thăm dò nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ tiệc cưới tại khách sạn hải âu – quy nhơn - Pdf 24

I HC HU
KHOA DU LCH

KHểA LUN TT NGHIP I HC
THM DOè NHU CệU CUA KHAẽCH
HAèNG
I VẽI DậCH VU TIC CặẽI TAI
KHAẽCH SAN
HAI U - QUY NHN
Sinh viờn thc hin
NGễ TH THANH TM
Lp: K44-TC&QLSK
Giỏo viờn hng dn
ThS. M DUY LONG
Huế, tháng 05 năm 2014
Để hoàn thành được bài khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố
gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm
giúp đỡ của trường, của quý thầy cô, đơn vị thực tập, người thân và
bạn bè.
Tôi xin phép gửi lời biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô Khoa Du
Lịch-Đại học Huế đã hết lòng giảng dạy, trang bị kiến thức cho tôi
trong suốt quá trình học tập tại trường, đặc biệt là thầy Th.S Đàm
Duy Long - người đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ, động
viên tôi trong suốt quá trình làm khóa luận này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các cô chú, anh
chị làm việc tại khách sạn Hải Âu – Quy Nhơn và người dân thành
phố Quy Nhơn đã tạo điều kiện cho tôi thực tập, điều tra, thu thập số
liệu, tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài khóa luận.
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài không
tránh khỏi thiếu sót. Kính mong sự đóng góp của tất cả mọi người để
khóa luận của tôi có thể hoàn thiện hơn.

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong đời sống tinh thần của người Việt, lễ cưới là một sự kiện đặc biệt quan
trọng trong cuộc đời mỗi con người. Cưới là một phong tục, là một nghi lễ đậm đà
phong vị dân tộc. Để phong tục tập quán có một nền gốc quy củ vững vàng, người
xưa đã đặt ra nghi lễ hôn nhân. Ngoài sự nêu cao giá trị quan trọng câu nghĩa vợ
chồng với tình cảm yêu thương cao quý cùng sự thuỷ chung vẹn nghĩa trọn tình, còn
có mục đích tối hậu là bảo tồn tinh thần gia tộc, đề cao đạo hiếu thảo, rèn luyện xây
dựng con người biết tự trọng và tôn trọng lẫn nhau, biết giữ tròn nhân cách trong
đời sống.
Ngày nay, kinh tế không ngừng phát triển kéo theo là mức sống của người dân
cũng được nâng cao. “Phú quý sinh lễ nghĩa” thể hiển ở mọi mặt trong đời sống xã
hôi như: Giao tiếp ứng sử, ăn uống, ăn mặc, lễ nghi… và thể hiện rõ nét nhất qua
hình thức cưới xin. Đối với người Việt, việc cưới xin không chỉ là nhu cầu thiết yếu
mà còn thể hiện vị thế xã hội, tiềm lực kinh tế của người làm đám cưới.
Ở thành phố với diện tích đất đai hạn chế, nhà cửa chật hẹp thì việc tổ chức đám
cưới tại gia đang dần thay thế bằng những sự kiện trang trong, lịch sự tại các nhà
hàng, khách sạn chuyên nghiệp. Tại đây sẽ đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng từ
cơ sở vật chất, trang thiết bị đến ăn uống, phục vụ…
Nhu cầu tổ chức đám cưới tại nhà hàng khách sạn ngày càng tăng. Đây là cơ hội
cho các nhà hàng, khách sạn tìm kiếm được nguồn doanh thu lớn. Tuy nhiên là cơ
hội phát triển nhưng cũng tạo ra sức ép cạnh tranh lớn. Nắm bắt được điều đó, các
nhà hàng, khách sạn phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng
những nhu cầu khắt khe của khách hàng. Khách sạn Hải Âu (Seagull Hotel) là một
khách sạn chính thức đi vào hoạt động kinh doanh từ tháng 1 - 1991. Là khách sạn
hàng đầu của tỉnh Bình Định. Với thương hiệu được biết đến rộng rãi, khách sạn
Hải Âu – Quy Nhơn là mong đợi của du khách. Để làm được điều này, khách sạn
Hải Âu phải không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ, nắm bắt nhu cầu
khách hàng để có thể đáp ứng tốt nhất, đặc biệt là chất lượng dịch vụ tiệc cưới sứng
tầm bốn sao. Xuất phát từ lý do dó tôi chon đề tài “Thăm dò nhu cầu của khách
hàng đối với dịch vụ tiệc cưới tại khách sạn Hải Âu – Quy Nhơn”.

sử dụng dịch vụ và có nhu cầu sử dụng dịch tiệc cưới tại nhà hàng khách sạn Hải
Âu – Quy Nhơn. Phương pháp này cụ thể qua 3 bước:
SVTH: Ngô Thị Thanh Tâm 8 Lớp K44 TC & QLSK
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đàm Duy
Long
Bước 1: Xác định mẫu điều tra
Đối tượng điều tra là những khách hàng đã từng sử dụng dịch vụ tiệc cưới, đang
sử dụng dịch vụ tiệc cưới (đặt tiệc cưới hoặc tham gia tiệc cưới) và có nhu cầu sử
dụng dịch vụ tiệc cưới tại nhà hàng khách sạn Hải Âu. Tổng số mẫu điều tra là 150.
Bước 2: Thiết kế bảng hỏi điều tra
Bảng hỏi điều tra với các nội dung chính:
- Đánh giá của khách hàng về dịch vụ ăn uống.
- Đánh giá của khách hàng về cách phục vụ.
- Đánh giá của khách hàng về cơ sở vật chất kĩ thuật.
- Đánh giá của khách hàng về an ninh, an toàn.
- Đánh giá của khách hàng về dịch vụ bổ xung.
- Ý kiến và nhu cầu tổ chức tiệc cưới của khách hàng (thời gian tổ chức tiệc cưới,
không gian tiệc cưới, vấn đề khách hàng quan tâm nhất, có ý định sử dụng dịch vụ
hoặc giới thiệu cho người thân bạn bè hay không? Những vấn đề nhà hàng khách
sạn Hải Âu cần phải làm tốt hơn).
- Một số thông tin cá nhân của khách hàng có ảnh hưởng đến ý kiến của họ.
- Kênh thông tin cho khách hàng và hiệu quả truyền tin tới khách hàng.
Bước 3: Tiến hành điều tra phát bảng hỏi
Nhờ các anh chị trong nhà hàng khách sạn Hải Âu giúp đỡ phát và hướng dẫn
khách hàng, người thân, bạn bè và các mối quan hệ để bảng hỏi điều tra đạt kết quả
cao. Số bảng hỏi phỏng vấn được phát ra 150 số bảng hỏi thu về 140 đạt 93,3%.
Trong đó, số bảng hỏi hợp lệ 121 chiếm 86,43% trong tổng số bảng hỏi thu về,số
bảng hỏi không hợp lệ 19, chiếm tỉ lệ 13,57% trong tổng số bảng hỏi thu về.
• Số liệu thứ cấp:
Tập hợp thông tin, số liệu từ báo cáo của các phòng ban (phòng kinh doanh,

- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tiệc cưới tại nhà hàng
khách sạn Hải Âu – Quy Nhơn.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên việc nghiên cứu không tránh khỏi
những sai sót. Kính mong Quý thầy cô và bạn đọc góp ý để bài viết được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Ngô Thị Thanh Tâm 10 Lớp K44 TC & QLSK
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đàm Duy
Long
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
1.1 Tiệc cưới
1.1.1 Khái niệm tiệc cưới
“Tiệc” theo định nghĩa là sự bày vẽ mâm cỗ để thiết đãi mọi người.
Vậy tiệc cưới được hiểu là một loại tiệc trong đó có những nghi lễ trang trọng để
công bố sự kết hợp giữa “tân lang” và “tân gia nhân”, cô dâu chú rễ trở thành thành
viên của gia tộc dưới sự cho phép của hai gia đình và trước sự chứng kiến, chúc
phúc của mọi người.
1.1.2 Ý nghĩa của tiệc cưới trong đời sống xã hội
Trong cuộc sống, ngày xưa cũng như ngày nay, đám cưới chính là biểu hiện của
nếp sống xã hội, của nền vǎn hoá dân tộc. Nó vừa kế thừa truyền thống phong tục,
tập quán của dân tộc, vừa được cách tân ngày càng vǎn minh theo sự phát triển của
thời đại. Trong các đám cưới không thể thiếu trầu cau. Nó tượng trưng cho sự gắn
bó bền chặt của tình anh em cũng như lòng chung thuỷ sắt son trong tình cảm vợ
chồng. Cũng từ đó, trầu cau mang ý nghĩa " Miếng trầu là đầu câu chuyện". Bên
cạnh đó là rượu, gạo, thịt, bánh trái là sản phẩm đặc trưng cua nền vǎn minh nông
nghiệp lúa nước. Mỗi thứ như vậy đều có ý nghĩa nhất định trong vǎn hoá cổ truyền
Việt Nam. Trong ngày cưới, chẳng những cô dâu, chú rể, hai bên cha mẹ hoan hỉ
mà cả họ hàng nội ngoại, bạn bè, làng xóm đều hân hoan chúc mừng hạnh phúc lứa
đôi. Có thể khẳng định rằng, từ lâu, việc tổ chức lễ cưới đã là một phong tục không
thể thiếu trong cuộc sống cộng đồng, mà ý nghĩa xã hội của nó thể hiện ở nhiều khía

đám cưới được thực hiện có phần thoải mái và nhẹ nhàng hơn, nhưng vẫn đảm bảo
sự trang trọng và thiêng liêng.
Ở miền Nam, nơi mà người dân có tính cách phóng khoáng thì các nghi lễ đám
cưới được thực hiện có phần thoải mái và nhẹ nhàng hơn, nhưng vẫn đảm bảo sự
trang trọng và thiêng liêng.
Lễ cưới tại miền Nam vẫn được thực hiện với đầy đủ các nghi thức là dạm ngõ,
ăn hỏi, đón dâu. Tuy nhiên, khác với phong tục miền Bắc, ở miền Nam, nếu hai gia
đình ở cách xa nhau thì có thể bỏ qua lễ dạm ngõ, tiến hành chung lễ ăn hỏi và đón
dâu trong cùng một ngày. Khi đó, lễ vật ăn hỏi và lễ vật cúng tổ tiên khi đón dâu
cũng sẽ được gộp chung lại.
SVTH: Ngô Thị Thanh Tâm 12 Lớp K44 TC & QLSK
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đàm Duy
Long
Hôn lễ được cử hành ngay tại gia đình, trong một không gian nghiêm trang và
sạch sẽ. Thông thường các nghi lễ sẽ được thực hiện tại bàn thờ tổ tiên. Họ hàng
nhà trai đến, có người làm mai đi đầu, có một vị trưởng tộc, chú rể bưng khay trầu
có đôi đèn, chú rể phụ bưng khay việc, đi cùng là ông ba cha mẹ họ nhà trai đi chẵn
đôi, nam nữ bưng lễ vật là bốn hoặc sáu người. Quả vật mang đến nhà gái ngoài trái
cây, bánh kẹo, phải có trầu cau, có cặp đèn (nến) thật to, trùng với kích thước của
đôi chân đèn trên bàn thờ nhà gái.
Trưởng tộc nhà trai sẽ xin phép nhà gái cho nhập gia trình lễ cưới, khi được nhà
gái đồng ý thì họ nhà trai lần lượt đi vào và chính thức thực hiện các nghi lễ và trình
lễ vật cưới. Họ nhà trai sẽ kính cẩn mời nhà gái uống trà, uống rượu, mời ăn trầu,
hai bên bàn bạc và thống nhất với nhau về hôn nhân của cô dâu, chú rể và thực hiện
nghi thức tặng nữ trang cho cô dâu.
Nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất trong đám cưới miền Nam đó là lễ lên
đèn. Đây là một nghi lễ không thể thiếu trong lễ cưới, đó là một lời tuyên bố chính
thức, một sự gắn kết chính thức cô dâu và chú rể trong suốt cuộc đời. Hai ngọn nến
to do họ nhà trai mang tới sẽ được đặt trang nghiêm trên bàn thờ tổ tiên nhà gái.
Trưởng tộc họ nhà gái tuyên bố: “Xin làm lễ lên đèn”, cô dâu chú rể tự tay đốt

Có rất nhiều khái niệm về chất lượng dịch vụ được đưa ra dưới các góc độ khác
nhau, nhưng nhìn chung họ đều cho rằng chất lượng dịch vụ của người cung ứng
thông qua việc làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, mục tiêu chất lượng được đánh
giá tốt hay tồi sẽ được phản ánh qua sự cảm nhận của khách hàng khi tiêu dùng dịch
vụ, xem chất lượng dịch vụ đó đã đáp ứng được sự trông đợi của họ chưa.
“Dịch vụ là kết qua mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp
và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu
của người tiêu dùng”. (ISO 9004 – 2-1991)
Dịch vụ tiệc là một dạng của dịch vụ ăn uống, dịch vụ tiệc cung cấp một bữa ăn
thịnh soạn có sự tham gia của nhiều người nhằm thực hiện những mục đích khác nhau.
Tiệc là một bữa ăn thịnh soạn có nhiều người tham dự được tổ chức trong phòng
tiệc với đầy đủ trang thiết bị tiện nghi, sang trọng, lịch sự. Bàn ghế được sắp xếp
theo trình tự phù hợp với phòng tiệc, để thuận tiện cho việc phục vụ và đi lại của
khách. Dụng cụ dùng trong tiệc phải đồng bộ sáng bóng và được sắp xếp theo
phong cách riêng của từng buổi tiệc và từng loại tiệc. Thực đơn phong phú và đa
dạng các loại món ăn và đồ uống. Các món ăn, đồ uống được làm theo yêu cầu của
chủ tiệc. Tùy từng loại tiệc mà có các cách phục vụ khác nhau sao cho phù hợp.
SVTH: Ngô Thị Thanh Tâm 14 Lớp K44 TC & QLSK
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đàm Duy
Long
* Phân loại tiệc: Tiệc được phân thành nhiều loại khác nhau tùy vào cách tiếp
cận, mục đích của bữa tiệc.
+ Căn cứ vào chủ đề tiệc được phân ra các loại sau:
- Tiệc cưới: Tổ chức cho đám cưới đặt trước.
- Tiệc hội nghị: Tổ chức cho các hội nghị.
- Tiệc sinh nhật: Tổ chức cho các buổi sinh nhật.
Ngoài ra, còn có tiệc mừng thọ, tiệc liên hoan gia đình
+ Căn cứ vào cách thức tổ chức tiệc ta có:
- Tiệc ngồi là loại tiệc trong khi ăn tất cả mọi người đều được bố trí sắp xếp ngồi
ở những vị trí nhất định trong phòng tiệc. Tiệc ngồi thường mang tính chất trang

mãn của khách hàng phụ thuộc rất lớn vào tâm lý của họ khi tiêu dùng dịch vụ.
Trong một buổi tiệc có những khách hàng khó tính mức đòi hỏi về chất lượng dịch
vụ cao hơn mức trung bình của tất cả các khách hàng thì phải biết đặt mình vào vị
trí của khách hàng, hay còn gọi là sự đồng cảm thấu hiểu, lắng nghe và giải quyết
những phàn nàn của khách. Đây là kỹ năng có tính chất quyết định trong việc cung
ứng dịch vụ tuyệt hảo.
 Tính không thể tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng. Quá trình “sản xuất” và quá
trình tiêu dùng được diễn ra song song. Muốn sử dụng dịch vụ tiệc cưới thì phải có
mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ.
 Tính không thể cất trữ, lưu kho: Dịch vụ tiệc cưới sẽ mất nếu ta không sử dụng nó.
Không thể sản xuất, cất trữ dịch vụ tiệc cưới trong kho rồi đem bán cho khách hàng,
cơ bản dịch vụ tiệc cưới có tính vô hình. Khi dịch vụ tiệc cưới được sử dụng thì
không thể phục hồi được nữa.
 Tính không thể di chuyển: Muốn sử dụng dịch vụ tiệc cưới thì ta phải đến tận nơi tổ
chức mới có thể sử dụng. Ví dụ, không thể tham dự tiệc cưới ở khách sạn Hải Âu
nếu khách hàng ngồi ở nhà.
1.2.3 Khái niệm chất lượng dịch vụ
Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đã
đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản
phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có
liên quan”.
Như vậy, chất lượng dịch vụ tiệc cưới là mức phù hợp của dịch vụ tiệc cưới thỏa
mãn những yêu cầu đề ra hoặc định trước của khách hàng, là tổng thể chất lượng
hoạt động của nhân viên phục vụ, trang trí bàn tiệc, phòng tiệc, các yêu cầu trang
SVTH: Ngô Thị Thanh Tâm 16 Lớp K44 TC & QLSK
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đàm Duy
Long
thiết bị, cơ sở vật chất kĩ thuật cũng như các yêu cầu khác của khách như món ăn
phải ngon, hấp dẫn, trang trí đẹp…
 Một số đặc điểm của chất lượng dịch vụ:

- Khách hàng: Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ
tiệc cưới. Mỗi khách hàng là một thực thể khác nhau về trình độ, sở thích, tâm lý…
Họ cùng tiêu dùng một sản phẩm dịch vụ như nhau ở cùng một thời điểm nhưng lại
đánh giá chất lượng dịch vụ khác nhau. Do đó, đối tượng khách hàng mục tiêu là
một trong những căn cứ để doanh nghiệp đầu tư về tiện nghi phục vụ, tuyển chọn
đội ngũ nhân viên và cách trang trí phòng, bàn tiệc cho phù hợp.
- Một số yếu tố khác
Trình độ tổ chức quản lý phục vụ tiệc: Nếu người quản lý không có trình độ về
tổ chức phục vụ thì sẽ không phân công công việc hợp lý, làm cho nhân viên khó có
thể bao quát hết công việc của mình đồng thời khó có biện pháp kịp thời điều chỉnh
khắc phục sai sót xảy ra trong quá trình phục vụ tiệc cưới.
Chất lượng món ăn đồ uống: Một tiệc cưới được gọi là thành công khi mà món
ăn được chế biến ngon, đảm bảo chất lượng và mang tính nghệ thuật cao, được phục
vụ khách một cách kịp thời, nhanh chóng. Chính sự phục vụ tới khách hàng là cơ sở
để khách hàng đánh giá tốt về chất lượng tiệc cưới mà họ tham gia.
Giá cả: Tất cả các yếu tố trong tiệc cưới đề tốt tuy nhiên giá cả không phù hợp
sẽ tạo sự không hài lòng cho khách hàng. Nếu giá cao khách hàng sẽ không lựa
chọn, nếu giá thấp khách hàng sẽ nghi ngờ về chất lượng dịch vụ. Vì vậy cần phải
có một mức giá phù hợp.
1.3 Khái niệm sự hài lòng
Có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng với hơn 15,000 bài luận
và công trình của nhiều tác giả (Peterson và Wilson, 1992) và thực tế có nhiều cách
hiểu khác nhau về khái niệm này. Nói một cách đơn giản, sự hài lòng của khách
hàng chính là trạng thái/cảm nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ sau
khi đã sử dụng dịch vụ đó (Terrence Levesque và Gordon H.G McDougall, 1996).
Cụ thể hơn, sự hài lòng của khách hàng là sự phản hồi tình cảm/toàn bộ cảm nhận
của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa
SVTH: Ngô Thị Thanh Tâm 18 Lớp K44 TC & QLSK
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đàm Duy
Long

1.4 Khái niệm nhu cầu
1.4.1 Nhu cầu
SVTH: Ngô Thị Thanh Tâm 19 Lớp K44 TC & QLSK
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đàm Duy
Long
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các
sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có
những định nghĩa mang tính riêng biệt.
Theo PGS.TS. Bùi Thị Tám (2009): “Nhu cầu (needs) là khái niệm cơ bản nhất
đặt nền tảng cho marketing. Nhu cầu của con người là trạng thái cảm nhận được về
sự thiếu hụt một cái gì đó. Con người có rất nhiều nhu cầu và nhu cầu đó thay đổi
theo thời gian cùng với sự thay đổi các yếu tố khác của chính bản thân con người và
môi trường, điều kiện sống của họ. Các nhu cầu này bao gồm: Các nhu cầu cơ bản
cho tồn tại (basic physical needs ) như ăn mặc, an toàn, các nhu cầu xã hội (social
needs) như vui đùa, giao lưu, tình cảm, cộng đồng; các nhu cầ được thừa nhận và
tôn trọng (esteem needs)) như uy tín, địa vị xã hội, danh tiếng, kiến thức hiểu biết;
và nhu cầu tự khẳng định mình (self-actualization needs)”Nhu cầu có thể được cảm
nhận bằng các giác quan (vật chất), và không cảm nhận được bằng các giác quan
(tinh thần). Quan niệm tháp nhu cầu trong sản phẩm dịch vụ bao gồm 7 nhu cầu:
Sinh lý, an toàn, quan hệ xã hội, tôn trọng, thẩm mỹ, hiểu biết và tự khẳng định bản
thân. Như vậy, nó vẫn có 5 nhu cầu từ tháp nhu cầu của Maslow và 2 nhu cầu bổ
sung là thẩm mỹ và hiểu biết.
1.4.2 Đặc trưng của nhu cầu và cầu dịch vụ
TS. Nguyễn Thượng Thái (2007) nhận định: nhu cầu và cầu dịch vụ có các đặc
trưng cơ bản như sau:
- Tính phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường: Phát
triển nhanh chóng về số lượng và cao hơn về chất lượng.
- Tính vô hạn, không có điểm dừng cuối cùng: Nhận thức luôn nhỏ hơn kỳ vọng
làm cho nhu cầu dịch vụ tăng lên, cứ đáp ứng được thì cầu lại phát triển ở mức cao
hơn. Nhu cầu về hàng hóa mang tính hữu hạn nhưng nhu cầu về dịch vụ không có

khách sạn Hải Âu với tiêu chuẩn quốc tế 4 sao được thiết kế theo kiến trúc Châu Âu
hiện đại. Từ khách sạn, bạn dễ dàng thăm thú những thắng cảnh nổi tiếng của thành
phố, hay đơn giản là được hòa mình vào cái nắng gió bất tận của miền Trung.
SVTH: Ngô Thị Thanh Tâm 22 Lớp K44 TC & QLSK
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đàm Duy
Long
Với lợi thế nằm sát bờ biển, trên đại lộ An Dương Vương trung tâm thành phố
biển Quy Nhơn xinh đẹp, khách sạn Hải Âu cao 11 tầng (khu A) được xây dựng
trên diện tích 1410m
2
, với 170 phòng ngủ hiện đại, bao gồm nhiều loại phòng khác
nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của tất cả du khách như: Phòng President Suite,
phòng Deluxe, phòng Luxury (khu A có 114 phòng, khu B có 56 Phòng) bao
gồm 17 phòng suite, ban công hướng ra biển. hệ thống 5 nhà hàng sang trọng sức
chứa đến 1.000 khách với nguồn thủy hải sản dồi dào và đội ngũ đầu bếp Âu Á nổi
tiếng, mang đến những món ăn thơm ngon, hấp dẫn.
Hệ thống 03 quầy bar với không gian thật lãng mạn ở Bar hồ bơi - một vị trí cao
nhất thành phố Quy Nhơn. Từ nơi đây, bạn có thể ngắm nhìn toàn cảnh Quy Nhơn
trong vẻ đẹp lung linh, đó chính là hiệu ứng Panorama. Bạn cũng có thể thả mình
vào giai điệu du dương trong trong gian ấm cúng của Bar Cung Đình để tận hưởng
niềm hạnh phúc mà cuộc sống ban tặng cho mỗi người.
Hệ thống 4 phòng họp sức chứa từ 20 đến 400 khách với đầy đủ trang thiết bị
phục vụ hội nghị quốc tế.
Không chỉ thế, tại khách sạn, bạn có thể tận hưởng nhiều dịch vụ tuyệt vời
khác. Nếu muốn vận động, bạn có thể tham gia các trò thể thao trên biển, hay sử
dụng các thiết bị tại phòng tập thể dục.
Nếu muốn nghỉ ngơi, bạn có thể đến với phòng massage, spa… để vừa làm đẹp
vừa thư giãn thật thoải mái
Ngoài ra, hồ bơi lớn cạnh bãi biển của khách sạn sẽ mang đến bạn những phút
giây hòa mình vào làn nước trong xanh tuyệt vời nhất.

đã được Tổng cục Du lịch xếp hạng khách sạn 2 sao và trở thành hội viên chính
thức của chi hội PATA Việt Nam (9/2000), khởi đầu cho giai đoạn đưa thương hiệu
Khách sạn Hải Âu vươn ra tầm khu vực và Quốc tế. Năm 2001, Khách sạn đã đuợc
TCDL công nhận cấp hạng khách sạn 3 sao đầu tiên tại tỉnh Bình Định. Đây là cột
mốc hết sức quan trọng để Khách sạn Hải Âu trở thành sự lựa chọn số 1 của du
khách khi đến với Quy Nhơn, Bình Định. Khách sạn đầu tiên thành lập có 34 công
nhân viên của công ty xây dựng 47. Năm 2003, Khách sạn Hải Âu là hội viên chính
thức của Hiệp hội Du lịch Việt Nam. Với tầm nhìn và chiến lược phát triển du lịch,
SVTH: Ngô Thị Thanh Tâm 24 Lớp K44 TC & QLSK
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đàm Duy
Long
Khách sạn Hải Âu được Công ty CP xây dựng 47 tiếp tục đầu tư 1 tòa nhà 11 tầng
với 170 phòng ngủ có trang thiết bị hiện đại, hệ thống các nhà hàng, Trung tâm hội
nghị, các dịch vụ hỗ trợ khép kín chất lượng cao: Massage, Spa, Dịch vụ thể thao và
vui chơi giải trí trên biển… rất đa dạng, phong phú, đội ngũ CBCNV phục vụ
chuyên nghiệp và tận tâm. Năm 2007, Khách sạn Hải Âu tiếp tục được TCDL xếp
hạng cho khu A là khách sạn 4 sao. Song song với sự phát triển trong lĩnh vực kinh
doanh khách sạn. Trung tâm du lịch lữ hành Hải Âu – trực thuộc Khách sạn Hải Âu
cũng đã ra đời năm 2007 hướng tới tổ chức các chương trình du lịch trong nước và
nước ngoài, đã tổ chức tour đi các nước: Thái Lan, Trung Quốc, Singapore,
Malaysia, Lào, Campuchia, Hàn Quốc,…
Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, với sự tập trung chỉ đạo tực tiếp
của Công ty CPXD 47, sự quản lý chặt chẽ, điều hành năng động của lãnh đạo
khách sạn cùng với sự nổ lực cao của tập thể cán bộ công nhân viên, khách sạn Hải
Âu đã không ngừng phấn đấu vươn lên và phát triển nhanh chóng bền vững, khẳng
định thương hiệu của mình trong hệ thống khách sạn trên toàn quốc và Quốc tế.
Trong suốt chặng đường hơn 20 năm qua, Khách sạn đã vinh dự đón nhận nhiều
Huân chương, Huy chương và nhiều bằng khen, cờ thi đua của Đảng, Nhà nước và
các cơ quan, Ban ngành khác trao tặng. Đặc biệt giai đoạn 2004 -2010, Khách sạn
hải Âu liên tục nhận nhiều giải thưởng tiêu biểu như: Huân chương lao động hạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status