Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TRỊNH XUÂN THẮNG ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ SO SÁNH
TRÌNH TỰ GEN LTP CỦA MỘT SỐ DÕNG ĐẬU XANH CÓ
NGUỒN GỐC TỪ MÔ SẸO CHỊU MẤT NƢỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thái Nguyên - 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực, chưa được ai công bố. Tác giả
Trịnh Xuân Thắng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS Chu Hoàng Mậu đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Vũ Thanh Thanh đã giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn TS. Lê Văn Sơn, KTV Hoàng Hà ( Phòng công nghệ tế
bào thực vật- Viện công nghệ sinh học). Tôi xin cảm ơn ban lãnh đạo Viện
khoa học sự sống- Đại học Thái Nguyên và ThS. Hoàng Văn Mạnh đã tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các nghiên cứu đề tài luận văn. Tôi cảm
ơn ThS. Bùi Hồng Xuyến đã cung cấp hạt của các dòng đậu xanh có nguồn
gốc từ mô sẹo chịu mất nước.
1.1.4. Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới và ở Việt Nam 9
1.2. GEN LTP VÀ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN CỦA CÂY ĐẬU XANH 11
1.2.1. Hạn và cơ sở hoá sinh, sinh học phân tử của tính chịu hạn 11
1.2.2. Protein vận chuyển lipid và gen LTP (Lipid Transfer Protein) 13
1.3. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TẾ BÀO THỰC VẬT TRONG CẢI TIẾN
GIỐNG CÂY TRỒNG 15
1.3.1. Cơ sở tế bào học của kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật 15
1.3.2. Nghiên cứu chọn giống cây trồng bằng kỹ thuật chọn dòng tế bào soma 17
Chƣơng 2: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1. VẬT LIỆU, HA CHẤT VÀ THIẾT BỊ 18
2.1.1. Vật liệu 18
2.1.2. Các hóa chất chuyên dụng 18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
2.1.3. Thiết bị 18
2.2. Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1. Nghiên cứu ngoài đồng ruộng 19
2.2.2. Thống kê sinh học 19
2.2.3. Phân tích hóa sinh 20
2.2.4. Phân tích sinh học phân tử 21
2.2.5. Địa điểm nghiên cứu 27
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1. ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÁC DÒNG ĐẬU XANH CHỌN
LỌC VÀ GIỐNG GỐC 28
3.1.1. Đặc điểm nông sinh học của các dòng đậu xanh chọn lọc có nguồn gốc
từ mô sẹo chịu mất nước ở thế hệ R2 28
3.1.2. Đặc điểm nông sinh học và yếu tố cấu thành năng suất của các dòng
đậu xanh ở thế hệ R3 31
PCR Polymerase chain Reaction
TAE Tris- acetic acid- EDTA
X- gal 5- brom- 4- chlobo- 3- indolyl- β-D- galactosidase
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Danh mụ c cá c thiế t bị sử dụ ng 18
Bảng 2.2. Thành phần của PCR 22
Bảng 2.3. Chu trình nhiệt độ trong phản ứng PCR 23
Bảng 2.4. Thành phần phản ứng nối sản phẩm PCR vào vector tách dòng 25
Bảng 2.5. Thành phần của phản ứng cắt plasmid tái tổ hợpbằ ng enzym BamHI 26
Bảng 3.1 Đặc điểm và mức độ biến dị của một số tính trạng nông sinh học
và yếu tố cấu thành nên năng suất 29
Bảng 3.2. Đặc điểm, mức độ biến dị của một số tính trạng nông sinh học và
yếu tố cấu thành năng suất của các dòng đậu xanh ở thế hệ R3 32
Bảng 3.3. Hàm lượng protein, lipid của các dòng đậu xanh và giống gốc 34
Bảng 3.4. Trình tự mồi nhân gen LTP 36
Bảng 3.5. Vị trí sai khác trình tự nucleotide gen LTP ở VC1973A và D15 42
Bảng 3.6. Vị trí sai khác trình tự nuclotide của gen LTP ở hai mẫu đậu
xanh VC1973A và D15 với các trình tự đã công bố trên GenBank . 44
Bảng 3.7. Vị trí sai khác amino acid của gen LTP hai mẫu đậu xanh
VC1973A, D15 với các trình tự đã công bố trên Genbank 46 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cây đậu xanh (Vigna radiata L.Wilczek) là cây công nghiệp ngắn ngày
trồng lấy hạt giữ vị trí quan trọng của nhiều nước châu Á và Việt Nam. Hạt
đậu xanh chứa nhiều chất dinh dưỡng như: protein chứa khoảng 23%- 28%,
1.3% lipid, 4.79% chất sơ, 64.12% hydratcacbon, các loại Vitamin A, B
1
, B
2
,
C. Một số nguyên tố khoáng và hàm lượng chất sắt rất cao. Nước ta trồng
nhiều đậu xanh, hạt đậu xanh dùng làm thực phẩm, bột đậu xanh rang chín
hòa với nước sôi là loại nước uống rất bổ dưỡng. Ngoài ra hạt đậu xanh còn là
một loại dược liệu quí có tác dụng chữa một số bệnh như bệnh tiểu đường,
bệnh phù thũng, giải nhiệt hà khí. Đặc biệt đậu xanh còn có tác dụng giải độc
do thuốc và các chất kim loại. Trồng đậu xanh ngoài thu hạt ra các phụ phẩm
còn được dùng làm thức ăn cho gia súc và trồng đậu xanh có tác dung cải tạo
đất do rễ cây có những nốt sần chứa vi khuẩn cố định nitơ Rhizobium.
Ở Việt Nam, cây đậu xanh được trồng lâu đời và phân bố ở nhiều vùng
khác nhau trong cả nước, nhưng năng suất chưa cao. Quá trình biến đổi khí
hậu toàn cầu đã dẫn đến những hiện tượng thời tiết cực đoan và làm cho khí
hậu ngày càng diễn biến phức tạp. Việt nam, cũng là một trong những quốc
gia chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Sự thay đổi về lượng mưa
trong năm và sự phân bố lượng mưa không đồng đều giữa các vùng, hiện
tượng hạn hán kéo dài cùng với các yếu tố bất lợi khác đã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự sinh trưởng và phát triển, làm giảm năng suất và sản lượng cây
trồng, trong đó có cây đậu xanh. Cây đậu xanh thuộc nhóm cây chịu hạn
kém, vì vậy nghiên cứu nâng cao khả năng chịu hạn của cây đậu xanh trong
điều kiện khí hậu hiện nay là một yêu cầu cấp thiết. Chọn dòng biến dị soma
- Đánh giá chất lượng hạt trên phương diện hoá sinh của một số dòng
đậu xanh có nguồn gốc từ mô sẹo chịu mất nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
- Nhân bản gen LTP bằng kỹ thuật PCR từ các dòng đậu xanh có nguồn
gốc từ mô sẹo chịu mất nước.
- Tách dòng và xác định trình tự gen LTP từ các dòng đậu xanh có
nguồn gốc từ mô sẹo chịu mất nước.
- So sánh trình tự gen, trình tự amino acid giữa các dòng đậu xanh
nghiên cứu và các trình tự đã công bố trên Ngân hàng gen quốc tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CÂY ĐẬU XANH
1.1.1. Nguồn gốc, phân loại cây đậu xanh
Đậu xanh (Vigna radiata L. Wilczek), có bộ NST 2n = 22, là loại cây
đậu ăn hạt, thân thảo. Đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ, được phân bố rộng
rãi ở các vùng nhiệt đới trong đó chủ yếu là ở các nước Đông và Nam Á sau
đó được trồng phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới.
Phân loại khoa học của cây đậu xanh:
- Giới (regnum): Plantae
- Ngành (division): Magnolyophita
- Lớp (class): Magnolyopsida
- Bộ (order): Fabales
nhau. Các lóng dài khoảng 8 - 10 cm, các lóng ngắn chỉ 3 - 4 cm. Từ các đốt
mọc ra các cành, trung bình có 1 - 5 cành. Cây đậu xanh ít phân cành và
thường phân cành muộn. Cành mọc từ nách lá thứ 2, 3 trên mỗi cành có từ 2-
3 mắt, từ đó mọc ra các chùm hoa [5], [12].
Lá cây đậu xanh thuộc loại lá kép, có ba lá chét, mọc cách. Trên mỗi
thân chính có 7 - 8 lá thật, chúng xuất hiện sau khi xuất hiện lá mầm và lá
đơn. Lá thật hoàn chỉnh gồm có: lá kèm, cuống lá và phiến lá. Cả hai mặt trên
và dưới của lá đều có lông bao phủ. Tốc độ hình thành lá kép phụ thuộc vào
thời vụ, giống và kĩ thuật chăm sóc. Vị trí của lá kép trên thân hoặc trên cành
thường mọc so le tại các phần giữa các đốt thân hay cành. Kích thước của
phiến lá và độ dài của cuống lá thay đổi tùy thuộc vào vị trí của tầng lá. Điều
này biểu hiện sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cây đậu xanh [5].
Hoa đậu xanh là loại hoa lưỡng tính, hình thành trên các trục hoa, trên
mỗi trục hoa có thể phát triển thành một hàng hoa mọc đối nhau . Các chùm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
hoa chỉ phát sinh ra từ các mắt thứ ba ở trên thân, nhiều nhất là ở mắt thứ tư,
còn ở các cành thì tất cả các mắt đều có khả năng ra hoa. Thường sau khi cây
mọc 18 - 20 ngày thì mầm hoa hình thành , sau 35 - 40 ngày thì nở hoa. Trong
một chùm hoa, từ khi hoa đầu tiên nở đến hoa cuối cùng kéo dài 10 - 15 ngày.
Mỗi chùm hoa dài từ 2 - 10 cm và có từ 10 - 125 hoa. Khi mới hình thành hoa
có hình cánh bướm, màu xanh tím, khi nở cánh hoa có màu vàng nhạt. Trong
tự nhiên, hoa đậu xanh thường nở rải rác thành từng đợt khác nhau. Căn cứ
vào thời gian nở hoa các giống đậu xanh có thể chia làm 3 nhóm:
- Nhóm ra hoa tập trung: hoa nở kéo dài dưới 16 ngày.
- Nhóm ra hoa trung gian: hoa nở kéo dài trong thời gian 16-30 ngày.
- Nhóm ra hoa không tập trung: hoa nở liên tiếp trên 30 ngày.
Quả non được hình thành sau khi hoa thụ phấn 2-3 ngày. Quả đậu xanh
đồng thời vừa có cả nụ, hoa, quả non và quả chín. Vì vậy, thời kì sinh thực
của đậu xanh chỉ mang tính chất tương đối [5], [12].
Bên cạnh những cây lương thực có giá trị kinh tế như lúa, lạc, ngô, đậu
tương thì đậu xanh cũng được coi là loại cây trồng đem lại giá trị kinh tế cao
cho nông dân. Trong hạt đậu xanh có nhiều các chất dinh dưỡng quan trọng
như protein, lipid, các loại vitamin, khoáng chất. Protein của đậu xanh có
nhiều các amino acid không thể thay thế cho nên đậu xanh được dùng để làm
thực phẩm rất bổ dưỡng và chế biến thành các món ăn đặc sản của nhiều địa
phương được ưa chuộng ở trong nước và ngoài nước. Đậu xanh còn được
dùng trong các bài thuốc cổ truyền có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Ngoài ra,
trồng cây đậu xanh còn có tác dụng cải tạo và bồi dưỡng đất. Nhờ hệ rễ đậu
xanh có các nốt sần chứa các vi khuẩn cộng sinh thuộc chi Rhizobium có khả
năng cố định nitơ từ khí trời. Vì vậy, đất sau khi trồng đậu xanh sẽ trở nên tơi
xốp và giàu dinh dưỡng hơn [12].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
1.1.3. Đặc điểm hóa sinh của đậu xanh
Hạt đậu xanh chứa 23 - 28% protein, 1,3% lipid, 56 - 60% glucid, 12%
nước, các vitamin B1, B2, C… ,các muối khoáng như Ca, Na, Fe, K ….
Đối với cây trồng thu hạt nói chung và cây đậu xanh nói riêng, đánh giá
chất lượng hạt được thực hiện bằng những phân tích thành phần hoá sinh
trong hạt như: hàm lượng protein, lipid, đường, thành phần amino acid, hàm
lượng và hoạt độ của các enzyme trong hạt ở giai đoạn nảy mầm Trong đó,
hai thành phần quan trọng có ảnh hưởng lớn đến sự nảy mầm của hạt và sự
phát triển của cây là protein và lipid.
Protein
Protein đậu xanh chiếm đầy đủ các loại amino acid không thay thế, là
nguồn cung cấp đạm bổ dưỡng và dễ tiêu hóa cho con người và động vật.
giảm về diện tích trồng. Trung Quốc cùng là một trong những nước chính sản
xuất đậu xanh của thế giới. Trong những năm 1957, diện tích gieo trồng là 1,64
triệu ha và sản lượng là 800 000 tấn và năng suất vẫn còn thấp chỉ vào khoảng
488kg/ha, và suy giảm qua các năm tiếp theo. Bắt đầu từ năm 1980 đến 2000,
do sự thay đổi trong chính sách của chính phủ và áp dụng các biện pháp khoa
học kỹ thuật thì sản xuất đậu xanh lại được phục hồi và hiện nay, hàng năm
Trung Quốc xuất khẩu đậu xanh tới hơn 60 nước và khu vực trên thế giới.
Năm 2000, thị trường xuất khẩu đậu xanh lớn nhất của Trung Quốc có thể kể
đến là Nhật Bản (40000 tấn/ 88000 tấn), sau đó là Hoa kỳ (8144 tấn), Việt
Nam (7645 tấn), Hàn Quốc (7199 tấn), Đài Loan (4466 tấn), Anh (2479 tấn),
Canada (2495 tấn), Pháp (1289 tấn)… [12].
Đậu xanh là một trong những loại cây trồng truyền thống ở Việt Nam.
Trên cơ sở các điều kiện khí hậu, đặc điểm sinh thái của từng vùng mà các
vùng trồng đậu xanh của nước ta như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
+ Vùng núi phía Bắc: các tỉnh ở vùng này trồng nhiều đậu xanh gồm:
Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang. Vùng này khí hậu có mùa đông lạnh
từ tháng 11 đến tháng 2, các tháng còn lại nóng ẩm, cây đậu xanh cũng được
gieo trồng vào dịp này. Đậu xanh trồng ở vùng này ít được thâm canh, năng
suất trung bình 600-700kg/ ha [5].
+ Vùng Đồng bằng và Trung du Bắc bộ: Đậu xanh trồng ở vùng này
thường được chăm sóc đầy đủ hơn, thâm canh cao hơn và tưới tiêu hợp lý
hơn, tăng năng suất. Thực hiện luân canh 3-4 vụ/ năm, năng suất trung
bình 8- 10 tạ/ ha [5].
+ Vùng Duyên Hải Nam Trung bộ: Đây là vùng có diện tích trồng đậu
xanh lớn, sản lượng cao do ít chịu ảnh hưởng của mùa đông. Khí hậu thuận
lợi phân chia rõ rệt mùa mưa và mùa khô. Đậu xanh có triển vọng phát triển
làm cho quá trình thoát hơi nước ở cây mạnh có thể làm mất cân bằng nước.
Hạn không khí thường xảy ra ở các vùng có gió khô nóng như gió Tây nam ở
miền trung.
- Hạn sinh lý
Khi trạng thái sinh lý của cây không cho phép cây hút nước từ đất, mặc
dù trong môi trường nước không thiếu nước. Rễ cây không lấy được nước
trong khi đó quá trình thoát hơi nước ở lá vẫn diễn ra cũng làm mất cân bằng
nước trong cây.
Mỗi cây trồng đều có một giới hạn đối với các nhân tố sinh thái của
môi trường. Nếu ngoài giới hạn đó sẽ gây hại cho cây trồng như: giảm năng
suất, giảm khả năng sinh trưởng và phát triển. Khi tình trạng hạn xảy ra cây sẽ
phản ứng lại bằng cách đóng khí khổng, giảm thoát hơi nước, giảm quang
hợp, tăng tích lũy ABA, prolin, manitol, sorbitol [47].
Đối với thực vật, nước là một yếu tố rất quan trọng liên quan đến năng
suất. Nước là sản phẩm trung gian và cuối cùng của quá trình chuyển hóa, là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
môi trường để các phản ứng hóa sinh xảy ra trong tế bào. Đậu xanh là một cây
chịu hạn kém nên thiếu hụt nước sẽ ảnh hưởng đến sự phân cành, ra hoa, kết
quả, chất lượng hạt. Thiếu hụt nước nặng sẽ dẫn đến thay đổi tính chất lý hóa
của hệ thống keo nguyên sinh, chuyển từ dạng sol sang dạng gel, quá trình
quang hợp bị giảm sút.
Đặc tính chịu hạn ở thực vật đã được nghiên cứu và khẳng định có sự
liên quan đến sự phát triển bộ rễ, khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu,
abscisic acid (ABA), aquaporin, các nhân tố ức chế protease [10]. Theo
nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng hút nước của cây phụ thuộc vào bộ rễ.
Những cây có bộ rễ dài, to, khỏe có khả năng đâm sâu vào tầng đất để hút
nước, cho nên khi gặp hạn những cây này vẫn phát triển. Trong điều kiện hạn
[34].
Nghiên cứu về cơ chế phân tử liên quan đến tính chống chịu hạn ở thực
vật người ta chú ý đến các gen mã hoá các loại protein liên quan đến khả năng
chịu hạn, bao gồm các loại protein chức năng và protein điều hoà. Các loại
protein chức năng trực tiếp liên quan đến sự biểu hiện khả năng chịu hạn, ví
dụ như: P5CS, LTP, LEA, PLC, HSP, cystatin… và protein điều hoà như chất
môi giới phân tử, nhóm protein DREB, các nhân tố protein tham gia vào quá
trình biểu hiện của nhóm gen chịu hạn.
1.2.2. Protein vận chuyển lipid và gen LTP (Lipid Transfer Protein)
LTP là tên thường gọi của một nhóm protein có khả năng vận chuyển
lipid, có liên quan đến tính chịu hạn ở thực vật.
LTP có khả năng tạo phức với một số acid béo và xúc tác cho quá trình
vận chuyển lipid qua màng tế bào, giúp hạn chế sự mất nước. LTP được
gắn tại một vị trí cố định trên màng sinh chất của tế bào, nó có đặc điểm
như một receptor vận chuyển acid béo qua màng tế bào. Phức hợp LTP -
linoleic acid đã được chiết ra từ màng sinh chất của cây thuốc lá trong điều
kiện gây hạn nhân tạo [35].
LTP có khả năng xúc tác tới sự vận chuyển phospholipid giữa các
lớp màng của tế bào. LTP có thể hỗ trợ việc tạo ra các lớp sáp hoặc lớp
biểu bì giúp thực vật bảo vệ, phản ứng và đáp ứng lại những thay đổi của
môi trường [26], [29].
Nghiên cứu gần đây cho thấy sự mở rộng in vitro các phân tử cellulose
xuloglucan của thành tế bào thực vật có thể được gây ra do các LTP. Mặc dù
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
chưa có bằng chứng in vitro song khám phá này chắc chắn sẽ đem lại câu hỏi
thú vị về cơ chế mở rộng thành tế bào thực vật. LTP còn liên quan đến quá
trình hình thành tầng cutin của tế bào thực vật, làm tăng khả năng chống chịu
trong mô lá.
- Nhóm IV: Bao gồm các gen LTP tổng hợp nên các chuỗi polypeptide
được cô lập và biểu hiện trong hoa [33], [39].
Trong những năm gần đây, gen LTP đã được nghiên cứu ở một số thực
vật như: Arabidopsis thaniana L. [23], Zea mays L. [41], Vigna radiata L.
[36], Triticum L. [38],, Nicotiana tabacum L. [37], [40], Oryza sativa L. [45],
Valencia orange [46], Lycopesium esculentum [43]. Liu K.H. và cs (2003) đã
phân lập thành công hai dạng khác nhau của gen LTP và đặt tên là Vrltp1 và
Vrltp2 [36]. Trình tự các amino acid suy diễn của Vrltp1 và Vrltp2 đều có hai
đoạn pentapeptide mang tính bảo thủ cao ở thực vật. Trong hạt đậu xanh ở
giai đoạn nảy mầm, nhóm nghiên cứu chỉ tìm thấy mRNA của Vrltp1, còn
trong mô sinh dưỡng thì mRNA của cả Vrltp1 và Vrltp2 chỉ tìm thấy ở lá và
thân, không có ở chóp rễ. Các tác giả cũng nhận thấy, khi gặp điều kiện bất
lợi như stress hạn hay muối hoặc khi hàm lượng ABA ngoại bào quá cao sẽ
làm tăng tốc độ phiên mã của mRNA Vrltp1 và Vrltp2. Từ đó đưa ra giả
thuyết rằng gen LTP có ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát triển các mô non và rất
có thể đóng vai trò quan trọng trong sự thích nghi của thực vật trong điều kiện
khô hạn.
1.3. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TẾ BÀO THỰC VẬT TRONG CẢI
TIẾN GIỐNG CÂY TRỒNG
1.3.1. Cơ sở tế bào học của kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật
Một trong những đặc điểm của tế bào thực vật đó là tính toàn năng, từ
một mô sống bất kỳ của tế bào thực vật (bao phấn, đỉnh sinh trưởng, lá mầm,
thân, cành ) nếu được nuôi cấy trong môi trường thích hợp sẽ phát triển
thành một cây hoàn chỉnh và có khả năng sinh trưởng bình thường. Các mô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
ngoài khả năng phát triển thành cây hoàn chỉnh còn có khả năng phát triển