BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM NGUYỄN BÁCH
CHUYÊN ĐỀ III LUẬN ÁN TIẾN SĨ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÒA ÂM VÀ PHỨC ĐIỆU
TRONG SÁNG TÁC HỢP XƯỚNG
CỦA MỘT SỐ NHẠC SĨ Ở TP. HỒ CHÍ MINH
Hà Nội, 2014
Hà Nội, 2014
1
MỞ ĐẦU
Theo PGS TS Vũ Nhật Thăng, “Thời gian, không gian là hình thức tồn tại
của nghệ thuật âm nhạc….Từ một hình thức tồn tại của âm thanh, thời gian đã trở
thành một phương tiện biểu hiện… Cũng như thời gian, không gian âm nhạc, từ
một hình thức tồn tại của âm thanh đã trở thành một yếu tố cấu tạo âm nhạc.”
1
Trong ngôn ngữ âm nhạc, hòa âm
2
là một yếu tố không gian hay nói đơn giản hơn,
là chiều đứng của không gian âm nhạc, bởi nó liên quan đến việc kết hợp các âm ở
cao độ khác nhau. Không có khái niệm “cao” hay “thấp” thực sự khi so sánh các
âm. Âm được gọi là “cao” chỉ là kết quả dao động nhanh hơn một âm “thấp” khác.
Bên cạnh đó, phức điệu
3
là một yếu tố thời gian hay chiều ngang của không gian âm
nhạc. Nó giúp cho những giai điệu khác nhau được ghi nhớ trong ký ức người nghe.
Khi nghe một tác phẩm âm nhạc có người chú ý nhiều đến hòa âm, có người lại bị
lôi cuốn bởi giai điệu hoặc phức điệu (đối với tác phẩm nhiều bè). Theo chúng tôi,
một tác phẩm âm nhạc nhiều bè mà ta cho là hay thì cần phải có cả phần hòa âm và
phức điệu đáng nhớ. Sáng tác hợp xướng thuộc loại âm nhạc nhiều bè nên cũng cần
phải có hai yếu tố đó.
Trải qua một khoảng thời gian dài từ trước năm 1975 đến nay, thành phố
Hồ Chí Minh là nơi có nhiều tác phẩm hợp xướng đa dạng, từ tôn giáo đến thế tục,
được sáng tác hoặc được dàn dựng, biểu diễn. Việc nghiên cứu một số tác phẩm
hợp xướng tôn giáo và thế tục có thể giúp nhận ra ngôn ngữ hòa âm và phức điệu
sáng tác được dùng trong các tác phẩm, vì đó là phương tiện thể hiện sự phát triển
phong phú của xã hội. Trong các thủ pháp sáng tác thì hòa âm và phức điệu là hai
nội dung quan trọng nhất góp phần tạo nên không gian âm nhạc. Vì vậy, chúng tôi
chọn đề tài “Một số vấn đề về hòa âm và phức điệu trong sáng tác hợp xướng của
một số nhạc sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm chuyên đề nghiên cứu.
2. Lịch sử đề tài
Qua sưu tầm, tìm kiếm, cho đến nay chúng tôi ghi nhận được một ít công
trình khoa học, sách và tài liệu trong đó có đề cập một cách rải rác vấn đề liên quan
đến hòa âm và phức điệu trong các sáng tác hợp xướng Việt Nam như:
- “Nhạc đa điệu Việt Nam” (Vietnamese Polyphonic Music) (1993 – Hoa
kỳ) của Hải Linh. Đây là phần trình bày khái niệm tổng quát về những kỹ thuật sáng
tác nhạc hợp xướng đa âm dựa trên lời ca tiếng Việt, hệ thống hoà âm, và đối âm.
- “Tôi viết ca khúc tiếng Việt” (Nhà xuất bản “Trẻ” - 2001) của Tiến Dũng;
đặc biệt trong đó có chương “Thích ứng bản văn với ca khúc nhiều bè”. Đây là một
tài liệu được tác giả soạn để giảng dạy từ cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, sau khi
ông tốt nghiệp Tiến sĩ Sáng tác ở Nhạc viện Roma trở về Việt Nam.
- “Thiết kế nội dung đào tạo môn phối hợp xướng cho đại học sư phạm âm
nhạc” (Khoa Nghệ thuật, Đại học Sài Gòn, 2011). Đây là đề tài nghiên cứu khoa
3
học cấp cơ sở do Nguyễn Xuân Chiến, Lâm Trúc Quyên và Nguyễn Thị Thư
Nhường làm chủ nhiệm.
- Một số thủ pháp sáng tác tiêu biểu trong âm nhạc thế kỷ XX (2013, Nhà
xuất bản Âm nhạc, Hà Nội) của TS Phạm Phương Hoa. Trong cuốn sách này, ở
chương 2 của phần II “Những đổi mới trong ngôn ngữ âm nhạc thế kỷ XX” và ở
phần III “Đặc điểm âm nhạc trong các tác phẩm khí nhạc của các nhạc sĩ Việt Nam”
có một số chi tiết có liên quan đến hòa âm và phức điệu đã được sử dụng trong các
sáng tác hợp xướng mà chuyên đề này khảo sát.
- Một số bài nghiên cứu, tường trình về các nhạc sĩ sáng tác ở thành phố như
Ca Lâ Thuần, Nguyễn Văn Nam do một số nhà âm nhạc học (như Nguyễn thị Minh
phân loại các thủ pháp mà nhiều tác giả khác nhau đã sử dụng.
6. Kết cấu của báo cáo chuyên đề
Không kể tập phụ lục (gồm 160 trang) đính kèm, báo cáo này dầy 34 trang,
gồm phần Mở đầu và Kết luận. Phần Nội dung được chia thành 2 chương:
- Chương 1 – Một số thủ pháp hòa âm
4
trong các sáng tác hợp xướng.
- Chương 2 – Một số thủ pháp phức điệu
5
trong các sáng tác hợp xướng.
4
còn được gọi là “hòa thanh” như một số tác giả đã dùng. Trong chuyên đề này, chúng tôi chọn thuật ngữ
“hòa âm” theo quan niệm “từ thanh biến thành âm” như PGS TS Vũ Nhật Thăng đã đưa ra trong bài viết
“Âm và Nhạc” trích từ tập khảo luận “Đôi diều về nhạc nước ta” (Hà Nội, 2003). Qua đó, có thể hiểu
“thanh mới chỉ là cái hình thành trong trí não, chưa thể là tiếng của Nhạc được, nhưng khi phát ra làm ta
nghe thấy thì đó là âm” (trang 6).
5
còn
được gọi là “đa âm” (polyphony). Theo chúng tôi, tên gọi này chỉ đúng với nghĩa đen của từ (poly:
Hệ thống chức năng các hợp âm được chia làm 2 loại: diatonic và chromatic.
Hệ thống diatonic gồm tất cả những hợp âm chính và phụ được xây dựng trên các
6
còn
được gọi là “hài thanh, hài âm” với ý nghĩa “sự kết hợp các âm thanh khiến tai nghe hài hòa”. Chúng
tôi không nghĩ rằng âm nhạc chỉ gồm các kết hợp âm thanh hài hòa. Khái niệm hài hòa chỉ mang tính tương
đối và các kết hợp không hài hòa cũng có những giá trị của chúng. Do đó, trong chuyên đề này chúng tôi
chọn cách gọi “hợp âm”.
6
âm của các điệu thức trưởng (tự nhiên, hòa âm) hoặc thứ (tự nhiên, hòa âm và giai
điệu). Các hợp âm diatonic này kết hợp với các hợp âm át phụ và hạ át phụ hình
thành hệ thống chromatic
7
. Trong số các hợp âm diatonic dạng hợp âm có 3 nốt
(hợp âm năm), 4 nốt (hợp âm bảy) và 5 nốt (hợp âm chín) thường được sử dụng.
1.1.1. Hợp âm năm, hợp âm bảy và hợp âm chín
Hợp âm năm và hợp âm bảy được sử dụng nhiều nhất. Điều này cũng giống
như trong nhiều loại âm nhạc phương Tây ở các thời đại. Mức độ sử dụng các hợp
âm năm và hợp âm bảy trên từng bậc của một điệu thức và giữa các loại điệu thức
(trưởng tự nhiên, trưởng hòa âm, thứ tự nhiên, thứ hòa âm
8
) không giống nhau.
Trong số 18 tác phẩm được chọn, nếu không kể những đoạn chỉ có khí nhạc hoặc
chỉ có giọng lĩnh xướng trên nền nhạc cụ đệm, chúng ta có được 1498 nhịp viết cho
hợp xướng ở điệu thức trưởng tự nhiên, 636 nhịp ở điệu thức thứ tự nhiên, 413 nhịp
ở điệu thức thứ hòa âm, ngoài ra có 32 nhịp ở giọng D-dur mixolydian và 16 nhịp ở
giọng a-moll dorian trong bài “Đi cấy đi cầy” (Hồ Đăng Tín).
Mức độ sử dụng các hợp âm năm mà các tác giả đã sử dụng được biểu thị bằng
tn
, III
T
được dùng ở 17 nhịp (4,1%); hợp âm IV, IV
gđ7
Phạm Tú Hương – Vũ Nhật Thăng,“Sách giáo khoa Hòa thanh” (Nxb Âm Nhạc – Nhạc viện Hà Nội,
1993), tr. 63 và 104.
8
trong chuyên đề này chúng tôi không xét đến điệu thức thứ giai điệu vì ít được các tác giả liên quan sử
dụng đến.
7
có ở 40 nhịp (9,7%); hợp âm V được dùng trong 55 nhịp (13,3%); hợp âm bậc VI
có trong 22 nhịp (5,3%) và chỉ có 3 nhịp sử dụng hợp âm VII và 6 nhịp dùng VII
tn
(2,2%).
0
5
10
15
20
25
30
35
40
trong 1 nhịp (bên cạnh đó là 20 nhịp có hợp âm “bậc I bỏ âm 3”
9
), không dùng hợp
âm IV và V (thay bằng hợp âm V bỏ âm 3).
+ trong điệu thứ tự nhiên tỷ lệ dùng hợp âm bậc IV tương đương ở điệu thứ
hòa âm nhưng nhiều gấp đôi bậc V. Tỷ lệ này lại kém so với hợp âm V trong điệu
thứ hòa âm. Hợp âm trên bậc V của điệu thứ tự nhiên là một hợp âm thứ nên tính át
không mạnh, ít tạo cao trào, do đó ít được các tác giả sử dụng. Thậm chí ở một số
tác phẩm chỉ dùng điệu thứ tự nhiên, hợp âm V cũng được dùng rất ít như trong
“Hành quân đêm” (dài 127 nhịp, trong đó có 105 nhịp ở g-moll tự nhiên và 22 c-
moll tự nhiên nhưng chỉ có 3 nhịp dùng hợp âm V
tn,
2,4%), “Hát về Người – Hồ
Chí Minh” (68 nhịp ở giọng e-moll tự nhiên, trong đó chỉ có 5 nhịp [7,4%] dùng
hợp âm V
tn
).
+ các tác giả Việt Nam sử dụng hợp âm bậc VI tương đối ổn định trong các
điệu thức khác nhau. Hợp âm này có âm cơ bản cách âm chủ một quãng 6, là quãng
tạo sắc thái nhiều tình cảm, âu yếm, trong sáng
10
. Ngoài ra, tính chất (trưởng – thứ)
của hợp âm VI luôn luôn ngược với hợp âm chủ nên tạo sự cân bằng về mức độ
diễn cảm cho tác phẩm.
Để so sánh với cách sử dụng hợp âm trong các ca khúc phổ thông nước ngoài,
chúng ta xem kết quả phân tích hợp âm trong 1300 tác phẩm do Dave Carlton và
công bố trên trang web www.hooktheory.com vào năm 2012 trong đồ thị 2 (Phụ
lục 1, tr.1). Trong điệu thức trưởng, hợp âm bậc IV (F) và V (G) được sử dụng
nhiều (73%) hơn cả hợp âm bậc I (C, 68%). Sau 3 hợp âm chính này, hợp âm bậc
VI (vừa mang tính hạ át, vừa mang tính chủ: a, 56%) đứng đầu nhóm hợp âm phụ
F
G
Đồ thị 2
Đồ thị 3 (Phụ lục 1, tr.2) cho thấy khuynh hướng sử dụng các hợp âm 7 của
các tác giả có tác phẩm được chọn để khảo sát. Các loại hợp âm bảy thường được sử
dụng là: hợp âm bảy trưởng (7T), bảy thứ – giảm (7tgi), bảy thứ (7t), bảy thứ –
trưởng (bảy át, 7tT) và bảy giảm (7gi).
Trong 1498 nhịp ở điệu trưởng của các tác phẩm đang xét: hợp âm bảy trưởng
nằm ở các bậc I và IV, được dùng trong 8 nhịp (0,5%); hợp âm bảy thứ – giảm nằm
ở bậc VII và được sử dụng trong 16 nhịp (1,1%); hợp âm bảy thứ nằm ở các bậc II,
III, VI của điệu thức trưởng tự nhiên và có trong 72 nhịp (4,8%); hợp âm bảy át ở
bậc V và được dùng trong 52 nhịp (3,5%); hợp âm bảy giảm chỉ có trong điệu
trưởng hòa âm. Ở trong điệu thứ tự nhiên: hợp âm bảy trưởng nằm ở bậc III và VI -
hai hợp âm này chiếm 14 nhịp (2,2%) trong số 636 nhịp được xét; hợp âm bảy thứ –
giảm không được các tác giả sử dụng trong điệu thứ tự nhiên; hợp âm bảy thứ nằm
trên các bậc I, IV và V, xuất hiện trên 99 nhịp (15,6%) của phần viết trong điệu thứ
tự nhiên; hợp âm bảy thứ – trưởng (trên bậc VII) được dùng trong 2 nhịp (0,3%);
hợp âm bảy giảm không có trong điệu thức tự nhiên. Khảo sát 413 nhịp ở điệu thức
10
thứ hòa âm chúng ta thấy chỉ có 3 nhịp (0,7%) sử dụng hợp âm bảy trưởng (trên bậc
VI), 8 nhịp (1,9%) dùng hợp âm bảy thứ – giảm (trên bậc II), 4 nhịp (1%) dùng hợp
âm bảy thứ (trên bậc IV), 5 nhịp dùng hợp âm bảy thứ - trưởng được thành lập trên
bậc VII khi có ly điệu về điệu thứ tự nhiên cùng với 8 nhịp có hợp âm bảy thứ -
trưởng trên bậc V để làm chức năng át (3,2%), và hợp âm bảy giảm chỉ được dùng
một lần (0,2%).
0
2
4
thứ hòa âm để làm chức năng át (trên bậc V). Trong điệu thứ tự nhiên, hợp âm 7tT
xuất hiện trên bậc VII, không mang đặc tính át và cũng không có tính “dẫn” (do âm
bậc VII cách âm chủ 1 cung thay vì nửa cung đồng) nên ít được dùng đến.
+ Hợp âm bảy thứ được dùng cách ưu thế nhất, đặc biệt ở điệu thứ tự nhiên.
Hợp âm 7t có âm 3 và âm 7 được tạo thành bằng cách hạ nửa cung đối với bậc III
và VII của thang âm trưởng có âm chủ là âm cơ bản của hợp âm này (Ví dụ 2, Phụ
lục 2, tr.3). Nó cân bằng giữa vẻ mềm mại của hợp âm (năm) thứ với nét nghịch,
cứng cỏi của quãng 7 thứ. Vì vậy, hợp âm 7t thích hợp với điệu thứ tự nhiên (không
rõ tính trưởng, thứ).
Ví dụ 2
Hợp âm chín ít được sử dụng nhất. Trong 1489 nhịp ở điệu trưởng, chỉ có 15
nhịp (1%) sử dụng hợp âm chín; trong số đó, có đến 8 nhịp dùng hợp âm V
9
, còn lại
là I
9
và IV
9
. Tác phẩm có dùng nhiều hợp âm chín nhất (9 nhịp) là “Đi cấy, đi cầy”
(Hồ Đăng Tín) và chỉ có 5/18 tác phẩm có dùng hợp âm này.
1.1.2. Liên kết theo vòng quãng 5. Một số kiểu liên kết khác
1.1.2.1. Liên kết theo vòng quãng 5
Là lối liên kết hòa âm cơ bản của âm nhạc điệu tính, trong đó âm nền của các
hợp âm chuyển động lên quãng 4 hoặc xuống quãng 5. Nhưng trong 18 tác phẩm
hợp xướng được khảo sát trong chuyên đề này chỉ có 4 tác phẩm sử dụng liên kết
vòng quãng 5. Các tác phẩm này hoặc là hợp xướng được sáng tác từ khoảng năm
1975 trở về trước, hoặc là hợp xướng tôn giáo. Đó là:
12
* “Việt Nam tiếng hát trái tim ta” (Ca Lê Thuần, 1975): trong 161 nhịp của
toàn bộ tác phẩm chỉ có một lần sử dụng liên kết vòng quãng 5 từ nhịp 118
– Em
7
–
Am – Dm
7
– G
7
– C (n.122 – n.128]; [n.237 – n.244]
* “Bài ca Truyền tin” (Tiến Dũng): chỉ sử dụng liến kết vòng quãng 5 ở
n.42 – n.44 của bài thánh ca dài 83 nhịp viết cho hợp xướng và dàn nhạc: Bm
– Em – A – D – G
* “Đêm Giáng sinh” (thơ: Đỗ Xuân Quế; nhạc: Kim Long): liên kết vòng
quãng 5 có ở nhịp [8 – 10]: Dm – Gm – C
7
, nhịp [35 – 37]: E
7
– A
7
– D, nhịp
[57 – 60]: Em
7
– A – A
9
– D – G
1.1.2.2. Vòng phrygian và kết phrygian
Là một kiểu liên kết hợp âm thường gặp trong các sáng tác thời kỳ Baroque.
Vòng phrygian diễn ra khi phối hòa âm cho nhóm 4 âm bên trên đi xuống của thang
âm thứ tự nhiên. Kết phrygian là một loại kết nửa, nhấn mạnh vào chuyển động của
bè Basso từ âm 3 của hợp âm hạ át ở thể đảo 1 đi xuống nửa cung dị để về âm cơ
bản của hợp âm át ở thể nguyên vị (IV
Phước – Trần Văn Tín; nhịp 36 – 38; n.90 – 92; n.93 - 94), “Bài ca Truyền tin”
(Tiến Dũng; n.12 – 14; n.54 – 56; n.57 - 59), “Trở lại Trường Sơn” (Thế Bảo; n.36
– 38; n.71 – 73 [chương I]; n.303 – 306 trong phần CODA ở chương III).
Các loại liên kết hòa âm được đề cập đến trên đây, về thực chất là những giải
cho lý thuyết “tiến trình của âm nền” trong liên kết hòa âm
11
. Bên cạnh lý thuyết đó,
việc liên kết hòa âm còn dựa trên lý thuyết về công năng (“hòa âm công năng”) và
bậc thang âm. Lý thuyết bậc thang âm được đưa ra bởi Vogler (1776) và Weber
(1817 - 1821). Theo đó, khi liên kết hòa âm người ta cho bè Basso chuyển động
bằng những bậc có trong thang âm nhưng được lựa chọn theo một quy luật nào đó,
chẳng hạn chuyển động theo quãng 3 đi xuống hoặc đi lên. Chúng tôi ghi nhận một
số tác giả Việt Nam đã áp dụng thủ pháp này (các ví dụ 7,8, Phụ lục 2, tr.5,6).
11
Lý thuyết này có từ thời Rameau (1722), theo Dmitri Tymoczko, “Chuyển động âm nền, Công năng, Bậc
thang âm: Một ngữ pháp cho hòa âm điệu tính căn bản” (Đại học Princeton, Hoa Kỳ) tr. 3 - 15.
15
Ví dụ 7 - “VIỆT NAM TIẾNG HÁT TỪ TRÁI TIM TA” – Ca Lê Thuần
Ví dụ 8- “BÀI CA TRUYỀN TIN” – Tiến Dũng
(thủ pháp cho bè Basso chuyển động xuống quãng 3 được dùng ở các nhịp 25 – 26,
n.57 – 59, n.60 – 61 và n.68 – 70 trong tác phẩm nói trên)
Ngoài những kiểu liên kết cần chú ý trên đây, các tác giả vẫn thường dùng
những kiểu liên kết hợp âm năm, bảy, chín theo kiểu thường được đề cập đế ntrong
các sách giáo khoa về hòa âm, đặc biệt đối với những tác phẩm tôn giáo hoặc được
sáng tác trước năm 1975 hoặc như: “Đêm Giáng sinh”, “Bạch Đằng Giang”, “Hội
Trùng Dương”.
16
7
(III
tn
)] – 1,9%, 4
nhịp mang hợp âm át của bậc IV [chỉ có V
7
(IV)] – 0,3%, 19 nhịp dùng hợp âm át
trùng [V(V), V
7
(V), VII
7
(V)] – 1,6%, 6 nhịp có hợp âm át của bậc VI [gồm V(VI),
V
7
(VI)] – 0,5%, chỉ có 1 nhịp dùng V(VII
tn
) – 0,09% và có một nhịp được dùng hợp
âm át phụ đặc biệt là VII
7
[V(VI)] trong nhịp 29 của “Việt Nam tiếng hát trái tim
ta” (Ca Lê Thuần).
MỨC Đ
Ộ DÙNG HỢP ÂM ÁT PHỤ
H/â át của II
H/â át của III
H/â át của IV
H/â át trùng
H/â át của VI
H/â át của VII
). Biến
dạng này được Khánh Vinh sử dụng trên 1 nhịp bên cạnh 5 nhịp dùng II
6
N
trong
toàn bộ tác phẩm “Hát về người – Hồ Chí Minh”
(68 nhịp, giọng e-moll tự nhiên).
Ở điệu thứ, hợp âm bậc IV tăng âm 3 (
+3
IV) trở thành hợp âm át trùng, được sử
dụng ở một nhịp trong tác phẩm “Đi cấy – Đi cầy” (Hồ Đăng Tín, giọng d-moll tự
nhiên, nhịp 74 – hợp âm G để chuyển về C
maj7
) hay thành hợp âm hạ át của giọng
trưởng song song như trong “Bọn sát nhân” (Lê Quang Vũ, giọng d-moll tự nhiên,
nhịp 40 – hợp âm G để chuyển về D).
1.2.3.2.2. Biến âm trên hợp âm át:
Trong 129 nhịp ở giọng G-dur trích từ chương I, “Truyện Kiều”, Vũ Đình Ân
đã sử dụng một lần hợp âm bậc V tăng âm 5 (
+5
V, nhịp 76, D
+
chuyển về G). Ngược
lại, ở “Bọn sát nhân”, Lê Quang Vũ sử dụng hợp âm V
tn
7
, giảm âm 5 (
-5
V
Ca từ, hay nói hẹp hơn, dấu giọng của ca từ tiếng Việt cho đến nay vẫn là một
vấn đề gây nhiều khó khăn cho người sáng tác hoặc phối âm cho hợp xướng Việt
Nam. Các tác giả đã tìm nhiều cách khác nhau để giải quyết ổn thỏa giữa những quy
luật hòa âm Tây phương với dấu giọng Việt Nam. Qua khảo sát những tác phẩm
được lựa chọn, chúng tôi thử liệt kê một số giải pháp đã được áp dụng, góp phần tạo
nên một phong cách hòa âm cho hợp xướng Việt.
1.2.1. Hợp âm trong lối viết “thoáng mỏng”
Trong giai đoạn trước năm 1975 tại Sài Gòn nói riêng và cả miền Nam nói
chung hợp xướng vẫn còn chỉ ở mức độ phôi thai. Trong số rất ít nhạc sĩ sáng tác
hợp xướng của âm nhạc tôn giáo miền Nam, nhiều người đã trải qua khoảng thời
gian dài theo học nhạc tại nước ngoài, ít người có sáng tác và hoạt động hợp xướng
trong nước. Hải Linh được biết đến nhiều về sáng tác và chỉ huy hợp xướng trong
hoàn cảnh đó. Có người cho rằng ông thuộc lớp người “khai phá trong sáng tác và
hòa âm nhạc đạo cũng như nhạc đời”
12
. Điều này có thể đúng phần nào trong bối
cảnh của miền Nam chứ không đúng nếu xét trên cả nước. Để tìm một hướng đi cho
sáng tác hợp xướng tiếng Việt, Hải Linh chủ trương một phong cách sáng tác gọi là
“lối viết thoáng mỏng (đượm tính dân tộc)”. Hai nét chính của lối viết này là:
“trước hết cứ nắn cho giai điệu thật hay, có nhiều âm hưởng dân ca càng tốt. Sau
đó mới lựa vào hòa âm”
13
. Về hợp âm, trong các sáng tác của mình Hải Linh sử
12
Đức Giám mục Nguyễn Văn Hòa – nguyên Chủ tịch Ủy ban Thánh nhạc Việt Nam,
“Hải Linh và lối viết thoáng mỏng” (Tp. HCM, 2013)
13
ĐGM Nguyễn Văn Hòa, tài liệu đã dẫn.
chỉ giúp cho các giai điệu hợp xướng được dễ phổ biến (tập hát), dễ nhớ.
1.2.2. Tạo hợp âm đặc biệt cho phù hợp điệu thức truyền thống Việt
Do cấu tạo đặc biệt của thang âm năm âm nên đối với những tác phẩm hoặc
đoạn nhạc được viết ở điệu thức truyền thống, các tác giả không thể tạo hợp âm
theo nguyên tắc chồng quãng 3 và liên kết hòa âm theo phương Tây được. Một
trong những cách xử lý để có được những hợp âm đặc biệt là cứ để các âm (trong
điệu thức) nằm ở các bè khác nhau “ngẫu nhiên” gặp nhau. Có thể nói đây là bước
20
đầu của việc dùng chồng âm mà chúng ta sẽ đề cập chi tiết hơn ở mục 1.2. Trong
“Đèn cù”, ở nhịp 34, Viết Chung thậm chí đã dùng cả năm âm của điệu Bắc “C – D
– F – G – A” (xem thêm mục 1.1.2.4) tạo thành hợp âm (ví dụ 9, Phụ lục 2, tr.6).
Ví dụ 9- “ĐÈN CÙ” – Viết Chung
Ở “Hội Trùng dương”, Trần Chúc
khi đã sử dụng hợp âm đặc biệt ít gặp trong
hòa âm hợp xướng thường gặp đó là việc
dùng thêm âm bậc II trên hợp âm bậc VI
thành hợp âm Am
add4
hay Am
add(D)
hay
Am
sus4
(ví dụ 10, Phụ lục 2, tr.7). Đây là
một trong những đặc điểm về hòa âm của
các tác giả khí nhạc Việt Nam
14
ở rải rác trong các tác phẩm này.
Trong các hợp âm chính (I, IV, V) âm 3 là các nốt xác định tính chất “trưởng –
thứ” của điệu thức (âm định thức). Khi sử dụng hợp âm năm bỏ âm 3, các tác giả rõ
ràng loại đi yếu tố đặc thù của âm nhạc “trưởng – thứ” Tây Âu để gần hơn với âm
nhạc truyền thống Việt Nam. Đặc biệt trong trường hợp của “Đi chợ hoa” với việc
bỏ âm 3 trên nhiều nhịp liền nhau.
Ngoài ra, để hòa âm mang nhiều màu sắc dân tộc hơn, các tác giả Việt Nam
không chỉ bỏ hẳn âm 3 mà còn thường thay thế bằng các âm tạo quãng 2 và quãng 4
đối với âm cơ bản. Chúng tôi ghi nhận được nhiều hợp âm sus2 và sus4 hoặc hợp
âm có thêm một âm nào đó (add2, add4, add9, ). Đặc biệt là việc sử dụng hợp âm
năm hoặc bảy có thêm quãng 6 trưởng.
22
1.2.4. Dùng hợp âm có thêm quãng 6
Từ thời Rameau
15
đến nay, hợp âm năm (ba nốt) có thêm âm quãng 6, gọi tắt
là hợp âm thêm quãng 6 (sixte ajoutée) vẫn được sử dụng nhiều. Chúng ta có thể coi
nó như là kết quả của một âm treo hay âm nhấn
16
hay thay thế âm 5 trong hợp âm 7
át bằng âm quãng 6 (ví dụ 11, Phụ lục 2, tr.7). Ví dụ 11
Do đó, các tác giả Việt Nam thường dùng hợp âm này để thay thế hợp âm bậc
I hoặc hợp âm bảy át nhằm bớt sự chói tai của quãng 4 tăng có trong hợp âm V
7
.
Bên cạnh đó, nhiều tác giả còn sử dụng thêm hợp âm chín thêm quãng 6 (I
6/9
nhân” (n. 68).
15
(1683 - 1764), người Pháp, nhà soạn nhạc và lý thuyết âm nhạc quan trọng của thời kỳ Baroque.
16
còn gọi là âm dựa, âm láy (appoggiatura)
23
1.2.5. Dùng đồng âm giữa các bè giọng
Các tác giả Việt Nam sử dụng đồng âm giữa các bè giọng như một thủ pháp
nhằm: tạo cao trào ở những lần kết đoạn hoặc kết bài (như một kiểu hát Tutti – tất
cả cùng diễn xướng), tiết giảm việc dùng hợp âm và giải quyết vấn đề dấu giọng
của ca từ.
Trong 5 nhịp ở phần CODA cuối chương II, “Đi chợ hoa”, Nguyễn Văn Nam
đã dùng đồng âm 4 bè với mục đích đầu tiên. Hồ Đăng Tín cũng làm như vậy khi
kết vế c - đoạn B (n.63 – 65) của tác phẩm “Đi cấy – Đi cầy”. Hoàng Cương sử
dụng đoạn tutti đồng âm ở cuối “Bài ca tháng năm” để tạo hình ảnh các dân tộc tụ
hội về trong ngày thống nhất.
Để tiết giảm việc dùng hợp âm nhất là đối với một tác phẩm hợp xướng phối
âm cho một bài dân ca, hoặc sáng tác từ dân ca, nhiều tác giả dùng đồng âm như
trường hợp của Viết Chung trong “Đèn cù” (n.15 – 25: đồng âm 2 giọng Nữ trên
nền trì tục của 2 giọng Nam; n.50 – 66: đồng âm 2 giọng Nữ đối đáp với đồng âm 2
giọng Nam).
Với chủ trương “lối viết thoáng mỏng” (mục 1.1.2.1.) Hải Linh sử dụng đồng
âm bên cạnh việc cho 4 bè chuyển động cùng hướng như một cách giải quyết vấn đề
dấu giọng. Trong suốt 44 nhịp từ n.70 – 113 của đoạn B, “Cung đàn bạc mệnh”
ông sử dụng chủ yếu là đồng âm phối hợp với cách vào bè theo kiểu canon. Đến
đoạn D, từ n.141 đến n.177 ông lại dùng đồng âm Nam có 3 nhịp đồng âm 4 bè.