các điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội của huyện N\i Thành, tỉnh Quảng Nam.
- Thu thập và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học,
chương trình, dự án trong và ngoài nước có liên quan đến RNM ở vũng An
Hòa.
- Học hỏi kinh nghiệm phục hồi RNM ở các khu vực lân cận.
4.2. Phương pháp khảo sát thực địa theo các điểm và các tuyến đã chọn
Khảo sát theo tuyến để xác định thành phần loài CNM. Sử dụng
phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn theo với kích thước 10x10 m để đo đếm
các đặc điểm cấu tr\c rừng, xác các chỉ tiêu sinh trưởng tại các ô tiêu chuẩn
theo Tam & Wong (2000) và các tài liệu “Hướng dẫn điều tra nguồn lợi biển
4
nhiệt đới” (English và cs., 1994), “Sổ tay hướng dẫn giám sát và điều tra đa
dạng sinh học” (WWF, 2003). Phân loại loài bằng phương pháp so sánh hình
thái. Các tài liệu chính sử dụng để phân loại là Phạm Hoàng Hộ (1991-1993),
Tomlinson (1986).
4.3. Phương pháp thu thập và phân tích mẫu
Các thông số môi trường nước được đo nhanh tại hiện trường sử dụng
máy Horiba U-22XD (Japan).
Đối với mẫu trầm tích, xác định pH, độ mặn, hàm lượng lân dễ tiêu,

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội vũng An Hòa huyện N\i
Thành tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Kết quả và thảo luận.
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát các nghiên cứu có liên quan
Từ nghiên cứu của Head (1969) và Odum (1970) về tác dụng của bùn
bã thực vật ngập mặn ở Florida đã tạo nên sự quan tâm của cộng đồng và
nghiên cứu khoa học đối với RNM vùng bờ biển. Đây cũng là nghiên cứu nền
tảng để Lugo và Snedaker (1974), Walsh và cs. (1975) tiếp tục công bố các
nghiên cứu về RNM và mở rộng đối với những quốc gia có RNM tương tự
trên thế giới như Panama, Ecuador, Venezuela, Costa Rico, Mexico, Brazil,
Columbia…
Vào những năm 1980, RNM trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều
tổ chức liên hiệp trên thế giới, đầu tiên là UESCO với chương trình huấn
luyện và nghiên cứu về RNM ở châu Á và Thái Bình Dương, tiếp theo đó là
sự hợp tác Asian - Australia trong chương trình Nghiên cứu bờ biển. Những
chương trình này đến bây giờ vẫn còn được sử dụng để tham khảo và mang
giá trị đặc biệt đối với sự phát triển của khoa học châu Á, châu Úc (Alcala,
1991) [31]. Ngày nay, càng có nhiều tổ chức quan tâm, bảo vệ và duy trì tài
nguyên HST đất ngập nước trong đó có RNM như FAO, UNESCO, IUCN,
UNDP, UNEP
Sự phát triển của RNM có liên quan lớn đến các đặc điểm môi trường,
đặc biệt là pH và hàm lượng muối. Nhiều tác giả đã nghiên cứu về mối liên hệ
này như: “Mối liên hệ giữa điều kiện trầm tích và trạng thái dinh dưỡng và sự
phát triển cây non đối với cây ngập mặn Rhizophora apiculata” (Duarte và
cs., 1998), “Ảnh hưởng của độ muối trong đất và pH đến sự phân bố loài và
cấu trúc rừng ngập mặn ở Surdabans” (Joshi & Ghose, 2003), “Đặc điểm
trầm tích của rừng ngập mặn ở vùng nước lợ” (Manjappa và cs., 2003).

1.2. Khái niệm RNM
Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về RNM. Theo Từ điển
Shorter Oxford Dictionary mô tả RNM (mangrove) có liên quan với chữ
mangue trong tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha là chữ mangle, tiếng
Anh chữ grove có từ năm 1613 (ISME, 1995).
Saenger và các cộng sự (1983) đã mô tả RNM như là hệ cây rừng ven
biển của vùng duyên hải nhiệt đới và á nhiệt đới. Vì thế thuật ngữ RNM
“mangrove” đã được sử dụng để chỉ các cây sống trong bùn, đất ướt ở vùng
triều nhiệt đới và á nhiệt đới [23].
Theo FAO (1952), RNM là những cây thân gỗ và cây bụi mọc dưới
mức triều cao của triều cường. Vì vậy, hệ thống rễ của ch\ng thường xuyên bị
ngập trong nước mặn, mặc dù nước có thể được pha loãng do dòng nước ngọt
và chỉ ngập một hay hai lần trong năm.
IUCN (2002) đã xếp RNM là một trong những loại hình đất ngập nước
(wetlands) quan trọng nhất, nằm ở đầu bảng phân loại đất ngập nước của
RAMSAR [11].
Một cách tổng quát, RNM (mangrove) là những cây mọc trên vùng
chuyển tiếp giữa đất liền và biển ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, nơi đó cây
tồn tại trong các điều kiện có độ mặn cao, ngập triều, gió mạnh, nhiệt độ cao,
đất bùn và yếm khí. RNM bao gồm những cây thân gỗ, cây bụi và cây thân
thảo thuộc nhiều họ cây khác nhau nhưng có đặc điểm chung là cây thường
xanh, đặc điểm sinh lý giống nhau và thích nghi trong điều kiện sống ảnh
hưởng bởi chế độ thủy triều và yếm khí [23].
1.3. Vai trò của RNM
Tầm quan trọng của RNM trong việc đóng góp vào năng suất vùng cửa
sông ven biển đã được biết đến từ những năm 1960 - 1970. RNM đã được biết
đến với nhiều giá trị sinh thái, môi trường cũng như khả năng bảo vệ và
9
nguồn lợi trực tiếp mà nó mang lại cho cộng đồng người dân vùng ven biển
(Kathiresan, 2007) [31].

một trong những giá trị rất quan trọng của RNM lại chưa được nghiên cứu
nhiều. Do sự tích tụ các-bon qua nhiều thiên niên kỷ, những vùng đất này trở
thành những bể chứa các-bon trên cạn lớn nhất trên Trái đất (Donato và cs.,
2011) [12].
1.4. Sự phân bố RNM
1.4.1. Các đặc tính qui định sự phân bố của CNM
Trên thế giới, thành phần các loài cây của RNM được FAO (1994) liệt
kê gồm 84 loài, trong đó có 66 loài cây gỗ, 13 loài cây bụi, 2 loài cây họ cau
dừa, và 3 loài cây dương xỉ. Ở Việt Nam, Đỗ Đình Sâm và cs. (2005) đã liệt
kê 37 loài cây là những loài thực thụ cây RNM [19].
Môi trường thuận lợi để RNM phát triển tốt là nơi có độ mặn cao, ngập
triều, gió mạnh, nhiệt độ cao, đất bùn và yếm khí. Thực vật ngập mặn thuộc
nhiều họ cây khác nhau nhưng có đặc điểm chung là cây thường xanh, đặc
điểm sinh lý giống nhau và thích nghi trong điều kiện sống ảnh hưởng bởi chế
độ thủy triều và yếm khí (Kathiresan, 2007) [31].
Tuy nhiên, mỗi loài cây RNM đều có đặc tính riêng và mọc tốt ở những
khu vực nhất định dọc theo bờ biển. Điều này có thể là nguyên nhân chính tại
sao ở một số bờ biển ta có thể quan sát thấy sự phân định ranh giới tự nhiên,
với một số loài nhất định sống ở gần biển (ở khu vực nước sâu và chảy mạnh
hơn) và một số loài khác sống ở gần bờ hơn (ở khu vực nước nông và chảy
êm dịu hơn) [18].
11
Hình 1.1. Phân ranh tự nhiên của một khu RNM (theo Phan Nguyên Hồng
và Hoàng Thị Sản, 1993) [9]
Do những đặc điểm đặc biệt của môi trường nên chỉ có một số lượng
rất ít các loài cây có thể chịu được và phát triển bình thường trong điều kiện
ngập thủy triều, đất bùn lầy, mặn. Để duy trì sự sống CNM có những cấu tr\c
và cơ chế đặc biệt thích nghi với môi trường về hệ thống rễ, cấu tạo lá, các cơ
chế điều chỉnh nồng độ muối trong cây như bài tiết muối bằng tuyến tiết
muối, giữ muối và cân bằng áp suất thẩm thấu

Bắc và 5 - 10
0
Nam; (b)
vùng nhiệt đới mưa nhiều, phía Bắc và Nam của xích đạo, khoảng 25 - 30
0
Bắc
và Nam, một phần trong vùng cận nhiệt đới khô của xích đạo; (c) một phần
khí hậu ấm nơi mà không có mùa đông quá lạnh và chỉ ở phía Đông của lục
địa.
Khí hậu ảnh hưởng đến chất lượng nước bề mặt thông qua cân bằng
lắng tụ và bốc – thoát hơi nước. Những vùng khô hạn có xu thế chung là nồng
độ muối cao hơn trong nước bề mặt so với những vùng ẩm ướt. Khí hậu cũng
có ảnh hưởng lớn đến chủng loại và tính phổ biến của thảm thực vật và do
đó, nó có tác động gián tiếp đến các đặc trưng lý – hóa – sinh học đất [9].
Các đặc điểm nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa và gió có ảnh hưởng mạnh
đến HST RNM. Đây không những là các nhân tố tác động trực tiếp đến sinh
13
trưởng và phát triển cây RNM mà còn là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến các
yếu tố vật lý khác như đất và nước [23].
Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát
triển cây RNM. CNM không chịu lạnh được, càng xa xích đạo thì nhiệt độ
càng thấp nên RNM cũng kém phát triển. Ngoài ra, nhiệt độ của nước biển
cũng ảnh hưởng đến sự xuất hiện loài cây RNM. RNM đạt được sự phát triển
cao nhất trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, khi mà nhiệt độ thấp nhất không
dưới 20
0
C và biên độ dao động nhiệt giữa các mùa không vượt khỏi 5
0
C.
Nhiệt độ trung bình tối ưu cho sự phát triển của RNM là 24

bán nhật triều (biên độ triều từ 0,5 – 3 m). Biên độ dao động triều càng lớn thì
CNM càng đa dạng và mỗi loài CNM phản ứng khác nhau với chế độ triều
khác nhau [29].
Theo Phan Nguyên Hồng (1999), khi điều kiện khí hậu và đất không có
sự khác biệt nhau lớn thì vùng có chế độ bán nhật triều CNM sinh trưởng tốt
hơn vùng có chế độ nhật triều, vì thời gian cây bị ngập mặn không thu được
không khí trên mặt đất ngắn hơn, thời gian đất bị phơi trống cũng ngắn, hạn
chế bớt sự bốc hơi nước trong đất và trong cây, nhất là thời kỳ nắng nóng. Do
đó mà cây sinh trưởng thuận lợi hơn. Ví dụ thực tế cây RNM ở Nam Bộ phát
triển hơn vùng ven biển Quảng Ninh ngoài những nguyên nhân khác, một
phần là do chế độ triều ở phía Nam là bán nhật triều [7].
Tần số ngập triều khác nhau sẽ dẫn đến độ mặn khác nhau, mức độ ứ
nước và chất dinh dưỡng cũng khác nhau. Thay đổi độ mặn do nước triều là
một trong các yếu tố giới hạn phân bố loài CNM (Aksornkaoe, 1993) [23].
Watson (1928), căn cứ vào đặc điểm sinh thái của RNM ở Malaysia đã
chia thảm thực vật RNM ở phía Tây Malaysia thành 5 nhóm thực vật dựa trên
tần xuất ngập triều: (i) nhóm thực vật chịu ngập thủy triều cao nhất, bị ngập
khi thủy triều lên cao, từ 0 đến 8 feet, trong nhóm này có bần (Sonneratia
15
alba); (ii) nhóm thực vật chịu ngập khi thủy triều lên ở mức trung bình, từ 8
đến 11 feet, chẳng hạn như các loài đước (Rhizophora), các loài vẹt
(Bruguiera spp.); (iii) nhóm thực vật bị ngập khi thủy triều lên cao thường
xuyên, từ 11 đến 13 feet, điển hình là xu (Xylocarpus granatum); (iv) nhóm
thực vật bị ngập khi thủy triều lên cao bất thường, từ 13 đến 15 feet, điển hình
là cóc (Lumnitzera littora); (v) nhóm thực vật bị ngập khi thủy triều lên cao
đột biến, từ trên 15 feet, chẳng hạn như tra bụp (Hibiscus tiliaceus) [19].
Ngoài ra, thủy triều còn dọn CO
2
tích lũy, các chất độc tố, mảnh vụn
hữu cơ và giữ vững độ mặn của nước. Thủy triều phân bố cả chất dinh dưỡng

nơi xuất hiện một số loài của họ đước (Rhizophoracea) hay mắm
(Avicenniacea) [23].
Phan Nguyên Hồng cho rằng CNM có thể sống trên thể nền đất ngập
nước khác nhau như sét bùn, bùn cát, cát thô lẫn sỏi đá, bùn ở cửa sông, bờ
biển, đất than bùn, san hô. Tuy nhiên RNM phát triển mạnh nhất trên thể nền
bùn sét có độ mùn bã hữu cơ cao.
Nguyễn Ngọc Bình (1996) đã nghiên cứu các loại đất ở RNM ảnh
hưởng đến sự phân bố RNM ở Cà Mau. Kết quả cho thấy rằng: đất ngập mặn
mùn rất loãng không có CNM, đất ngập mặn mùn loãng có mắm trắng tiên
phong cố định bãi bồi, đất ngập mặn dạng sét, đất ngập mặn phèn tiềm tàng
sét mềm có đước, đất ngập mặn phèn tiềm tàng cứng có đước, dà, cóc trắng.
Nguyễn Đức Tuấn (1994) nghiên cứu về tăng trưởng và sinh khối của
đâng, đước, trang, vẹt dù l\c 1, 2, 3, 4 năm tuổi cho thấy trên thể nền bùn sét
mềm và cát thô thì cây sinh trưởng tốt hơn thể nền bùn pha nhiều cát thô, đất
cao cứng [11].
Trong một hệ thống thủy sinh, trầm tích có vai trò như là bể chứa vật
17
liệu dinh dưỡng trong nước. Sự bổ sung và đào thải các chất dinh dưỡng này
theo thời gian là cần thiết và như một hệ quả tất yếu trong chu trình sinh hóa
của hệ thống (Gupta và cs., 2001). Sự thay đổi chất dinh dưỡng phụ thuộc vào
đặc điểm trầm tích và các yếu tố thủy văn ở vùng cửa sông. Nhiệt độ của trầm
tích là một trong những nhân tố môi trường quan trọng, có tác động đến sự
phân bố sinh vật đáy và các chu trình hóa học trong trầm tích (Ramachandra
và cs., 1984).
a) Độ mặn
Độ mặn có vai trò là nhân tố quan trọng nhất trong sự phân bố loài, ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của RNM (Twilley & Chen, 1998). Sự
thay đổi độ mặn chịu ảnh hưởng bởi khí hậu, thủy văn, lượng mưa, địa hình
và mực thủy triều [29]. CNM là có khả năng sinh trưởng và phát triển trên
mọi môi trường nước mặn, ngập nước thường xuyên, CNM có khả năng giữ

quao nước, cốc kèn…
Loại CNM có biên độ muối hẹp:
- Nhóm cây thân gỗ mọng nước chịu mặn cao (20 - 33‰) có bần trắng,
bần ổi…
- Nhóm cây thảo mọng nước chịu mặn cao (25 – 35‰) hoặc hơn có
muối biển, sam biển…
- Nhóm cây nước lợ điển hình (5 – 15‰) hoặc thấp hơn gồm dừa nước,
bần chua, mái dầm, na biển, mây nước. Ch\ng đồng thời cũng là sinh vật chỉ
thị cho môi trường nước lợ [10].
Lượng nước ngọt theo mùa chảy ra biển cũng ảnh hưởng đến HST
RNM, một số vùng có độ mặn dao động rộng lớn dưới ảnh hưởng của lượng
mưa theo mùa trong đất liền. Tuy nhiên vẫn có một số loại cây thích nghi
19
được vì khả năng tích lũy muối cao [27]. Nhiều nghiên cứu cho thấy, CNM có
thể tồn tại được trong nước ngọt một thời gian nào đó, nhưng sinh trưởng của
cây giảm dần, sau vài tháng nếu không được cung cấp một lượng muối thích
hợp thì cây sinh trưởng rất kém, lá cây có nhiều chấm đen và vàng do sắc tố
bị phân hủy, lá rụng sớm [21].
Nhìn chung, thực vật ngập mặn phát triển sum suê hơn ở độ muối thấp
(Kathiresan và cs., 1996). Thí nghiệm chứng minh rằng phát triển trong môi
trường có độ muối cao thực vật ngập mặn phải tiêu hao nhiều năng lượng để
duy trì sự cân bằng nước và nồng độ ion hơn là sự sinh trưởng (Clough,
1984). Tuy nhiên, với độ muối thấp kéo dài sẽ làm trương các tế bào và giảm
hô hấp [29].
b) pH
pH được xem là nhân tố kiểm soát sự phân bố hệ sinh vật đáy, kiểm
soát hoạt động của các quá trình vi sinh và không phải phải vi sinh (Benner,
1976) [30].
Độ chua của đất có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của thực vật,
nguyên nhân chính vì nó làm thay đổi bản chất của hầu hết các nguyên tố

trong nước RNM nhiệt đới nhìn chung là thấp và ammoni là dạng tồn tại
chính của nitơ trong đất RNM [25].
Giống như nitơ, nồng độ photpho trong nước RNM cũng ở mức độ
thấp. Nó thường được xem như là một loại muối hòa tan mà thực vật có thể
hấp thụ được. Photphat đạt hiệu quả hấp thụ đối với trầm tích có độ hạt mịn ở
đầm lầy tốt hơn là trầm tích có độ hạt thô. Đây có lẽ là nguyên nhân tại sao
HST RNM phát triển tốt hơn ở môi trường đầm lầy [20], [29].
21
Trong các dưỡng chất của RNM, photpho là một trong các nguyên tố
cần thiết cho sự sinh trưởng của thực vật và rất cần cho sự tạo thành trái.
photpho hiện diện với nồng độ khác nhau ở các bộ phận khác nhau. Nồng độ
photpho trong lá cây RNM dao động ở 0,02 – 0,167% khối lượng khô. Nồng
độ này cũng khác nhau giữa các loài, nghiên cứu tại một con lạch ngập triều ở
Cần Giờ cho thấy lượng photpho trong lá cây đước (Rhizophora) thấp hơn
trong lá cây mắm (Avicennia). Nồng độ photpho cũng khác nhau tùy thuộc
các vị trí trong rừng – có liên quan đến sự ngập nước do triều và tình trạng
dinh dưỡng của trầm tích [23].
Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng nitơ và photpho tại vùng RNM
thuộc miền Bắc nước Úc của Boto và Wellington (1983) đã đưa ra nhận định:
sự giới hạn photpho là một trong những yếu tố điều khiển tốc độ tăng trưởng
của RNM [24].
1.4.3. Sự phân bố RNM
1.4.3.1. Sự phân bố RNM trên thế giới
Dựa theo phân bố địa lý của thế giới, Walsh (1974) đã chia thực vật
RNM thành hai vùng: Ấn Độ - Thái Bình Dương và Tây Phi – Châu Mỹ.
Vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương gồm: Đông Phi, Biển Đỏ, Ấn Độ,
Đông Nam Á, phía Nam Nhật Bản, Philippine, Úc, New Zealand và quần đảo
Nam Thái Bình Dương.
Vùng Tây Phi và châu Mỹ bao gồm bờ biển Atlantic của châu Phi và
châu Mỹ, bờ biển Thái Bình Dương của vùng nhiệt đới châu Mỹ và quần đảo

Theo Giri và cs. (2010), diện tích RNM trên thế giới phân bố theo thứ
tự như sau (Hình 1.2): châu Á có diện tích lớn nhất với 41%, tiếp đến là châu
Phi 21%, Bắc và Trung Mỹ 15%, Úc và châu Đại Dương 12% và cuối cùng là
Nam Mỹ 11% [12].
23
Hình 1.2. Phân bố RNM trên thế giới (theo Giri và cs., 2010)
1.4.3.2. Sự phân bố RNM ở Việt Nam và biến động về diện tích
Việt Nam có 3.260 km bờ biển dọc theo Biển Đông, phía Bắc có tam
giác châu thổ sông Hồng, phía Nam có tam giác châu thổ sông Cửu Long.
Đặc biệt, hải lưu sông Cửu Long lại dịch chuyển để bồi tụ thành bán đảo Cà
Mau hàng năm lấn về phía Tây ra biển phía vịnh Thái Lan gần 100 m, bằng
các bãi bùn rộng lớn. Đó là nơi phát triển RNM trong những điều kiện tốt
nhất.
Phan Nguyên Hồng (1993, 2003) đã chia RNM Việt Nam thành bốn
khu vực với các đặc điểm điều kiện khác nhau:
(1) Khu vực Đông Bắc (thuộc tỉnh Quảng Ninh): diện tích 39.400 ha
vào năm 1982, đến năm 1999 còn 22.949 ha. Nhiệt độ mùa đông thấp đã giới
hạn sự phát triển của một số loài chính, khoảng 15 loài thực vật ngập mặn thật
sự được tìm thấy. Đầm lầy dọc bờ biển được che chắn bởi các đảo nhỏ vì thế
ít chịu ảnh hưởng của gió mạnh và bão. Vùng đặc trưng là Mũi Chùa và cửa
sông Tiên Yên, nơi mà CNM Bruguiera gymnorhiza, Rhizophora stylosa,
Avicennia marina, Kandelia candel có thể cao đến 8 mét.
24
(2) Khu vực châu thổ đồng bằng Bắc Bộ: diện tích 7.000 ha vào 1982
đến năm 1999 tăng lên 20.842 ha. Đây là khu vực được bồi đắp từ phù sa
sông Thái Bình và sông Hồng. Đầm lầy này rộng, giàu phù sa nhưng lại chịu
ảnh hưởng trực tiếp bởi gió mạnh, bão, sóng lớn và nhiệt độ mùa đông thấp
làm giảm khả năng phát triển của CNM. RNM được tìm thấy ở khu vực nằm
phía trong cửa sông, loài thực vật chiếm ưu thế là Sonneratia caseolaris,
Kandelia candel and Aegiceras corniculatum.

- Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy: đây là khu RNM
thuộc khu dự trữ sinh quyển sông Hồng, là RNM đầu tiên ở VN được quốc tế
công nhận theo công ước Ramsar là RNM thứ 50 của thế giới. Tổng diện tích
khu vực này là 12.000 ha [27].
Diện tích RNM tại Việt Nam có xu hướng suy giảm do nhiều nguyên
nhân khác nhau, chất độc hóa học, phá rừng nuôi trồng thủy sản Theo các số
liệu của Maurand (1943), thì tại Việt Nam có 400.000 ha RNM và chủ yếu là
ở Nam bộ có 250.000 ha (Vũ Văn Cương, 1964) trong đó vùng rừng Sát là
40.000 ha, Cà Mau là 150.000 ha, miền Trung và miền Bắc là 40.000 ha và
các nơi khác là 20.000 ha. Về diện tích, Việt Nam xếp thứ 16 với diện tích là
286.400 ha (năm 1975) và so với Brazil, Indonesia chỉ bằng 1/10. Đến năm
2008, tổng diện tích RNM còn lại 323.712 (Bảng 1.1) [23].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status