Mục lục
Lời nói đầu 3
Chương I: Cơ sở lý luận về cấp GCNQSD đất 5
I. Vị trí và vai trò của đất đai 5 5
1. Khái niệm 5 5
2. Vị trí của đất đai trong đời sống sản xuất và đời sống xã hội 5 5
3. Vai trò của đất đai 7 7
II. Đặc điểm và phân loại đất đai 9 9
1. Đặc điểm của đất đai 9 9
2. Phân loại đất 10 10
III. Quyền sử dụng đất và sự cần thiết phải cấp GCNQSD đất .12
1. Khái niệm về quyền sử dụng đất 12 12
2. Khái niệm GCNQSD đất 13 13
3. Sự cần thiết phải cấp GCNQSD đất 13 13
IV. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc cấp GCNQSD đất 15 15
1. Điều kiện tự nhiên 15 15
2. Điều kiện phát triển kinh tế 15 15
3. Điều kiện chính trị – xã hội 15 15
4. Quy hoạch sử dụng đất 16 16
V. Những quy định pháp lý về việc đăng ký và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất 1 16
1. Yêu cầu chung của công tác cấp GCNQSD đất 16 16
2. Cơ sở pháp lý của đăng ký và cấp GCNQSD đất 17 17
3. Những quy định về xem xét và cấp GCNQSD đất 19 19
4. Thẩm quyền cấp GCNQSD đất 21 21
VI. Quy trình cấp GCNQSD đất 22 22
Chương II: Thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tại quận Cầu Giấy 24 24
I. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Cầu Giấy 2 24
1. Điều kiện tự nhiên 24 24
2. Điều kiện kinh tế – xã hội 28 28
Đất đai là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và
phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Trong hoạt động
kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp, đất đai là nguồn tài nguyên,
nguồn lực và là một đầu vào không thể thiếu. Mặt khác, diện tích đất đai lại
có hạn và không thể sản sinh. Vì vậy, quản lý và sử dụng một cách đầy đủ
đất đai là mục tiêu cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội của mỗi quốc gia.
Nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tích cực. Mặc dù vấn đề
đất đai luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Nhưng, trong thực tế quá
trình sử dụng cũng như quan hệ đất đai có nhiều biến động; vì vậy vấn đề
đăng ký và thống kê đất đai càng trở nên bức xúc và phức tạp. Tuy nhiên
trong thực tế và trong nhiều trường hợp, vấn đề đăng ký đất đai, đặc biệt là
vấn đề lập hồ sơ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối
tượng sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn và phức tạp, nên trong thực tế
đời sống xã hội vẫn còn nảy sinh những vấn đề cần được bổ sung và giải
quyết. Để góp phần nghiên cứu vấn đề này, là một sinh viên đang thực tập
tại Phòng Địa chính – Nhà đất và Đô thị quận Cầu Giấy em đã chọn đề tài:
"Thực trạng và giải pháp nhằm thúc đẩy việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội" làm
đề tài nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề này là làm rõ những vấn đề lý
luận về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đánh giá thực trạng công
tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cấp quận (thông qua ví dụ
của quận Cầu Giấy), đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm thúc
đẩy tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói chung và ở quận
Cầu Giấy nói riêng.
Chuyên đề này nghiên cứu những vấn đề cơ bản về việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Cầu Giấy.
Chuyên đề đã vận dụng các phương pháp sau: phương pháp duy vật
hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua bao thế hệ, nhân dân ta đã tốn
bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày
nay!”.
2. Vị trí của đất đai trong đời sống sản xuất và đời sống xã hội
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá
trình lịch sử phát triển kinh tế – xã hội, đất đai là điều kiện chung của lao
động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
loài người. Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản
xuất nào, một quá trình lao động sản xuất nào, cũng như không thể nào có
sự tồn tại của loài người. Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng
quý giá của loài người, là điều kiện cho sự sống của động thực vật và con
người trên trái đất.
Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế – xã
hội. Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công
trình công nghiệp, giao thông. Đất đai cung cấp nguyên liệu cho ngành
công nghiệp xây dựng như gạch ngãi, xi măng, gốm sứ.
Đất đai cùng với các điều kiện tự nhiên khác nhau là một trong
những cơ sở quan trọng nhất để hình thành các vùng kinh tế của đất nước
nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã
hội của mỗi vùng đất nước. Nhu cầu về đời sống kinh tế, xã hội rất phong
phú và đa dạng. Vì vậy, vệc khai thác lợi thế của mỗi vùng đất là tất yếu
khách quan để đáp ứng nhu cầu đó. Mỗi vùng có những sắc thái riêng về
đất đai và các điều kiện tự nhiên khác nhau. Vì vậy, sử dụng đầy đủ và hợp
lý đất của mỗi vùng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm phát
triển kinh tế của đất nước.
Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội.
Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể của nền kinh tế quốc dân đất đai có vị
trí khác nhau. Đối với ngành nông nghiệp đất đai có vị trí đặc biệt. Nó
không những là chỗ đứng, chỗ tựa để lao động mà còn là nguồn cung cấp
thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của sản xuất trồng trọt mà
cánh đồng để con người trồng trọt, chăn nuôi.
Đất đai là nguồn của cải, là một tài sản cố định hoặc đầu tư cố định,
là thước đo sự giàu có của mỗi quốc gia. Đất đai còn là sự bảo hiểm cho
cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, như là sự chuyển nhượng của cải qua các
thế hệ và như một nguồn lực cho các mục đích tiêu dùng.
Con người khai thác bề mặt đất đai để trồng trọt, chăn nuôi, tạo nên
sản phẩm nuôi sống cả xã hội loài người. Khai thác bề mặt đất đai và cải
tiến chất lượng đất đai để tạo ra khối lượng sản phẩm ngày càng nhiều hơn,
thoả mãn nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng. Trình độ khai
thác đất đai gắn liền với sự tiến hoá của xã hội. Quá trình Êy làm cho con
người và đất đai ngày càng nhận thức và hiểu biết hơn về khoa học kỹ
thuật, khám phá và khai thác “kho báu” trong lòng đất đai phục vụ cho mục
đích của mình.
Đất đai gắn liền với khí hậu, môi trường trên phạm vi toàn cầu cũng
như từng vùng, từng miền lãnh thổ. Trải qua lịch sử hàng triệu năm của trái
đất, khí hậu cũng trải qua nhiều biến động do những nguyên nhân tự nhiên
hoặc do tác động của con người. Trong quá trình chinh phục và cải tạo
thiên nhiên, con người ngày càng can thiệp vào quá trình biến đổi của tự
nhiên. Biến đổi khí hậu có tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái trên đất
liền, nhất là đối với cây trồng.
Như vậy, việc sử dụng hợp lý đất đai ngoài ý nghĩa về kinh tế còn có
ý nghĩa về bảo vệ, cải tạo và biến đổi môi trường. Ngày nay, với sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, người ta rất chú ý đến tác động của môi trường
trong quá trình hoạt động sản xuất của con người, trong đó sử dụng khai
thác đất đai là yếu tố vô cùng quan trọng.
Trong các yếu tố cấu thành của môi trường như đất đai, nguồn nước,
khí hậu, cây trồng, vật nuôi, hệ sinh thái thì đất đai đóng vai trò quan trọng.
Những biến đổi tiểu khí hậu, những sự phá vỡ hệ sinh thái ở những vùng
nào đó trên trái đất đai ngoài tác động ảnh hưởng của tự nhiên thì vai trò
con người tác động cũng rất lớn: lụt úng do phá rừng, canh tác bất hợp lý
mặt của trái đất đai cũng như diện tích đất đai của mỗi quốc gia, mỗi lãnh
thổ bị giới hạn. Sự giới hạn đó còn thể hiện ở chỗ nhu cầu sử dụng đất đai
của các ngành kinh tế quốc dân trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội
ngày càng tăng. Do diện tích đất đai có hạn nên người ta không thể tuỳ ý
muốn của mình tăng diện tích đất đai lên bao nhiêu cũng được. Đặc điểm
này đặt ra yêu cầu quản lý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số lượng, chất
lượng đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng
đất đai theo các thành phần kinh tế và xu hướng biến động của chúng đề có
kế hoạch phân bố và sử dụng đất đai có cơ sở khoa học. Đối với nước ta,
diện tích đất đai bình quân đầu người vào loại thấp so với các quốc gia
khác trên thế giới. Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả và
bền vững lại càng đặc biệt quan trọng.
– Đất đai được sử dụng cho các ngành, các lĩnh vực của đời sống
kinh tế – xã hội. Việc mở rộng các khu công nghiệp, các khu chế xuất, việc
mở rộng các đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển nông, lâm, ngư
nghiệp đều phải sử dụng đất đai. Để đảm bảo cân đối trong việc phân bổ
đất đai cho các ngành, các lĩnh vực, tránh sự chồng chéo và lãng phí, cần
coi trọng công tác quy hoạch và kế hoạch hoá sử dụng đất đai và có sự phối
hợp chặt chẽ giữa các ngành trong công tác quy hoạch và kế hoạch hoá đất
đai.
– Đất đai có vị trí cố định, tính chất cơ học, vật lý, hoá học và sinh
học trong đất đai cũng không đồng nhất. Đất đai được phân bổ trên một
diện tích rộng và cố định ở từng nơi nhất định. Do vị trí cố định và gắn liền
với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước, cây trồng),
và các điều kiện kinh tế như kết cấu hạ tầng, dân số, công nghiệp trên các
vùng và các khu vực nên tính chất của đất đai có khác nhau. Vì vậy, việc sử
dụng đất đai vào các quá trình sản xuất của mỗi ngành kinh tế cần phải
nghiên cứu kỹ lưỡng tính chất của đất cho phù hợp. Trong sản xuất nông
nghiệp, việc sử dụng đất phải thích hợp với những điều kiện tự nhiên, kinh
tế và chất lượng ruộng đất của từng vùng để mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Việc chuyển loại đất này sang loại đất khác, tức là chuyển mục đích
sử dụng đất có thể diễn ra tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của từng nơi và
từng vùng, song phải đảm bảo những nguyên tắc và những quy định chặt
chẽ của Luật đất đai và các quy định khác của Nhà nước về quản lý đất đai.
2.2. Phương pháp phân loại định lượng FAO - UNESCO
Phương pháp phân loại này dùa trên quan điểm, phương pháp chẩn
đoán định lượng. Hiện nay nước ta cũng đang ứng dụng phương pháp này
do Trung tâm FAO – UNESCO tài trợ. Ta thường gọi là phương pháp FAO
– UNESCO.
Phân loại đất theo phương pháp này dùa trên quan điểm về mối quan
hệ có tính quy luật giữa đất và điều kiện tự nhiên của môi trường.
Docuchaev – Nhà khoa học đất người Nga đã xác định bất kỳ một loại đất
nào cũng đều được tạo thành bởi một quá trình lịch sử tự nhiên đặc biệt,
một thể tự nhiên độc lập giống như khoáng vật, thực vật, động vật. Ông là
người đầu tiên xác định chính xác về đất, đã chỉ ra sự hình thành đất là một
quá trình phức tạp có mối quan hệ chặt chẽ với 5 yếu tố tự nhiên hình thành
đất là: khí hậu, địa hình, thực vật và động vật, đá mẹ và tuổi địa phương
(thời gian). Theo ông, sự tạo thành đất là kết quả tác động của thể tự nhiên
sống và chết.
Phân loại theo phương pháp định lượng FAO – UNESCO, đất ở nước
ta có 13 nhóm với 373 đơn vị đất và những đặc tính sau đây:
– Đất Việt Nam bao gồm chủ yếu những nhóm và đơn vị đất phổ biến
ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Èm, có cường độ phong hoá mạnh. Ngoài ra
có một số nhóm và loại đất tuy Ýt về diện tích nhưng có những vị trí quan
trọng đặc thù theo vùng, làm cho đất Việt Nam phong phú và đa dạng. Ba
nhóm đất lớn chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của Việt
Nam là: nhóm đất xám (Acrisols) chiếm 63,2%; nhóm đất phù sa (Fluvisols)
chiếm 21,6% và nhóm đất đỏ (Ferrasols) chiếm 8,2% diện tích đất.
– Việt Nam ở vào điều kiện khí hậu Èm, mưa nhiều. Vì vậy đất đai
luôn luôn bị biến động gắn với sự thay đổi của thảm thực vật.
đồng thời tạo cơ hội cho người sử dụng đất có điều kiện đầu tư, khai thác
sử dụng đất có hiệu quả cao nhất.
Trong tình hình hiện nay, công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính ban đầu đang là yêu cầu bức xúc
và là một nhiệm vụ chiến lược của toàn ngành địa chính. Từ đó, làm cơ sở
triển khai thi hành luật đất đai, đưa các hoạt động quản lý Nhà nước về đất
đai ở các cấp thành nề nếp, thường xuyên.
Đối với nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống
nhất quản lý nhằm đảm bảo việc sử dụng đất một cách đầy đủ, hợp lý, tiết
kiệm và có hiệu quả cao nhất. Nhà nước chỉ giao quyền sử dụng đất cho
các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Người sử dụng đất được hưởng quyền lợi
và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ sử dụng đất theo quy định của pháp
luật. Thông qua việc lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, đăng ký đất quy định trách nhiệm pháp lý giữa cơ quan Nhà nước
về quản lý đất đai và người sử dụng đất trong việc chấp hành pháp luật đất
đai. Đồng thời, nó còn cung cấp thông tin đầy đủ và làm cơ sở pháp lý chặt
chẽ để xác định các quyền của người sử dụng đất được bảo vệ khi bị tranh
chấp, xâm phạm; cũng như xác định các nghĩa vụ mà người sử dụng đất
phải tuân thủ theo pháp luật, nghĩa vụ tài chính về sử dụng đất, nghĩa vụ
bảo vệ và sử dụng đất đai có hiệu quả
Thông qua đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ
thiết lập nên hệ thống hồ sơ địa chính với đầy đủ các thông tin về tự nhiên,
kinh tế, xã hội của từng thửa đất. Hệ thống các thông tin đó chính là sản
phẩm kế thừa từ việc thực hiện các nội dung, nhiệm vụ quản lý Nhà nước
về đất đai. Do vậy, để đảm bảo thực hiện đăng ký đất đai với chất lượng
cao nhất, đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật, pháp lý của hồ sơ địa chính
và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trước hết đòi hỏi phải triển khai
thực hiện đồng bộ các nội dung: xây dựng và ban hành đầy đủ các văn bản
về chính sách đất đai; đo đạc lập bản đồ địa chính, quy hoạch sử dụng đất;
phân hạng và định giá đất; quản lý tài chính về đất đai; thanh tra xử lý vi
ngày một tăng, mà đất đai lại có hạn do đó nó gây khó khăn cho công tác
quản lý Nhà nước về đất đai và nhà ở. Mặt khác, điều kiện kinh tế phát
triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng khoa học công nghệ, các
hoạt động đầu tư được thực hiện vào mọi lĩnh vực của đời sống con
người. Vì vậy, nó sẽ tác động tích cực đến công tác quản lý Nhà nước về
đất đai và nhà ở nói chung và công tác kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng
nhận nói riêng.
3. Điều kiện chính trị - xã hội
Điều kiện chính trị – xã hội ổn định là một điều kiện thuận lợi để thu
hót đầu tư, tạo điều kiện mọi mặt cho phát triển kinh tế, ý thức và đời sống
của người dân được nâng cao điều đó sẽ tác động tích cực đến việc ban
hành các văn bản pháp quy của Nhà nước về quản lý đất đai và nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật về đất đai của mọi đối tượng sử dụng đất. Do đó,
cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kê khai, đăng ký, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
4. Quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và
pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng, quản lý đất đai nói chung,
quản lý đất đai đô thị nói riêng một cách đầy đủ hợp lý, khoa học và có
hiệu quả cao nhất. Thông qua việc tính toán việc phân bổ quỹ đất cho các
ngành, các mục đích sử dụng, cho các cá nhân, tổ chức sử dụng đất đai
nhằm nâng cao hiệu qủa kinh tế – xã hội và tạo điều kiện bảo vệ đất đai,
môi trường sinh thái. Như vậy, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là
không thể thiếu được trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai và nhà ở;
đồng thời nó cũng không thể thiếu được trong tiến trình phát triển đô thị và
đô thị hoá. Do đó, có thể nói quy hoạch sử dụng đất là cơ sở quan trọng để
Nhà nước cấp GCNQSD đất, cho thuê đất, giao đất đáp ứng yêu cầu sử
dụng đất ngày càng tăng ở đô thị.
V. Những quy định pháp lý về việc đăng ký và cấp GCNQSD đất
1. Yêu cầu chung của công tác cấp GCNQSD đất
Công văn 434/CV–ĐC tháng 7/1993 của Tổng cục Địa chính ban
hành mẫu sổ sách hồ sơ địa chính thay thế cho các mẫu quy định tại quyết
định số 56/ĐKTK năm 1981.
Nghị định 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà
ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị.
Nghị định 88/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về quản lý và sử
dụng đất đô thị.
Quyết định 499/QĐ–ĐC ngày 27/7/1995 của Tổng cục Địa chính quy
định các mẫu sổ địa chính, mục kê, sổ cấp giấy chứng nhận, sổ theo dõi
biến động đất đai.
Công văn 647/CV–ĐC ngày 31/5/1995 của Tổng cục Địa chính về
việc hướng dẫn một số điểm thực hiện Nghị định 60/CP.
Công văn 1427/CV–ĐC ngày 13/10/1995 của Tổng cục Địa chính về
việc hướng dẫn xử lý một số vấn đề về đất đai để cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Công văn 1725/LB–QLN ngày 17/12/1996 của Bộ Xây dựng và
Tổng cục Địa chính hướng dẫn một số biện pháp đẩy mạnh việc cấp giấy
chứng nhận sở hữu nhà.
Chỉ thị 10/1998/CT–TTg ngày 20/2/1998 của Thủ tướng Chính phủ
về đẩy mạnh và hoàn thành giao đất, cấp giấy chứng nhận đất nông nghiệp.
Thông tư 346/1998/TT–TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa
chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp
GCNQSD đất.
Nghị định 17/1999/NĐ–CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng
đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
Chỉ thị 18/1999/CT–TTg ngày 1/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về
một số biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở nông thôn vào năm 2000.
Công văn 776/CP–Nhà nước ngày 28/7/1999 của Chính phủ về việc
trình thực hiện các chính sách đất đai.
+ Những giấy tờ chuyển nhượng đất của những người sử dụng đất
hợp pháp từ năm 1980 trở về trước mà đã được chính quyền địa phương
xác nhận.
+ Giấy tờ thừa kế nhà, đất. Bản án hoặc quyết định của toà án giải
quyết việc thừa kế nhà, đất đã có hiệu lực.
+ Giấy trao tặng nhà tình nghĩa cho đối tượng chính sách.
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời do UBND Tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương quy định hoặc có tên trong sổ địa chính.
+ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của chế độ cũ cấp.
Riêng trong quá trình đăng ký biến động đất đai:
+ Trường hợp Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thay đổi mục đích sử
dụng đất, thay đổi thời hạn sử dụng đất phải có quyết định của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền và chứng từ thu tiền sử dụng đất (nếu có).
+ Trường hợp chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền
sử dụng đất phải có hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế
chấp đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận (Theo quy định
tại Nghị định 17/1999/NĐ–CP) kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đã cấp có thửa đất biến động và chứng từ thu nép tiền các loại (nếu có).
+ Trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất phải có di chúc của người
thừa kế, biên bản phân chia thừa kế hoặc quyết định giải quyết tranh chấp
về thừa kế quyền sử dụng đất của toà án đã có hiệu lực kèm theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp có thửa đất thừa kế.
+ Trường hợp mất đất do thiên tai như: sụt lở đất, cát bồi lấp, ngập
lụt vĩnh viễn không còn khả năng sử dụng phải có biên bản xác nhận của
chính quyền cơ sở.
Người đang sử dụng đất ổn định, không có giấy tờ hợp pháp phải
được UBND xã xác nhận trong những trường hợp sau:
+ Có giấy tờ hợp pháp nhưng thất lạc do thiên tai, chiến tranh còn
chứng lý trong hồ sơ lưu trữ của cơ quan Nhà nước hoặc hội đồng đăng ký
lệ của hồ sơ, xác nhận, đề xuất kiến nghị vào từng hồ sơ xin đăng ký đất về
các vấn đề.
Hiện trạng: vị trí, diện tích, loại đất.
Nguồn gốc, thời điểm và những biến động phát sinh trong quá trình
sử dụng đất.
Tình trạng tranh chấp hay không tranh chấp quyền sử dụng đất.
Đề nghị giải quyết các trường hợp vi phạm chính sách đất đai.
UBND huyện, thị xã, quận, thành phố trực thuộc tỉnh ký cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng:
Hé gia đình, cá nhân sử dụng đất vào các mục đích sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối ở nông thôn và thị trấn.
Hé gia đình, cá nhân sử dụng đất ở, đất chuyên dùng tại nông thôn.
Cộng đồng dân cư sử dụng đất có các công trình như: đình, đền,
miếu, am, từ đường tại nông thôn.
Hé gia đình và cá nhân sử dụng đất vào các mục đích tại nội thành
phố, nội thị xã và đất ở, đất chuyên dùng tại thị trấn.
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ký duyệt để cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ sử dụng đất là:
Các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử
dụng vào các mục đích.
Tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam.
Nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo.
Cộng đồng dân cư sử dụng đất có các công trình đền, miếu, am, từ
đường, nhà thờ họ tại đô thị.
Sở Địa chính các tỉnh, thành phố thực hiện chứng nhận thay đổi đối
với các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp của
UBND cấp tỉnh.
Phòng Địa chính cấp huyện thực hiện chứng nhận thay đổi đối với
các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp của UBND
cấp huyện.
quận cầu giấy
quyÒn sö dông ®Êt t¹i quËn cÇu giÊy
I. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội quận Cầu Giấy
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Quận Cầu Giấy là một bộ phận hợp thành của Thủ đô Hà Nội. Đây là
một quận mới được thành lập ngày 3 tháng 9 năm 1997, bao gồm 4 thị trấn
Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch, Cầu Giấy và 3 xã Yên Hoà, Trung Hoà,
Dịch Vọng của huyện Từ Liêm cũ. Diện tích đất tự nhiên của quận là
1.204,05 ha với dân số năm 2003 là 149.385 người, tương ứng với 35.000
hé.
Về địa giới hành chính, quận Cầu Giấy tiếp giáp với các quận, huyện
sau:
• Phía Bắc giáp quận Tây Hồ.
• Phía Đông giáp quận Ba Đình.
• Phía Tây giáp Thị trấn Cầu Diễn, huyện Từ Liêm.
• Phía Nam giáp quận Đống Đa.
Quận nằm ở cửa ngõ phía Tây, một trong những khu phát triển chính
của Thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 6 Km. Trong
quận có dòng sông Tô Lịch chạy dọc theo chiều dài phía Đông của quận.
Có các trục đường giao thông vành đai nối thủ đô Hà Nội với sân bay quốc
tế Nội Bài và trục đường chính nối trung tâm Hà Nội với chuỗi đô thị vệ
tinh Hoà Lạc – Sơn Tây (Đường Trần Duy Hưng, Đường Cầu Giấy – Xuân
Thủy – 32).
1.2. Thời tiết và khí hậu
Quận Cầu Giấy có chung điều kiện thời tiết khí hậu của thành phố
Hà Nội. Các chỉ số về thời tiết khí hậu được đo ở trạm khí tượng Láng,
cạnh địa bàn quận, do đó nó đặc trưng cho các điều kiện khí hậu của quận.
Thời tiết trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4
đến tháng 10, gió Đông Nam là chủ đạo. Nhiệt độ trung bình trong năm