KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
BAO THANH TOÁN QUỐC TẾ
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : TS. Mai Thanh Quế
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Châu
Líp : TTQT A-K6
Khoa : Ngân hàng
HÀ NỘI – 2007
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 39.6 tỷ USD, tăng 22,1%
so với năm 2005. Đóng góp vào sự tăng trưởng chung của kim ngạch xuất khẩu
phải kể đến vai trò không nhỏ của các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ Việt
Nam. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu không thuộc về các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá. Những yếu điểm của doanh nghiệp
vừa và nhỏ về quy mô, mức độ đa dạng của sản phẩm, tầm quan trọng của sản
phẩm, lợi thế so sánh của sản phẩm, khả năng cung ứng và sản xuất, hoạt động phân
phối và bán hàng…khiến cho người xuất khẩu mất đi lợi thế thương lượng hợp
đồng, làm giảm đi mức độ tin tưởng của người nhập khẩu vào khả năng thực hiện
hợp đồng của người xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, phương thức thanh toán quốc tế
tốt nhất cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá
phải là phương thức làm cho người nhập khẩu có thể nhận chứng từ liên quan đến
hàng và hàng trước khi thanh toán cho người xuất khẩu (phương thức ghi sổ – O/A
– Open Account). Hoặc Ýt nhất là có thể nhận được chứng từ liên quan đến hàng
khi cam kết thanh toán cho người xuất khẩu vào một thời điểm trong tương lai
(phương thức nhờ thu kèm chứng từ –D/A – Documents against acceptance). Trên
thực tế, đây cũng là điều kiện thanh toán được các nhà nhập khẩu đề nghị. Và tại
các nước hoạt động xuất khẩu mạnh, các nhà xuất khẩu thường chào hàng với
cho các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam. Đây cũng là lý do em chọn đề tài: “Bao
thanh toán quốc tế. Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp phát triển tại Việt Nam”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Một là, đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về bao thanh toán quốc tế nhằm đem lại
những hiểu biết cần thiết về bản chất, nội dung, quy trình nghiệp vụ, lợi Ých và hạn
chế của bao thanh toán quốc tế.
Hai là, phân tích thực trạng triển khai bao thanh toán quốc tế tại Việt Nam.
Đồng thời đề cập đến những cơ hội, thách thức đặt ra cho ngành tài chính – ngân
hàng khi Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của WTO.
Ba là, phâu tích các kinh nghiệm quốc tế về phát triển bao thanh toán quốc
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
2
tế.
Bốn là, xây dựng các giải pháp phát triển bao thanh toán quốc tế tại Việt
Nam dựa trên các kinh nghiệm quốc tế.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu thực tiễn triển khai hoạt động bao thanh toán
quốc tế tại Việt Nam, nhu cầu phát triển dịch vụ này trong thời kỳ mở cửa mạnh mẽ
thị trường tài chính Việt Nam. Đồng thời chú trọng phân tích các kinh nghiệm của
một số các quốc gia trên thế giới đã phát triển thành công bao thanh toán quốc tế
nhiều năm.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp kết hợp với
việc minh hoạ bằng sơ đồ, bảng biểu nhằm mục đích làm vấn đề rõ ràng, trực quan.
Đặc biệt là phương pháp nghiên cứu tham khảo và dịch tài liệu nước ngoài.
5. KẾT CẤU CỦA KHOÁ LUẬN
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung chính của khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ BAO THANH TOÁN QUỐC TẾ
Chương 2. BAO THANH TOÁN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG
Theo hiệp hội các nhà Factor quốc tế (FCI) :
“Factoring là một công cụ tài chính trọn gói hoàn toàn bao gồm tài trợ vốn
lưu động, phòng ngừa rủi ro không thanh toán từ phía người mua, quản lý các
khoản phải thu và dịch vô thu nợ. Nó được cung cấp dựa trên sự thoả thuận giữa
nhà Factor và người bán. Theo đó nhà factor sẽ mua lại những khoản phải thu của
người bán thường là không truy đòi, đồng thời nhận trách nhiệm về khả năng chi trả
của con nợ. Nếu con nợ phá sản hay mất khả năng chi trả vì những lý do tín dụng
thì nhà Factor sẽ thanh toán cho người bán.”
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ban hành ngày 06/09/2004 của
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
4
Thống đốc NHNN, bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín
dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc
mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp
đồng mua, bán hàng.
Như vậy xét về bản chất, Factoring là nghiệp vụ mà các nhà factor tiến hành
mua lại các khoản phải thu (phát sinh từ việc mua bán hàng hoá) với một mức giá
chiết khấu giúp người bán có thể có nhận ngay tiền mặt thêm vào đó có thể lựa chọn
việc sử dụng một hay nhiều dịch vụ trong gói dịch vụ được cung cấp bởi các nhà
Factor.
1.1.2. Nội dung nghiệp vụ bao thanh toán
Là một công cụ tài chính trọn gói, Factoring bao gồm các dịch vụ sau:
1.1.2.1. Dịch vụ bảo hiểm rủi ro không thanh toán từ phía người mua
Khi bán hàng cho người mua, nhà cung cấp phải đối mặt với rất nhiều rủi ro.
Mà đáng quan tâm nhất là rủi ro không được thanh toán từ phía người mua do người
mua chậm thanh toán, không muốn thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán.
Tham gia vào nghiệp vụ Factoring, nhà cung cấp có thể sử dụng dịch vụ bảo hiểm
rủi ro từ phía người mua của các Factor. Các Factor ngay khi nhận được đề nghị bao
thanh toán của đơn vị bán hàng sẽ có những điều tra về uy tín tín dụng của người
trợ dựa trên cơ sở mua lại các khoản phải thu với một mức giá chiết khấu. Hay nói
cách khác, Factoring là quá trình chuyển hoá các khoản phải thu thành tiền mặt.
Ngay sau khi nhận được hoá đơn của nhà cung cấp, đơn vị Factor sẽ thanh toán
ngay (ứng trước) cho họ một tỷ lệ (thường là 80%) giá trị hoá đơn. Khoản ứng trước
này người bán sẽ phải trả lãi. Số tiền còn lại sẽ được trả cho người bán khi nhà
Factor nhận được 100% giá trị hoá đơn từ người mua hàng, sau khi đã trừ phí dịch
vụ và lãi.
Việc tài trợ cho người bán từ nhà Factor cũng có thể được thực hiện sau một
thời gian nhất định tuỳ theo thoả thuận giữa họ. Giá trị hoá đơn được trả vào ngày
thoả thuận trước, chẳng hạn 30 ngày sau khi phát sinh hoá đơn. Lợi Ých mà người
bán có được là biết trước thời gian dòng tiền vào và có thể sử dụng nó để trả lương,
hay trả các khoản nợ đến hạn định kỳ khác…Điều này giúp người bán quản lý dòng
tiền phát sinh hiệu quả.
Nhà Factor không bao giờ ứng trước toàn bộ giá trị các hoá đơn mà thường
chỉ ứng trước 80%. Thậm chí họ có thể thu ngay số lãi tài trợ và phí Factoring khi
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
6
ứng trước. Nhà Factor sau khi mua lại các khoản phải thu đã nắm giữ toàn bộ quyền
sở hữu khoản nợ đó song họ chỉ trả cho nhà cung cấp đầy đủ giá mua (giá trị hoá
đơn trừ lãi tài trợ và phí Factoring) sau khi họ thu 100% giá trị khoản phải thu từ
người mua. Như vậy vô hình chung, người bán đã cho nhà Factor nợ một khoản và
đặt mình vào tình thế có thể bị rủi ro. Nếu nhà Factor mất khả năng thanh toán, nhà
cung cấp trở thành một chủ nợ của nhà Factor chịu rủi ro mất toàn bộ khoản mà nhà
Factor còn nắm giữ của họ. Họ không có quyền gì với khoản phải thu từ người mua
hàng. Đó là tài sản của nhà Factor. Do vậy danh tiếng và uy tín tín dụng của nhà
Factor cũng là một vấn đề quan trọng đối với người bán hàng.
Là mét dịch vụ tài trợ vốn lưu động cho các DN vừa và nhỏ là chủ yếu, thời
gian tài trợ của các nhà Factor là ngắn hạn. Khoản phải thu được bao thanh toán
thường có thời gian thanh toán là trong vòng 180 ngày.
Sơ đồ 1.2. Quy trình nghiệp vụ Factoring quốc tế
(Factoring quốc tế hệ hai đại lý)
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
8
Trong đó:
(1) Nhà XK giao hàng cho nhà NK
(2) Nhà XK chuyển nhượng khoản phải thu của mình cho nhà Factor NK thông qua
nhà Factor XK. Nhà Factor NK sẽ chấp nhận rủi ro tín dụng như đã thoả thuận từ
trước.
(3) Nhà Factor XK ứng trước tiền cho nhà XK theo hợp đồng Factoring quốc tế đã
ký giữa họ.
(4) Nhà Factor NK tiến hành thu nợ từ nhà nhập khẩu.
(5) Nhà NK trả tiền cho nhà Factor NK, Factor NK chuyển trả cho Factor XK.
(6) Nhà Factor XK trả số tiền còn lại của khoản phải thu quốc tế cho nhà XK sau
khi đã trừ đi lãi tài trợ và phí dịch vụ
So sánh Factoring nội địa và Factoring quốc tế:
• Giống nhau:
Đều mang bản chất của nghiệp vụ Factoring, có thể cung cấp các dịch vụ cơ
bản: dịch vụ tài trợ, dịch vụ bảo hiểm rủi ro tín dụng, dịch vụ thu nợ.
•Khác nhau:
Factoring nội địa thường chỉ có sự tham gia của một nhà Factor duy nhất
trong khi đó Factoring quốc tế thường có sự tham gia của 2 nhà Factor: Factor xuất
khẩu và Factor nhập khẩu, dẫn đến có sự khác nhau trong quy trình nghiệp vụ, trách
nhiệm và dịch vụ của các Factor.
Đối tượng tài trợ của Factoring nội địa là người bán các sản phẩm hàng hoá
trong nước, của Factoring quốc tế là nhà xuất khẩu – người bán sản phẩm hàng hoá
vượt khỏi biên giới quốc gia.
Thông thường Factoring nội địa được thực hiện trên cơ sở có truy đòi nghĩa
là rủi ro không được thanh toán thuộc về người bán. Trái lại trong nghiệp vụ
người bán chịu. Nhà Factor có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng
khi bên mua hàng không thanh toán khoản phải thu đã được bao thanh toán.
Factoring miễn truy đòi là hình thức bao thanh toán trong đó nhà Factor phải
chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh
toán khoản phải thu.
Phí dịch vụ Factoring có truy đòi thấp hơn so với Factoring miễn truy đòi.
1.1.3.3. Theo nội dung của Factoring
Việc kết hợp các dịch vụ khác nhau trong gói dịch vụ Factoring sẽ tạo ra các
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
10
loại Factoring khác nhau mà nhà Factor cung cấp cho người bán.
Có ba loại: Factoring đầy đủ (Full Factoring), Factoring đại lý (Agency
Factoring) và Chiết khấu hoá đơn (Invoice Discounting)
Factoring đầy đủ: là dịch vụ cung cấp đầy đủ tất cả các dịch vụ chủ yếu của
dịch vụ Factoring. Khi mua lại các khoản phải thu các nhà Factor đồng thời quản lý
sổ cái bán hàng của người bán và thu nợ từ khách hàng của người bán. Tuy nhiên
gọi là Factoring đầy đủ song Full Factoring vẫn có thể có hoặc không có dịch vụ
bảo hiểm rủi ro không thanh toán từ người mua. Hay nói cách khác có hai loại
Factoring đầy đủ chính là loại có truy đòi và loại không truy đòi.
Factoring đại lý: Khi chuyển nhượng các khoản phải thu cho nhà Factor,
người bán hàng phải thông báo cho con nợ của mình về việc tất cả khoản thanh toán
được chuyển cho nhà Factor song người bán là người chịu trách nhiệm thu nợ. Họ
hoạt động như đại lý của nhà Factor. Trong loại hình Factoring này, nhà Factor chủ
yếu cung cấp dịch vụ tài trợ cho nhà cung cấp thường là trên cơ sở có truy đòi.
Người bán phải tự quản lý sổ cái bán hàng của mình. Vì vậy Factoring đại lý thích
hợp với các công ty có mạng lưới khách hàng rộng, số lượng các khoản phải thu lớn
song giá trị thấp và chi phí để sử dụng Full Factoring là cao so với họ.
Chiết khấu hoá đơn: Loại hình Factoring này khá giống với Factoring đại lý.
Nhà cung cấp chỉ được tài trợ từ phía các Factor không có dịch vụ quản lý sổ cái,
phát sinh từ các hợp đồng mua bán hàng hoá mà bên mua và bên bán có trụ sở kinh
doanh ở hai nước khác nhau với điều kiện các nước này có tham gia công ước hoặc
cả hợp đồng bao thanh toán và hợp đồng mua bán hàng hoá đều được điều chỉnh
bởi luật của quốc gia tham gia công ước.
•Công ước liên hợp quốc về chuyển nhượng các khoản phải thu trong
thương mại quốc tế
Mét trong những sự phát triển quan trọng nhất gần đây trong nỗ lực thống nhất
các luật liên quan đến tài trợ các khoản phải thu là công ước UNCITRAL về chuyển
nhượng các khoản phải thu trong thương mại quốc tế được Đại hội đồng LHQ
thông qua ngày 12/12/2001 và được để ngỏ cho chính phủ các quốc gia ký kết.
Công ước chứa đựng các quy định thống nhất về một loạt các giao dịch như
Factoring, Forfaiting…
•Những quy định chung về hoạt động bao thanh toán quốc tế do uỷ ban
pháp lý của hiệp hội các nhà bao thanh toán quốc tế (FCI) Ên bản và giám sát thi
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
12
hành trong hiệp hội (FCI General Rules for International Factoring-GRIF). Nó đã
trở thành khung pháp lý được công nhận rỗng rãi nhất khắp thế giới về bao thanh
toán quốc tế. Là chuẩn mực cho mối quan hệ Factoring đại lý, khoảng 80% giao
dịch Factoring quốc tế được điều chỉnh bởi GRIF kể từ khi GRIF ra đời vào tháng
7 năm 2002.
•Tại Việt Nam, Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN
ban hành quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ngày
06/09/2004. Quy chế này quy định về việc thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán của
các tổ chức tín dụng đối với khách hàng nhằm đa dạng hoá hoạt động tín dụng, bổ
sung vốn lưu động cho khách hàng, thúc đẩy thương mại trong nước và quốc tế.
Các tổ chức tín dụng ở đây bao gồm: Ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng
thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, Công ty tài chính. Quy chế đã đưa ra một số khái
quốc tế mà nhà xuất khẩu phải trả bao gồm khoản phí phải trả cho nhà Factor xuất
khẩu và nhà Factor nhập khẩu. Ngoài ra trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất
nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ nhà xuất khẩu phải cung cấp đầy đủ các thông tin liên
quan đến khoản phải thu đã được bao thanh toán, cũng như các thông tin có thể ảnh
hưởng đến quyền lợi của nhà Factor.
Nghĩa vụ của nhà Factor khi ký kết hợp đồng Factoring quốc tế:
Kí kết hợp đồng Factoring quốc tế có nghĩa là nhà Factor sẽ mua lại khoản phải thu
quốc tế, trở thành chủ sở hữu chính thức của khoản nợ đó. Nhà Factor sẽ phải thực
hiện Ýt nhất hai trong số các chức năng sau cho nhà xuất khÈu:
Tài trợ cho nhà xuất khẩu dưới dạng cho vay hay ứng trước
Quản lý các khoản phải thu
Thu nợ
Bảo hiểm rủi ro không thanh toán từ phía nhà nhập khẩu
Đồng thời khi thu hồi được 100% giá trị hoá đơn từ nhà nhập khẩu, nhà Factor sẽ
chuyển trả nhà xuất khẩu phần còn lại sau khi trừ khoản ứng trước, lãi và phí
Factoring.
Quyền lợi chính của nhà xuất khẩu là được nhà Factor đảm bảo cung cấp các
dịch vụ một cách hiệu quả và nhanh chóng đúng như hợp đồng quy định. Quyền lợi
chính của nhà Factor là được hưởng lãi và phí từ việc cung cấp các dịch vụ đó.
Theo công ước UNIDROIT, việc chuyển nhượng các khoản phải thu từ bên
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
14
xuất khẩu cho nhà Factor theo hợp đồng Factoring quốc tế sẽ có hiệu lực bất kể có
thoả thuận giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu ngăn cấm việc chuyển nhượng này,
tuy nhiên việc chuyển nhượng này sẽ không có hiệu lực nếu quốc gia mà bên nhập
khẩu đặt trụ sở kinh doanh khi tham gia công ước có tuyên bố trước rằng việc
chuyển nhượng như thế sẽ vô hiệu.
1.2.2. Các chủ thể tham gia trong Factoring quốc tế
Trong nghiệp vụ Factoring quốc tế thường có bốn bên tham gia: Nhà xuất
thức giao dịch với nhà NK nhằm không làm ảnh hưởng tới mối quan hệ của nhà XK
và nhà NK.
Nhà Factor cũng có những tiêu chí lựa chọn khách hàng nhất định. Nhà
Factor có ưu tiên cho các DN XK vừa và nhỏ bán hàng chịu theo phương thức thanh
toán O/A hoặc D/A song họ cũng đưa ra những điều kiện về sản phẩm XK được
bao thanh toán, quy mô tổng doanh thu hàng năm của nhà XK, số khách hàng của
nhà XK, tỷ lệ doanh thu mà một nhà NK có thể chiếm trong tổng số doanh thu của
nhà XK, lịch sử thu nợ của nhà XK…
Quan hệ giữa nhà xuất khẩu và Factor nhập khẩu:
Thông thường trong Factoring quốc tế đơn vị Factor cung cấp dịch vụ bảo
hiểm tín dụng và dịch vụ thu nợ cho nhà xuất khẩu thường là nhà Factor nhập khẩu.
Nhà Factor nhập khẩu có thể cung cấp dich vụ thông qua việc trực tiếp ký hợp đồng
Factoring quốc tế với nhà xuất khẩu trong loại hình Factoring nhập khẩu trực tiếp.
Khi đó mối quan hệ giữa nhà xuất khẩu và nhà Factor nhập khẩu được điều chỉnh
trực tiếp bằng hợp đồng đó. Hoặc họ có thể cung cấp dịch vụ cho nhà xuất khẩu
nước ngoài thông qua việc là đại lý hoặc đối tác cho nhà Factor xuất khẩu trong loại
hình Factoring hệ hai đại lý.
Quan hệ giữa Factor xuất khẩu và nhà nhập khẩu:
Là quan hệ pháp lý giữa chủ nợ và con nợ. Nhà nhập khẩu có nghĩa vụ thanh
toán trực tiếp khoản nợ hoặc thông qua nhà Factor nhập khẩu cho nhà Factor xuất
khẩu. Trong loại hình Factoring xuất khẩu trực tiếp, họ là người trực tiếp thẩm định
về uy tín tín dụng của nhà nhập khẩu.
Quan hệ giữa Factor xuất khẩu và Factor nhập khẩu:
Là mối quan hệ đại lý hoặc đối tác, theo đó nhà Factor XK uỷ thác cho nhà
Factor NK thu nợ trực tiếp từ nhà NK. Đồng thời là nhà Factor ở nước người nhập
khẩu có lợi thế tìm hiểu về nhà nhập khẩu nên nhà Factor nhập khẩu thường là
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
16
người cung cấp dịch vụ bảo hiểm rủi ro tín dụng không thanh toán từ phía người
nghiệp
17
thanh toán cho nhà nhập khẩu. Đồng thời họ cũng thường là người thu nợ trực tiếp
từ nhà nhập khẩu. Hiệu quả hoạt động thẩm định uy tín tín dụng của nhà Factor NK
đối với nhà NK phụ thuộc chủ yếu vào cơ sở hạ tầng thông tin của nước NK.
1.2.3. Quy trình nghiệp vụ Factoring quốc tế
Từ sự phối hợp cung cấp dịch vụ giữa nhà Factor xuất khẩu và nhà Factor
nhập khẩu, Factoring quốc tế có 3 loại hình chủ yếu là: Factoring xuất khẩu trực
tiếp, Factoring nhập khẩu trực tiếp và Factoring quốc tế hệ hai đại lý.
1.2.3.1. Quy trình nghiệp vụ Factoring xuất khẩu trực tiếp (Direct Export
Factoring)
Factoring XK trực tiếp thường được các nhà Factor lớn với mạng lưới xuyên
quốc gia thực hiện. Nhà Factor xuất khẩu sẽ là người cung cấp tất cả các dịch vụ
bảo hiểm rủi ro không thanh toán, quản lý khoản phải thu, thu nợ và dịch vụ tài trợ
cho nhà xuất khẩu tuỳ theo nhu cầu của nhà xuất khẩu thông qua việc ký kết hợp
đồng Factoring quốc tế trực tiếp với nhà xuất khẩu. Cụ thể trong loại hình này, nhà
Factor xuất khẩu tự mình thẩm định chất lượng khoản phải thu, uy tín tín dụng của
nhà nhập khẩu, giao dịch cũng như thu nợ trực tiếp từ nhà nhập khẩu. Nhà Factor
NK gần như không tham gia vào loại hình Factoring quốc tế này. Thông thường nhà
Factor xuất khẩu sẽ có một đại lý của mình hoạt động ở nước người mua. Chi phí
cho nghiệp vụ Factoring XK trực tiếp mà nhà xuất khẩu phải trả cho nhà Factor
xuất khẩu bao gồm: lãi tài trợ, phí dịch vụ bảo hiểm tín dụng, phí thu nợ, giao dịch,
các chi phí quản lý khoản phải thu…
Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương với bên nhập khẩu nước ngoài (điều
khoản thanh toán O/A hoặc D/A), nhà XK gửi đề nghị bao thanh toán tới nhà Factor
XK cùng với các thông tin về người NK. Đại lý của nhà Factor XK ở nước người
nhập khẩu thực hiện phân tích chất lượng khoản phải thu, uy tín tín dụng, khả năng
tài chính của nhà NK. Từ đó nhà Factor XK sẽ quyết định về việc bao thanh toán
khoản phải thu hay không và có truy đòi hay không truy đòi. Nếu có thì nhà XK và
nhà Factor XK sẽ thoả thuận và ký kết hợp đồng Factoring quốc tế. Quy trình
qua đại lý của nhà Factor NK hoặc nhà Factor XK (trung gian). Trên cơ sở thẩm
định về tình trạng tài chính của nhà NK, nhà Factor NK sẽ xác định một hạn mức
tín dụng đối với nhà NK và thông báo cho nhà XK qua trung gian. Nhà Factor NK
sẽ đảm bảo thanh toán cho nhà XK trong phạm vi hạn mức tín dụng đó. Điều khoản
đó được thoả thuận và ghi rõ trong hợp đồng Factoring quốc tế được ký kết trực tiếp
giữa nhà XK và nhà Factor NK. Theo đó khoản phải thu quốc tế của nhà XK sẽ
được chuyển nhượng cho nhà Factor NK. Quy trình nghiệp vụ tiếp tục theo sơ đồ
sau:
Sơ đồ 1.4. Quy trình nghiệp vụ Factoring nhập khẩu trực tiếp
Trong đó:
(1) Nhà XK giao hàng cho nhà NK.
(2) Nhà XK thực hiện chuyển nhượng khoản phải thu bằng việc gửi các giấy tờ liên
quan đến khoản phải thu: hoá đơn, vận đơn… cho nhà Factor NK thông qua đại lý
của họ.
(3) Nhà Factor NK ứng trước theo thoả thuận cho nhà XK thông qua đại lý của nhà
Factor NK.
(4) Nhà Factor NK gửi hoá đơn và vận đơn tới nhà NK.
(5) Đến hạn, nhà NK thanh toán hoá đơn cho nhà Factor NK.
(6) Nhà Factor NK thanh toán phần còn lại của giá trị hoá đơn cho nhà XK sau khi
trừ đi lãi tài trợ và phí Factoring thông qua đại lý của mình.
Nhà Factor NK thường cung cấp dịch vụ bảo hiểm tín dụng và thu nợ cho
nhà XK trong loại hình này. Nếu có cung cấp dịch vụ tài trợ thì số tiền ứng trước
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
20
tuỳ thuộc vào nhà XK là khách hàng truyền thống hay khách hàng mới của nhà
Factor NK. Thời gian ứng trước thường là khi nhà Factor NK chắc chắn rằng nhà
NK sẽ hoặc đã nhận hàng mà không có tranh chấp nào về hàng hoá. Hay nói cách
khác nhà NK chắc chắn sẽ thanh toán hoá đơn khi đến hạn. Nhà Factor NK có thể
yêu cầu nhà XK xuất trình cho họ giấy kiểm định chất lượng hàng hoá hoặc yêu cầu
đều do nhà XK chi trả theo hợp đồng Factoring quốc tế họ đã ký.
Thông qua sự phối hợp của các nhà Factor, dịch vô Factoring quốc tế được
cung cấp tới khách hàng là dịch vụ tốt nhất. Việc thu nợ được đảm trách bởi nhà
Factor NK. ở tại đất nước của người nhập khẩu, nói cùng một thứ ngôn ngữ, am
hiểu luật pháp, tập quán thương mại, nhà Factor NK có vị thế tốt nhất để cung cấp
dịch vụ đó một cách chuyên nghiệp và hiệu quả. Đồng thời với các chuyên gia tài
chính trong nước và hệ thống thông tin tín dụng cập nhật, nhà Factor NK sẽ có cơ
sở thẩm định chính xác nhất uy tín tín dụng của nhà NK từ đó cung cấp dịch vụ bảo
hiểm tín dụng cho nhà XK, đem lại cho nhà XK sự hiểu biết sâu hơn về khách hàng,
về thị trường XK. Bên cạnh đó việc kết hợp hoạt động với nhau sẽ tạo ra nhiều cơ
hội học hỏi, phát triển cho các nhà Factor trong môi trường Factoring quốc tế.
1.2.4. Lợi Ých và hạn chế của Factoring quốc tế
So với nghiệp vụ tài trợ các khoản phải thu
Tài trợ các khoản phải thu cũng như các hình thức cấp tín dụng thuần tuý
khác của Ngân hàng cho nhà xuất khẩu đều dựa trên cơ sở thẩm định về uy tín,
năng lực tài chính của bản thân nhà xuất khẩu. Trong tài trợ khoản phải thu, giá trị
khoản phải thu là cơ sở để cấp tín dụng. Nhà xuất khẩu vẫn là chủ sở hữu và chịu
trách nhiệm thu nợ từ nhà nhập khẩu. Quan hệ tài trợ này mang tính độc lập giữa
ngân hàng và nhà xuất khẩu.
Trong khi đó trong nghiệp vụ Factoring quốc tế các nhà Factor thường mua
đứt các khoản phải thu và trở thành người sở hữu và có quyền thu nợ từ nhà nhập
khẩu. Quyết định bao thanh toán của nhà Factor chủ yếu dựa vào chất lượng các
khoản phải thu hay nói cách khác là khả năng thanh toán của người mua. Quan hệ
Factoring thường là mối quan hệ ba bên nhà factor, nhà xuất khẩu và nhà nhập
khẩu.
Như vậy, Factoring quốc tế sẽ rất thích hợp đối với các DN xuất khẩu (đặc
biệt là các DN vừa và nhỏ) khi mà họ khó có thể được đáp ứng nhu cầu về vốn
thông qua các kênh tín dụng thuần tuý như tài trợ khoản phải thu. Lý do có thể là vị
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
Lợi Ých
SV: Trần Thị Châu – Líp TTQT A – K6 Khoá luận tốt
nghiệp
23
Có thể xuất khẩu theo các phương thức thanh toán hấp dẫn, có lợi cho nhà
nhập khẩu từ đó tăng sức cạnh tranh trên thị trường thương mại quốc tế. Xuất hàng
theo phương thức bán chịu một thời gian (thường từ 30 đến 90 ngày), nhà xuất khẩu
sẽ có thể đáp ứng được nhiều yêu cầu nhập hàng từ người mua hơn nhất là những
mặt hàng mà thị trường thuộc về người mua. Nhà XK không cung cấp hàng theo
phương thức ghi sổ mà nhà NK mong muốn sẽ rất khó bán được hàng.
Hiểu biết hơn về bạn hàng nhập khẩu, thị trường XK qua ý kiến đánh giá
chuyên nghiệp của các Factor nhập khẩu. Từ đó có những lựa chọn về mở rộng mối
quan hệ kinh doanh với nhà NK, đẩy mạnh XK sang thị trường đó…. Điều này đặc
biệt hữu Ých trong trường hợp nhà XK lần đầu tiên đặt chân lên một thị trường nào
đó, có rất Ýt thông tin và hiểu biết chuyên sâu và rủi ro tiềm tàng là rất cao.
Được tài trợ vốn lưu động nhanh chóng dẫn đến khả năng phát triển mở rộng
sản xuất. Đặc biệt có lợi cho các DN sản xuất các mặt hàng mang tính chất thời vụ
và các DN không đủ điều kiện để nhận tài trợ trực tiếp từ các hình thức khác. Ngay
khi hàng hoá được gửi đi, nhà Factor đã có thể ứng tiền trước cho nhà XK.
Nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ chuyên môn hoá sản xuất. Bên cạnh việc
sản xuất kinh doanh, người bán sẽ phải bận tâm về việc quản lý các khoản phải thu
nước ngoài rất phức tạp. Việc này sẽ được giải quyết đơn giản nếu nhà XK sử dụng
dịch vụ Factoring. Các tổ chức Factoring sẽ xử lý một cách chuyên nghiệp và hiệu
quả các hoá đơn của nhà XK. Nhà XK chỉ còn phải chuyên tâm vào việc làm tốt
công việc sản xuất kinh doanh của mình.
Cắt giảm chi phí quản lý sổ cái bán hàng, theo dõi và thu nợ quốc tế. Thay vì
việc có một đội ngũ chuyên môn quản lý tín dụng và thu nợ tới từng khách hàng ở
các quốc gia khác nhau, nhà XK có thể giao phó công việc đó cho nhà Factor, chỉ
phải giao dịch với một nhà Factor trong khi bán hàng đi nhiều nước. Các nhà XK
thay vì phải bỏ ra mét chi phí tốn kém nay sẽ tiết kiệm hơn rất nhiều khi sử dụng