1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển không ngừng của ngành giao thông vận tải,
ngành đóng tàu biển Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và ưu
tiên hàng đầu, hàng chục con tàu trọng tải vài vạn tấn đã được đóng mới với
công nghệ hiện đại, tiên tiến nhất. Với bờ biển dài trên 3.200km, nhiều sông
dài và chi phí nhân công thấp, nước ta có một tiềm năng lớn để phát triển
ngành công nghiệp đóng tàu và Chính phủ Việt Nam cũng đã quyết định đưa
đóng tàu trở thành một ngành xuất khẩu mũi nhọn.
Việt Nam có các nhà máy đóng tàu lớn như Nam Triệu, Hạ Long, Bạch
Đằng, Phà Rừng, Bến Kiền, Sông Cấm, Hyundai-Vinashin, Dung Quất có
thể đóng được các loại tàu chở hàng rời có trọng tải 53.000 DWT - 56.000
DWT, tàu chở container có sức chở đến 1.700 TEU, tàu dầu - hóa chất đến
13.500 DWT, tàu chở ô tô 4.900 xe - 6.900 xe, kho chứa dầu nổi 150.000
DWT, các loại tàu hút, kéo-đẩy, tàu tuần tra, tìm kiếm cứu nạn v.v
Nhà máy đóng tàu Hạ Long là thành viên của Tổng công ty công nghiệp
tàu thuỷ Việt Nam (VINASHIN). Nhà máy có 25 nhà xưởng và bãi lắp ráp
trên một diện tích 180.000m
2
cùng hệ thống máy móc thiết bị hiện đại. Trong
những năm qua, nhà máy đã xuất xưởng hàng trăm tàu các loại tàu vận tải
biển siêu trường siêu trọng phục vụ cho nền kinh tế và quốc phòng của đất
nước, trong đó tiêu biểu là loạt tàu Trường sa 1.000 tấn; tàu Việt BA 1.400
tấn, tàu chở hàng khô 300 tấn, tàu chở dầu 3.500 tấn, tàu LPG 2500m
3
, tàu
chở hàng 6.300 tấn, 53.000 tấn và ụ nổi 8.500 tấn. Đội ngũ cán bộ công nhân
viên chức của nhà máy hơn 4000 người, trong đó công nhân lao động trực
tiếp hơn 2000 người [9].
3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƢỜNG VÀ ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG CỦA
CÔNG NHÂN ĐÓNG TÀU
Nhà máy đóng tàu Hạ Long là thành viên của Tổng công ty công
nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (VINASHIN). Nhà máy do Chính phủ Ba Lan giúp
xây dựng và đi vào hoạt động sản xuất từ năm 1976. Nhà máy đóng tại
phường Giếng Đáy - Thành phố Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh.
Nhà máy có dây chuyền đóng mới tàu thuỷ hiện đại, thiết kế theo kiểu
đa tuyến khép kín từ khâu tiếp nhận vật tư, xử lý bề mặt tôn, gia công chi tiết,
lắp ráp các tổng đoạn trong nhà và đấu đà ngoài triền. Nhà máy có 25 nhà
xưởng và bãi lắp ráp trên một diện tích 180.000m2 cùng hệ thống máy móc
thiết bị hiện đại [9].
Tổng số lao động của nhà máy là 4.106 người. Trong đó: công ty mẹ có
3.745 người (nữ: 929 người); các công ty thành viên: 361 người. Phân theo
trình độ: Đại học 307 người, Cao đẳng 97 người, Trung cấp 87 người, Sơ cấp-
công nhân kỹ thuật: 3.254 người. Số lao động có việc làm bình quân: 4.101
người. Thu nhập của cán bộ, công nhân viên: 3.700.000 đ/người/tháng (khối
gián tiếp: 4.000.000 đồng; Khối trực tiếp: 3.500.000 đồng).
1.1.1. Quy trình công nghệ đóng tàu
Quy trình đóng mới một con tàu bao gồm 10 giai đoạn (sơ đồ 1.1):
- Giai đoạn 1 (Thiết kế): thiết kế hình dáng vỏ tàu, chân vịt, chế tạo và
thử mô hình tàu với những đặc tính kỹ thuật cơ bản.
- Giai đoạn 2 (Cắt tôn): các tấm tôn được sơn lót, sau đó được chuyển
đến phân xưởng cắt bằng dây chuyền.
- Giai đoạn 3 (Lắp ráp phân, tổng đoạn): các tấm tôn riêng biệt được
hàn vào với nhau thành các phân, tổng đoạn.
5
Bụi, hơi kim
sốc nhiệt
Trượt ngã
Sốc nhiệt, điện giật ,
ngã cao, nhiễm độc hơi
Sốc nhiệt, nhiễm độc hơi
kim loại, Trượt ngã
Sơ đồ 1.1. Dây chuyền công nghệ đóng tàu và các nguy cơ về AT-VSLĐ
6
* Các phân xưởng sản xuất phụ trợ:
- Ban Cơ điện: bảo dưỡng toàn bộ thiết bị, chịu trách nhiệm về nguồn
điện sử dụng.
- Phân xưởng Mộc tàu: trang trí nội thất cho tàu.
- Phân xưởng Triền đà: thực hiện công việc đưa tàu lên, xuống đà.
1.1.2. Nguy cơ sức khỏe nghề nghiệp trong môi trƣờng lao động của công
nhân đóng tàu
Trong một dây chuyền công nghệ đóng tàu có nhiều công đoạn khác
nhau, nên đặc điểm lao động của công nhân ở các công đoạn và phân xưởng
cũng khác nhau.
- Công đoạn xử lý tôn: tôn được phun cát trực tiếp lên bề mặt để làm
sạch sau đó được sơn lót bằng máy phun tay. Công nhân làm việc trong môi
trường này chịu ảnh hưởng tiếng ồn cường độ cao của máy nén phun cát và
nồng độ bụi silic tự do trong không khí rất cao. Bên cạnh đó là sơn xăng, ở cả
dạng dung dịch và dạng bụi cùng với các hoá chất hoà tan, tẩy rửa…
- Công đoạn hạ liệu và gia công chi tiết: tôn và các chi tiết được cắt
trên máy bằng công nghệ CNC plasma cũng có độ ồn rất cao, có nguồn phát
tia cực tím và hơi khí độc do sơn lót bị cháy. Khói hàn, tia cực tím, sơn cháy
khi hàn đấu lắp các cụm chi tiết trong không khí cũng có nồng độ khá cao.
- Công đoạn lắp ráp thân tàu: ngoài tiếng ồn do lắp ráp chi tiết, bụi
kim loại, yếu tố nổi lên là ảnh hưởng của khói hàn và hoá chất cháy đặc biệt
C - 48,5
0
C), tiềm ẩn nhiều rủi ro.
người lao động đồng thời phải tiếp xúc với bụi, hơi khí độc, tiếng ồn, nhiệt độ
cao và đây chính là nguyên nhân gây ra các trường hợp bị sốc nhiệt, choáng
hơi sơn, khói hàn.
Năm 2005, Lương Minh Tuấn (2005) [42], nghiên cứu MTLĐ của công
nhân Công ty đóng tàu Hồng Hà thấy nhiệt độ tại phân xưởng oxy- trang trí
và Vỏ tàu trung bình là 32,0
o
C. Hoàng Thị Hiếu (2007) [14] nghiên cứu
MTLĐ tại tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Bạch Đằng và Nam Triệu thấy
nhiệt độ trung bình tại buồng phun hạt mài là 40,5 ± 0,5
o
C. 8
* Tiếng ồn:
Tiếng ốn là một trong những yếu tố nguy cơ nghề nghiệp ở công nhân
đóng tàu, đặc biệt là ở những người liên quan đến việc sửa chữa. Nguồn tiếng
ồn từ các máy cắt gỗ (có thể lên tới 120dB) [50] hoặc từ các máy mài, cắt, hàn
và dập kim loại Các nghiên cứu về MTLĐ ở nhà máy đóng tàu cho thấy
tiếng ồn cao nhất là 135dB khi cắt kim loại, 111dB khi mài, 117dB khi bào;
trong 8 giờ lao động, công nhân nồi hơi và thợ lắp ống tàu phải thường xuyên
tiếp xúc với tiếng ồn 93dBA và 94 dBA.
Tiếng ồn là nguy cơ dẫn đến điếc nghề nghiệp (ĐNN), tăng huyết áp và
các rối loạn chức năng khác ở người lao động [6], [7], [32], [139], [141],
[147]. Mặt khác, các yếu tố bất lợi trong MTLĐ đã kết hợp làm tăng nguy cơ
thiếu hụt thính lực. Công nhân đóng tàu thường tiếp xúc với các dung môi
thấy một nửa số công nhân có triệu chứng khởi phát của bệnh Raynaud.
Tình trạng rối loạn cơ xương nghề nghiệp (cấp tính hoặc mạn tính)
cũng là nguyên nhân dẫn đến nghỉ việc và bệnh nghề nghiệp (BNN) ở công
nhân đóng tàu. Ảnh hưởng của công cụ gây rung đến chức năng bàn tay đã
được chứng minh bởi sự giảm tốc độ dẫn truyền thần kinh ở cổ tay, bàn tay và
các ngón tay trong một bộ phận công nhân đóng tàu ở Mỹ [56]. Nghiên cứu
của Cherniack M. và cs. (2008) [58] cũng cho thấy có tương quan thuận giữa
tỷ lệ rối loạn vận mạch ở bàn tay với cường độ và thời gian tiếp xúc với các
công cụ gây rung ở 214 đối tượng. Herberts P. và cs. (1981) [73] thấy rằng
tình trạng rối loạn cơ xương vùng vai chiếm tới 18% ở công nhân trong một
xưởng đóng tàu và cũng có nhiều người rối loạn cơ xương ở khuỷu tay.
* Bụi silic:
Bụi silic là nguyên nhân dẫn đến các bệnh tai mũi họng, bệnh hô hấp và
đặc biệt là bệnh bụi phổi silic (BBPSi) nghề nghiệp [1], [61], [62], [71],
[118]. Trong hai năm 2007 - 2009, Viện Nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Bảo
hộ lao động đánh giá hiện trạng MTLĐ một số doanh nghiệp đóng và sửa
chữa tàu thủy thấy MTLĐ bị ô nhiễm nặng nề. Tại khu vực phun cát, nồng độ
bụi chứa silic tự do vượt TCVSLĐ hàng chục đến hàng trăm lần [22].
10
Hoàng Thị Hiếu (2007), [14] khảo sát MTLĐ tại tổng công ty Công
nghiệp tàu thủy Bạch Đằng và Nam Triệu nồng độ bụi tại các vị trí lao động
vượt TCVSLĐ nhiều lần, hàm lượng silic tự do trong bụi tại buồng phun cát
rất cao; với công nghệ phun hạt mài, hàm lượng bụi sắt trong bụi vượt
TCVSLĐ từ 2- 2,5 lần và vẫn tồn tại silic tự do. Tại vị trí cạo gỉ hàm lượng
sắt trong bụi vượt TCVSLĐ từ 1,46- 1,69 lần [16].
Nguyễn Bích Diệp và cs. (2008) [10] nghiên cứu cắt ngang tại một
doanh nghiệp cơ khí đóng tàu, khảo sát điều kiện lao động, hồi cứu các kết
quả MTLĐ, phỏng vấn trực tiếp 300 công nhân về điều kiện làm việc thấy các
yếu tố môi trường làm việc chưa đảm bảo an toàn- vệ sinh lao động (AT-
3
không
khí). Điều này chứng tỏ MTLĐ của công nhân đóng tàu có ô nhiễm amiang,
nhưng vẫn trong giới hạn cho phép. Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho thấy,
trước những năm 1980, công nhân đóng tàu bị phơi nhiễm amiang mức độ
nặng.
Welch S. L. và cs. (2007) [143] nghiên cứu trên 18.211 công nhân
luyện kim Bắc Mỹ thấy công nhân đóng tàu có các bệnh liên quan đến amiang
tăng cao gấp 1,8 lần. Điều này đã được khẳng định qua một nghiên cứu dài từ
năm 1966 đến 1975 ở 253 công nhân đóng tàu ở Anh: 17 trường hợp tử vong
do các bệnh ác tính liên quan đến amiang và 21% trường hợp dày dính màng
phổi trên X quang lồng ngực [119]. Ở Pháp, từ năm 1999 đến 2005 đã có
1.879 công nhân đóng tàu mắc các bệnh amiang nghề nghiệp, chụp phim CT
lồng ngực định kỳ cho 22% số công nhân thấy có trên một nửa là mắc bệnh
(dày hoặc dính màng phổi). Bệnh amiang nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao ở nhóm
công nhân nồi hơi (27%), thợ đường ống và thợ hàn.
Krstev S. và cs. (2007) [90] nghiên cứu tình hình tử vong của 4.702
công nhân (4.413 nam và 289 nữ) ở nhà máy đóng tàu của Cảnh sát biển (Mỹ)
từ tháng 1/1950 đến 31/12/1964 và được theo dõi đến 31/12/2001 thấy tỷ lệ tử
vong chuẩn cho tất các nguyên nhân là 1,08 (CI 95%: 1,04- 1,12); ung thư
đường hô hấp (tỷ lệ tử vong chuẩn: 1,29; CI 95%: 1,15-1,43), ung thư phổi (tỷ
lệ tử vong chuẩn: 1,26; CI 95%: 1,12-1,41), ung thư trung biểu mô (tỷ lệ tử
vong chuẩn: 5,07; CI 95%: 1,85-11,03) và khí phế thũng (tỷ lệ tử vong chuẩn:
1,44; CI 95%: 1,01-1,99); thấp hơn là bệnh tim mạch (tỷ lệ tử vong chuẩn:
12
0,95; CI 95%: 0,90- 1,00 ), tổn thương mạch máu của hệ thần kinh trung ương
(tỷ lệ tử vong chuẩn: 0,80; CI 95%: 0,67- 0,96), xơ gan (tỷ lệ tử vong chuẩn:
0,38; CI 95%: 0,25- 0,57) và nguyên nhân khác (tỷ lệ tử vong chuẩn: 0,55; CI
95%: 0,44- 0,68). Không thấy xu hướng tăng tỷ lệ tử vong theo thời gian làm
văn phòng là 1,67 (CI 95%: 1,12-2,49), 2,13 (CI 95%: 1,37-3,36), và 3,71 (CI
95%: 1,68- 8,19). Như vậy, nguy cơ gia tăng ung thư dạ dày, ung thư gan và
ung thư phổi ở công nhân đóng tàu có thể do một số yếu tố nghề nghiệp trong
nhà máy đóng tàu gây nên.
1.1.2.2. Nguy cơ sức khỏe nghề nghiệp do các yếu tố hóa học
Công nhân đóng tàu còn bị phơi nhiễm với các hydrocarbon ở nhiều
dạng khác nhau [19], [82], [86], [92], [100], [124]. Hydrocacbon thơm được
tìm thấy trong các dung môi có chứa toluen và xylen (43% người lao động
tiếp xúc) được sử dụng rộng rãi khi sơn tàu và styren được sử dụng trong
đóng tàu [50], [96], [127]. Đây là những chất gây ức chế hệ thần kinh trung
ương và có nguy cơ gây các tổn thương ở hệ thần kinh. Các chất này gây kích
ứng da và hệ thống hô hấp, với số lượng lớn có nguy cơ gây phù phổi, chán
ăn và ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa. Toluen còn là chất gây ung thư, gây
quái thai và viêm cầu thận [102]. Các hóa chất khác cũng có nguy cơ gây ung
thư như benzen gây bạch cầu, trichloroethylen gây ung thư thận cũng đã từng
được sử dụng trong ngành đóng tàu trước khi bị cấm [111], [124]. Phơi nhiễm
nghề nghiệp có thể xảy ra trực tiếp (sử dụng sản phẩm) hoặc gián tiếp, thông
qua các vận chuyển sản phẩm (xăng dầu). Điều này cũng đúng với các sản
phẩm dầu, bằng chứng là sự gia tăng của ung thư phổi và ung thư da được tìm
thấy ở những người làm việc trên tàu chở dầu [101].
Styren có ảnh hưởng đến hệ thống máu được sử dụng trong các polyme
hoá các loại nhựa polyester và chiếm 40% trọng lượng của các loại nhựa này
[50].
14
Khi sơn tàu, người lao động phải tiếp xúc với các dung môi thơm như
xylen, toluen có ở trong sơn và dung môi. Ngoài ra, trong dung môi còn có
ketone, aldehyde, các ester và glycol gây khó thở và ức chế hệ thần kinh
trung ương. Nồng độ các chất này tăng lên khi lao động trong khoảng không
gian kín, chật hẹp (hầm tàu) [120], [128].
khi
mài cát, nồng độ Dichlofluanide là 0,14 ppm; xylen và ethylbenzen là 52,6
ppm và 33,2 ppm.
Những hóa chất độc xâm nhập vào cơ thể thông qua hệ thống hô hấp và
da. Chang F. K. và cs. (2007) [52] thấy rằng khi đeo mặt nạ, nồng độ xylen
and ethylbenzin mà thợ sơn bị phơi nhiễm đã giảm 96% và 94%. Một nghiên
cứu khác của Chang F. K. và cs. (2007) [51] cũng cho thấy tỷ lệ xylen hấp thụ
qua da ở thợ sơn tàu là khoảng 63%.
Xin J. và cs. (2011) [149] nghiên cứu nồng độ chất Dichlorodiphenyl-
trichloroethan thường có trong sơn chống gỉ ở các nhà máy đóng tàu của
Trung Quốc thấy dao động từ 0,06- 8.387,24 mg/kg. So với các nhà máy sản
xuất sơn, các nhà máy đóng tàu bị ô nhiễm nặng hơn, làm ảnh hưởng đến sinh
thái, cư dân cũng như người lao động.
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, công nghệ sửa chữa và đóng tàu
thủy có thể làm phát sinh các khói hàn, hơi khí độc khác [42], [137].
Lương Minh Tuấn (2005) [42] khảo sát các loại hơi khí độc phát sinh
trong tại các phân xưởng của Công ty đóng tàu Hồng Hà là khí CO, CO
2
,
aceton, hơi chì và SO
2
thấy các mẫu đo đều thấp hơn TCVSLĐ. Tuy vậy, nếu
tiếp xúc thường xuyên, liên tục và lâu dài với các chất khí này vẫn có thể ảnh
hưởng đến sức khỏe của người lao động.
Như vậy, công nhân đóng tàu phải lao động trong môi trường có nhiều
yếu tố bất lợi: nhiệt độ và độ ẩm cao, tiếng ồn, bụi silic và các hơi khí độc
như CO, CO
2
, SO
2
việc (p<0,05). Lao động nữ có tỷ lệ rối loạn cơ xương ở vùng cổ và vai cao
hơn so với các công nhân nam (p<0,05). Tình trạng rối loạn cơ xương ở vùng
cổ, thắt lưng và vai có liên quan với tuổi và thời gian lao động.
17
Nguyễn Bích Diệp và cs. (2008) [10] nghiên cứu ở một nhà máy đóng
tàu thấy hầu hết công nhân làm việc ngoài trời (86,7%) và thường xuyên vận
chuyển nguyên vật liệu nặng bằng tay (78,3%). Thời gian làm việc của công
nhân 8 giờ/ngày và cả 7 ngày/tuần. Tư thế làm việc của công nhân chủ yếu là
tư thế đứng và ngồi xổm trên mặt đất chiếm 84,7- 90% và các tư thế bất hợp
lý khác là cúi (46%) và vặn (26%).
1.2.2. Bệnh da nghề nghiệp
Do tiếp xúc với hoá chất cũng như các yếu tố vật lý như tia cực tím, tia
bức xạ, nhiệt độ nóng lạnh và những yếu tố cơ học nên công nhân đóng tàu dễ
bị các tổn thương da cấp tính hoặc mạn tính [15], [113].
Peltonen L. và cs. (1983) [113] nghiên cứu trên 2.057 công nhân đóng
tàu thấy 16% bị tổn thương da. Lê Thực (1999) [28] nghiên cứu bệnh ngoài
da của cán bộ, nhân viên ngành đường thuỷ nội địa cho thấy tỷ lệ mắc bệnh
ngoài da là 21,0%. Trong đó nấm da 28,2%, bệnh da dị ứng 16,6%, sạm da
15,7%, viêm da tiếp xúc 14,9%, bệnh da nhiễm khuẩn 11,2% và các bệnh da
khác 13,2%.
Hoàng Thị Hiếu (2007) [15] nghiên cứu cơ cấu bệnh ngoài da ở công
nhân Nhà máy đóng tàu Hạ Long trong hai năm 2005- 2006 thấy tỷ lệ mắc
bệnh ngoài da của nhóm nghiên cứu là 27,8%, trong đó nhóm sản xuất trực
tiếp có tỷ lệ mắc là 29,2%; nhóm sản xuất gián tiếp là 18,9%; nhóm trực tiếp
có nguy cơ mắc bệnh ngoài da cao gấp 1,8 lần so với nhóm gián tiếp
(p<0,01). Loét da do bỏng hàn và sạm da là cao nhất (30% và 25,8%). Tỷ lệ
mắc bệnh ngoài da ở nam chiếm 25,5%, nữ chiếm 38,3%. Nguy cơ mắc bệnh
ngoài da ở nữ cao gấp 1,5 lần so với nam (p<0,001). Vị trí xuất hiện tổn
thương ngoài da chủ yếu là ở tay chiếm 90,1%; sau đó là ở mặt và cổ chiếm
Tại Anh, Wollaston J.F. (1992) [146] đã ghi nhận được 8.939 vụ tai
nạn trong ngành đóng và sửa chữa tàu, tỷ lệ là 7.010 vụ tai nạn/100.000 người
vào năm 1974, với 19 vụ tai nạn gây tử vong vào năm 1973 và 1975.
19
Kośmider K. và cs. (1997) [88] theo dõi trong 5 năm (1989-1993) ở
Nhà máy đóng tàu Szczecin thấy có 1.317 tai nạn liên quan đến nghề nghiệp
của nam công nhân đóng tàu. Tỷ lệ tai nạn cao nhất là ở các nhóm nghề như
thợ hàn, ống tàu, cơ khí điện và máy tàu. Các yếu tố liên quan đến tình hình
tai nạn lao động là tuổi, thâm niên nghề nghiệp và loại hình lao động.
Ở Việt Nam, Nguyễn Bích Diệp và cs. (2008) [10] nghiên cứu AT-
VSLĐ tại một doanh nghiệp cơ khí đóng tàu cho thấy các tai nạn xảy ra với
các công nhân có tuổi nghề từ 1- 5 năm (chiếm 62,2%), ở các công nhân nam
(chiếm 96,2%) và chủ yếu ở lứa tuổi 18- 30 tuổi (66%).
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Bích Diệp và cs. (2008) [11] ở công
nhân đóng tàu cho thấy tai nạn lao động chủ yếu xảy ra ở các công nhân mới
vào nghề. Thời gian xảy ra nhiều tai nạn là mùa hè từ tháng 6 đến tháng 9
(10,3- 13,8%) và các tháng cuối năm khi phải làm nhiều việc để hoàn thành
kế hoạch như tháng 11 (16,6%). Gánh nặng bệnh tật do bị tai nạn thương tích
của công nhân cơ khí là 2,8 DALY/100 người. Chấn thương phần mềm làm
mất số năm sống khoẻ mạnh do tai nạn thương tích cao nhất 1,535 DALY
(34,4%). Nam giới có tổng số DALY bị mất đi cao hơn so với nữ (3,743
DALY: 92,6% ở nam so với 0,297 DALY ở nữ chiếm 7,4%). Số DALY bị
mất đi nhiều nhất là ở lứa tuổi từ 21- 30 tuổi.
1.2.4. Bệnh điếc nghề nghiệp
Điếc nghề nghiệp là vi chấn thương âm do tiếp xúc với tiếng ồn nơi lao
động có cường độ lớn (≥90 dB) thường xuyên hàng ngày (6- 8 giờ/ngày),
trong thời gian dài (≥3 tháng) gây nên các tổn thương không hồi phục, đối
xứng cả hai tai của cơ quan tiếp âm [12], [18], [24].
Trong quá trình phát triển công nghiệp số người lao động trong môi
tính chất, thời gian tiếp xúc), các yếu tố độc hại kết hợp mà còn phụ thuộc vào
khả năng đáp ứng của cơ thể người tiếp xúc (tính thụ cảm, tuổi đời, tình trạng
cơ quan thính giác…) Những người bị các bệnh ở tai dễ bị ĐNN, trừ các
21
trường hợp bị xốp xơ tai, cứng khớp bàn đạp trong hệ thống dẫn truyền âm
của tai [60], [67], [99], [126], [133]. Người lao động trong môi trường luyện
cán thép, các máy nghiền quay, máy mài, máy cắt và rèn búa máy đều có
thể bị tác động gây hại của tiếng ồn [103], [112].
Để dẫn đến ĐNN, thời gian tiếp xúc với tiếng ồn gây hại phải trên 3
tháng, thời gian tiếp xúc càng lâu thì tỷ lệ ĐNN càng tăng. Thời gian tiếp xúc
tiếng ồn trong ngày cũng rất quan trọng, với tiếng ồn 85- 90dB thì thời gian
tiếp xúc trong ngày là 6- 8 giờ. Nếu cường độ cao hơn thì thời gian tiếp xúc ít
hơn cũng gây hại [64], [69], [114], [135].
Tiếng ồn phối hợp với rung xóc sẽ làm tăng nguy cơ ĐNN khi rung xóc
truyền tiếng ồn theo đường xương đến tai trong [76].
Nasir H. M. và cs. (2012) [106] nghiên cứu ở 358 công nhân làm việc
tại các sân bay của Malaysia từ tháng 11/2008 đến 3/2009 thấy tỷ lệ thiếu hụt
thính lực là 33,5%. Các yếu tố làm tăng nguy cơ thiếu hụt ở người lao động là
>40 tuổi (OR: 4,3; CI 95%: 2,2-8,3), thời gian tiếp xúc tiếng ồn >5 năm (OR:
2,5; CI 95%: 1,4-4,7), hút thuốc lá (OR: 2,1; CI 95%: 1,2- 3,4), thời gian
phục vụ >5 năm (OR: 2,1; CI 95%: 1,1- 3,9), tiếp xúc với tiếng ồn (OR: 6,1;
CI 95%: 1,3- 29,8), tiếp xúc với rung xóc (OR: 2,2; CI 95%: 1,1- 4,3) và làm
việc trong đơn vị kỹ thuật (OR: 5,9: CI 95%: 1,1- 30,9). Tỷ lệ thiếu hụt thính
lực ở người không hút thuốc ≤40 tuổi; hút thuốc ≤40 tuổi, không hút thuốc
>40 tuổi và hút thuốc >40 tuổi tương ứng là 1,0; 1,7; 2,8 và 4,6.
Người ta đề cập đến hai vấn đề chính về cơ chế bệnh sinh của bệnh
ĐNN: thần kinh và cơ học. Cơ chế thần kinh đã được nghiên cứu từ cuối thế
kỷ XI. Năm 1880, Habermann quan sát thấy tiếng ồn gây nên những thương
tổn ở bộ phận thần kinh của cơ quan thính giác, ngày nay người ta quan sát
nhà máy đóng tàu từ năm 1968 đến 1978 thấy ô nhiễm MTLĐ là nguyên nhân
dẫn đến BNN. Nguy cơ mắc bệnh cao nhất là tại các vị trí làm việc của thợ
rèn, thợ hàn và phun sơn. Các nhóm nghề khác nhau có tỷ lệ mắc BNN khác
23
nhau: thợ hàn thường bị BBPSi (45,9%), thợ rèn mắc ĐNN (78,5%) và thợ
phun sơn mắc bệnh da nghề nghiệp (44,6%). Tỷ lệ BNN ở nhóm công nhân
trên 40 tuổi cao gấp 6,5 lần so với nhóm công nhân trẻ tuổi.
Wu T. N. và cs. [148] kiểm tra 9.535 công nhân tiếp xúc với tiếng ồn
cao >85 dBA thấy có 3.216 người (34%) giảm sức nghe do tiếng ồn với
ngưỡng nghe cao hơn 40 dBA ở một hoặc cả hai tai. Trong số này những
nghề có tỷ lệ giảm sức nghe cao là xây dựng (38,6%), đóng và sửa chữa tàu
(19,2%), công nghiệp sản xuất vũ khí (13,6%).
Ở Việt Nam, trong ngành công nghiệp đóng tàu, tỷ lệ ĐNN cũng khá
cao. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Toán (1994) [31] cho thấy tiếng ồn khi gõ gỉ
trên boong của xí nghiệp Canô xà lan Hà Nam Ninh là 109 dBA, trong hầm
tàu là 114dBA và tỷ lệ ĐNN của công nhân gõ gỉ là 11,6%.
Nghiên cứu của Phan Tuấn (1995) [41] cho thấy tỷ lệ ĐNN trong
ngành đóng tàu tại Hải Phòng là 9,64%, trong đó ĐNN loại nhẹ là 35,43%;
loại vừa là 29,13% và loại nặng là 18,11%.
Lương Minh Tuấn (2005) [42], nghiên cứu trên 161 đối tượng tiếp xúc
với tiếng ồn nguy hại ở Công ty đóng tàu Hồng Hà thấy bệnh ĐNN chiếm tỷ
lệ 9,9%. Tuổi nghề càng cao tỷ lệ công nhân bị ĐNN càng tăng: tăng từ 4,8%
ở nhóm có tuổi nghề ≤10 năm lên 8,3% ở nhóm có tuổi nghề 11- 15 năm và
14,1% ở nhóm có tuổi nghề >15 năm. Mối tương quan giữa tuổi nghề và tỷ lệ
bệnh ĐNN là mối tương quan thuận với r= 0,58 (p<0,05).
Nguyễn Thị Quỳnh Hương (2007) [21] nghiên cứu trên 150 công nhân
tiếp xúc với tiếng ồn thấy ĐNN tập trung nhiều ở các phân xưởng Vỏ tàu (14
người: 19,7%), phân xưởng máy và trang trí (8 người: 10,1%). Trong số 22
trường hợp mắc bệnh ĐNN, 11 trường hợp thiếu hụt thính lực ở mức nhẹ
anh) gây ra BBPSi và các hạt nhỏ có đường kính 1µm là loại rất nguy hiểm.
Silic tự do (tinh thể) tồn tại dưới ba dạng khác nhau là quartz,
cristobalit và tridymit. Quartz và tridymit có dạng tinh thể 6 góc; Cristobalit
có dạng tinh thể lập phương. Dạng không tinh thể của silic (silic vô hình)
được xem là ít có khả năng gây xơ hóa phổi. Nhiệt độ cao có thể làm thay đổi
cấu trúc dạng tinh thể của silic. Nguồn gốc đầu tiên của silic là quartz. Quartz
là một khoáng chất được tìm thấy ở hầu hết các khoáng chất trầm tích và nó là
25
một thành phần quan trọng của phần lớn các loại đá như granite, đá cát. Đó
cũng là lý do giải thích vì sao công nhân trong nhiều ngành, nghề khác nhau
tiếp xúc với bụi silic và mắc BBPSi [46], [145], [151], [157].
Bệnh bụi phổi- silic là bệnh mạn tính, tiến triển và cấp tính. Biểu hiện
lâm sàng và bệnh học của bệnh phản ánh cường độ tiếp xúc khác nhau, các
giai đoạn tiềm tàng và lịch sử tự nhiên. Thể bệnh mạn tính hoặc kinh điển
thường xảy ra sau một hoặc nhiều năm tiếp xúc với bụi hô hấp có chứa thạch
anh, bệnh có thể tiến triển thành loại xơ hóa khối tiến triển. Thể bệnh cấp tính
có thể xuất hiện sau thời gian ngắn, tiếp xúc quá mức với lượng lớn bụi hô
hấp có chứa hàm lượng silic cao [17], [74].
Không phải toàn bộ công nhân tiếp xúc với bụi silic đều mắc BBPSi.
Trong cùng một điều kiện lao động, có người mắc, có người không, tình trạng
bệnh khác nhau, các biểu hiện bệnh và nhất là sự tiến triển của bệnh cũng
khác nhau. Nhiễm khuẩn đường hô hấp (viêm phế quản và phổi cấp tính) đặc
biệt là mạn tính sẽ làm tăng nguy cơ mắc BBPSi. Bệnh bụi phổi-silic làm cho
dễ mắc lao phối hợp vì làm cho vi khuẩn lao dễ phát triển và làm cho bệnh lao
nặng thêm lên vì bụi silic kích thích phát triển các tổn thương lao. Ngược lại,
bệnh lao thuận lợi cho sự phát triển của BBPSi vì làm tăng tổ chức hạt xơ
[36], [37], [47].
Ngày nay khoa học đã phát triển mạnh, con người đã có nhiều biện
pháp kiểm soát và ngăn ngừa BBPSi, nhưng ở nhiều nước công nghiệp phát