ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HÀ VĂN CHIỀU
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG CHO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG
CỦA CÁC DÒNG BƯỞI LAI CÓ TRIỂN VỌNG
TẠI THÁI NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : CHÍNH QUY
Chuyên ngành : NÔNG LÂM KẾT HỢP
Khoa : LÂM NGHIỆP
Khoá học : 2010 - 2014
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS. TRẦN CÔNG QUÂN
Khoa Lâm nghiệp - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận trên là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Trần Công Quân. Số liệu và kết quả
nêu trong khóa luận là trung thực. Nội dung khoá luận có tham khảo và sử
dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, trang web
theo danh mục tài liệu của khoá luận. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
những lời cam đoan trên. Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Để hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, đồng thời giúp sinh viên làm quen với công tác
nghiên cứu khoa học. Được sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà trường và Ban
chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá đặc
điểm nông sinh học và khả năng cho năng suất, chất lượng của các dòng
Bưởi lai có triển vọng tại Thái Nguyên”.
Qua thời gian thực tập với sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo
trong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của địa
phương nơi em thực hiện đề tài, đến nay em đã hoàn thành khóa luận của mình.
Lời đầu tiên, cho em xin được chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Nhà
trường và Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp đã sắp xếp, bố trí và tạo điều kiện
tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa luận.
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Trần Công Quân,
TS. Trần Đình Quang và đặc biệt là thầy giáo PGS TS. Ngô Xuân Bình cùng
các thầy cô trong Nhà trường đã tận tình giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt
quá trình thực tập. Nhân đây cho phép em cảm ơn cán bộ và người dân xã Tức
Tranh - Phú Lương - Thái Nguyên cùng các bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ động viên em hoàn thành tốt khóa luận này.
Do trình độ và năng lực bản thân còn hạn chế, hơn nữa đây là lần đầu
tiên nghiên cứu khoa học nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em
rất mong nhận được những ý kiến nhận xét của các thầy cô cùng bạn bè đồng
nghiệp để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014
Sinh viên Hà Văn Chiều
2.1.4.1. Các nhóm cây có múi 13
2.1.4.2. Đặc tính thực vật học 17
2.1.4.3. Yêu cầu sinh thái 20
2.1.5. Những khó khăn trong việc trồng cam quýt ở nước ta 21
2.2. Tổng quan khu vực nghiên cứu 22
2.2.1. Điều kiện tự nhiên 22
2.2.1.1. Vị trí địa lý 22
2.2.1.2. Địa hình đất đai 23
2.2.1.3. Điều kiện khí hậu - thủy văn 24
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 25
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 28
3.1. Đối tượng nghiên cứu 28
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
3.3. Nội dung nghiên cứu 28
3.4. Phương pháp nghiên cứu 28
iv
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1. Kết luận 51
5.1.1. Đặc điểm hình thái 51
5.1.2. Đặc điểm sinh trưởng 51
5.1.3. Đặc điểm ra hoa, năng suất chất lượng quả 52
5.2. Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
I – TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 53
II – TÀI LIỆU TIẾNG ANH 53 v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CV : Hệ số biến động
LSD : Giá trị nhỏ nhất để phân biệt ranh giới khác nhau có ý nghĩa
và khác nhau không có ý nghĩa, giữa bất kỳ một cặp công thức nào
VTM C : Vitamin c
FAO : (Food and Agriculture Organization of the United Nations)
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam có điều kiện sinh thái đa dạng với chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm
và á nhiệt đới cùng với sự phân hoá về địa hình đã tạo nên những vùng khí
hậu đặc thù có thể phát triển được các loài cây ăn quả nhiệt đới, á nhiệt đới và
cây ăn quả ôn đới. Mặc dù có điều kiện khí hậu đất đai thuận lợi cho cây ăn
quả phát triển nhưng do điều kiện kinh tế xã hội nghề trồng cây ăn quả Việt
Nam trước đây ở vào tình trạng kém phát triển và sản lượng hàng hoá thấp.
Mặc dù chúng ta có nguồn tài nguyên cây ăn quả khá phong phú và đa
dạng nhưng theo các chuyên gia cây ăn quả (Viện khoa học kĩ thuật nông
nghiệp Miền nam) nhận định: Hiện nay, chúng ta phải lựa chọn một số chủng
loại cây ăn trái có ưu thế và khả năng cạnh tranh để đầu tư các khâu kĩ thuật,
xây dựng thương hiệu và chiến lược xúc tiến thương mại nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh và chiếm lấy thị trường thế giới. Theo các chuyên gia, hiện tại,
chúng ta cần chú ý đến một số chủng loại cây ăn trái như: Thanh long, Vú
sữa, Măng cụt, ổi, sơ ri và Bưởi.
Bưởi là một cây ăn quả đã góp phần tạo nên ý nghĩa tích cực kể trên và
là đối tượng phát triển chiến lược của ngành trồng cây ăn quả Việt Nam. Từ
lâu, bưởi rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Một số giống bưởi nước ta
đã trở thành thương hiệu uy tín không chỉ ở trong nước mà còn cả trên thị
trường thế giới như: bưởi Da Xanh, bưởi Diễn, bưởi Đoan Hùng, bưởi Năm
Roi,… hiện nay cam quýt trở thành một trong những cây ăn quả chủ lực ở
Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam với bộ giống gồm khoảng 70 giống
khác nhau (Mura, Đỗ Đình Cả - 1997) [9].
3
cứu chuyên đề: “Đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng cho năng
suất, chất lượng của các dòng Bưởi lai có triển vọng tại Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích đề tài
Dựa trên cơ sở đánh giá đặc điểm sinh học của một số dòng Bưởi lai
có triển vọng của vùng nghiên cứu nhằm tuyển chọn các giống, dòng Bưởi
lai phù hợp với tỉnh Thái Nguyên nói riêng và khu vực miền núi trung du
phía Bắc Bộ nói chung.
1.3. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được đặc điểm hình thái của một số dòng dòng Bưởi lai
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng của một số dòng Bưởi lai tham gia
thí nghiệm.
- Đánh giá đặc điểm ra hoa, kết quả, năng suất chất lượng quả của các
dòng Bưởi lai có triển vọng.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Củng cố kiến thức đã được học và vận dụng một cách sáng tạo những
kiến thức đã học vào thực tế sản xuất; có cơ hội học hỏi thêm những kinh
nghiệm trong thực tiễn sản xuất; nâng cao năng lực nghiên cứu chuyển giao
khoa học kỹ thuật cho bản thân.
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để khuyến cáo cho nông dân và các
doanh nghiệp lựa chọn, đưa các dòng Bưởi lai vào cơ cấu cây trồng sản
xuất của mình.
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho công tác chọn tạo giống.
- Góp phần tìm ra những dòng bưởi ưu tú phục vụ sản xuất tại vùng
nghiên cứu và một số vùng có điều kiện sinh thái tương tự.
vĩ nam, có nghĩa là cam quýt chỉ được trồng trọt vùng nhiệt đới á nhiệt đới.
5
Hiện nay vùng cây ăn quả nhiệt đới như Việt Nam, Cuba, Thái Lan, Malaysia
và miền Nam Trung Quốc giáp Việt Nam đang gặp những khó khăn lớn về
phát triển cam quýt do một số bệnh hại điển hình của vùng nhiệt đới, như
bệnh greening gây nên. Sức tàn phá của các loại dịch bệnh này khiến cho diện
tích cam quýt của một số nước nằm trong vùng nhiệt đới bị thu hẹp hoặc
không tăng lên được.
Hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng 4 - 5 triệu tấn bưởi cả 2 loại
bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis), chiếm 5,4 - 5,6% tổng
sản lượng cây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm chiếm 2,8 - 3,5 triệu
tấn, còn lại bưởi chiếm một lượng rất ít khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn. Bưởi chủ
yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á và tập trung nhiều ở một số nước
như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines vv
Các vùng trồng cam quý nổi tiếng trên thế giới hiện nay chủ yếu nằm ở
những vùng khí hậu khá ôn hoà thuộc vùng á nhiệt đới, hoặc vùng khí hậu ôn hoà
ven biển chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu đại dương. Những vùng trồng cam
quýt nổi tiếng hiện nay phải kể đến là vùng Địa Trung Hải và châu Âu, như Tây.
Hiện nay cây bưởi được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các
vùng bưởi trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp
ở các vùng. Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề trồng bưởi cũng
sớm phát triển và ngược lại.
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng bưởi trên thế giới
Chỉ tiêu
Năm
2003
Phân vùng địa lý trên thế giới hiện nay có các vùng trồng cam quýt chính
như sau:
Vùng cam quýt châu Mỹ
Là vùng khá lớn và tập trung, gồm chủ yếu ở các nước Trung Mỹ kéo
lên phía bắc đến khoảng 40
o
vĩ bắc và xuống phía nam đến vĩ độ tương đương
bao gồm các nước như: Honduras, Mexico, Cuba, Dominica, Nicaragoa,
Panama, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Costarica, Brazil, Argentina, Equado,
Uruguay, Colombia. Ngoài ra cam quýt còn được trồng trong nhà kính và ở
những vùng ấm áp ven biển miền Nam Canada. Tuy không phải là nơi khởi
nguyên của cam quýt, nhưng lịch sử trồng cam quýt ở châu Mỹ gắn liền với
lịch sử khám phá ra châu lục này của các nhà thám hiểm châu Âu, đặc biệt là
của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Có nhiều ý kiến khác nhau về lịch sử
du nhập cam quý vào châu Mỹ, phần lớn cho rằng nhà thám hiểm người Tây
Ban Nha, Phó vương Columbo đã mang cam quýt đến châu Mỹ trong chuyến
đi biển lần thứ hai vào năm 1483. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng cam
quýt được đưa vào châu Mỹ từ những người đi biển Bồ Đào Nha trước năm
1483 [14]. Nhờ điều kiện thiên nhiên ưu đãi cũng như sự phát triển nhanh về
mọi mặt của lục địa châu Mỹ, cam quýt được phát triển mạnh cả về diện tích,
năng suất và sản lượng [10]. Ở châu Mỹ có một số giống cam quýt nổi tiếng,
cam Navel được chọn lọc ở đây. Các giống cam ngọt, bưởi chùm (Citrus
paradisis) cũng là sản phẩm chính thức của châu Mỹ, với đặc điểm vỏ mỏng,
cùi có vị thơm mềm, độ chua và ngọt vừa phải, bưởi chùm được đặc biệt ưa
7
chuộng làm món tráng miệng trên thế giới. Châu Mỹ là nơi sản xuất và xuất
khẩu chủ yếu bưởi chùm, cam Navel và các giống cam ngọt khác. Năm 1997
bưởi và chanh.
Ngoài ra cam quýt còn được trồng ở châu Đại Dương như Autralia,
Newzilan. Hiện nay cam quýt bắt đầu được trồng nhiều trong nhà kính ở các
nước có khí hậu lạnh như Nauy, Thuỵ Điển, Phần Lan. Tuy nhiên sản lượng ở
những nước này không nhiều, chủ yếu chế biến phục vụ nhu cầu trong nước.
2.1.3. Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam
2.1.3.1. Thực trạng phát triển cam quýt ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nơi khởi nguyên của nhiều loài cây trồng,
do điều kiện khí hậu và địa hình phức tạp, là một trong những nước có thể
trồng được nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả. Kết quả điều tra cho
thấy ở nước ta có hàng ngàn giống cây ăn quả thuộc 130 loài của hơn 30 họ
thực vật [4],[2]. Nhiều loài cây ăn quả thích ứng với các vùng khác nhau
trong nước như chuối, dứa, cam quýt. Nhiều loại cây ăn quả được trồng theo
vùng sinh thái tạo thành các vùng đặc sản nổi tiếng như nhãn lồng Hưng Yên,
vải thiều Thanh Hà, Lục Ngạn (Bắc Giang). Các cây ăn quả đặc sản như sầu
riêng, măng cụt, chôm chôm ở miền Nam, …
Trong nhiều năm diện tích cây ăn quả không ngừng tăng nhanh ở Việt
Nam, số liệu ở bảng 2.2, cho thấy mặc dù có một số hạn chế về sinh thái, cam
quýt vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam.
Cây ăn quả có múi có lịch sử trồng trọt lâu đời ở nước ta. Lê Quý Đôn đã
mô tả: Việt Nam có rất nhiều thứ cam: Cam sen, nhũ cam da sần vị rất ngon;
cam chanh da mỏng và mỡ, vừa ngọt thanh vừa có vị chua dịu; cam sành vỏ
dày, vị chua nhẹ, cam mật vỏ mỏng vị ngọt; cam giấy da rất mỏng, màu hồng
trông đẹp mắt, vị chua; cam động đĩnh quả to, vỏ dày, vị chua; cây quất ghi
trong một số sách cổ Trung Quốc là sản phẩm quý của phương Nam đem sang
Trung Quốc trước tiên [8]. Các báo cáo của tác giả Tanaka Nhật Bản trong
chuyến đi khảo sát châu Á đó nhắc đến loài cam quýt được trồng ở Việt Nam
từ đầu thế kỷ 20 [14]. Hiện nay ở Nhật Bản có một số giống bưởi khá nổi
Tổng 559 122 216 167 131 412 1156 2.702
(Nguồn: FAOSAT, 2013)[11]
Cây có múi nói chung và bưởi nói riêng là loại cây ăn quả quan trọng
không chỉ về giá trị dinh dưỡng mà cả về hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần so
với cây trồng khác. Việc phát triển trồng bưởi ở những vùng có điều kiện phát
triển cũng như bảo tồn và phát triển mở rộng hơn nữa ở các vùng bưởi truyền
thống là định hướng chiến lược của nhiều địa phương trong cả nước.
2.1.3.2. Các vùng trồng cam quýt chủ yếu ở Việt Nam
- Vùng trồng cam quýt miền núi và trung du miền núi phía Bắc
Là vùng trồng cam quýt với diện tích nhỏ, nhưng lại có nhiều lợi thế về
điều kiện tự nhiên, khí hậu, đặc biệt có nhiều chủng loại giống có thể sản xuất
hàng hóa đa dạng, gồm các tỉnh miền núi phía bắc như Tuyên Quang, Yên
Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn
La, Lai Châu. Khu vực này nằm ở dải vĩ độ 22-23 độ vĩ bắc, do nằm sát vùng
10
á nhiệt đới, lại chủ yếu là vùng núi cao có độ cao so với mặt biển trên 300 m,
cho nên khí hậu phân mùa rõ rệt, đông lạnh, xuân và thu mát, hè nóng. Nhiệt
độ trung bình tháng là 21-22
o
C, tháng lạnh nhất là 13-15
o
C, tháng nắng nhất
là 27-28 độ C, càng lên cao giáp biên giới Việt - Trung và Việt - Lào biên độ
nhiệt độ ngày đêm chênh lệch càng cao là một điều kiện khá thuận lợi để nâng
cao phẩm chất cam quýt. Với lượng mưa trung bình ở các tỉnh miền núi phía
Bắc là 1800-3200 mm, lượng mưa chủ yếu tập chung từ tháng 5 đến tháng 10.
Các tháng còn lại ít mưa, thời gian mưa có ảnh hưởng tốt đến việc trồng cam
cam quýt ở miền núi phía bắc có tuổi thọ rất cao, nhiều cây trên 100 tuổi vẫn
đang ở thời kỳ cho năng suất cao [2], [3].
Nhìn chung, vùng miền núi phía bắc Việt Nam có tiềm năng lớn về đất
đai, ưu thế về khí hậu để có thể phát triển mạnh nghề trồng cam quýt. Khí hậu
vùng miền núi phía bắc ngoài việc phù hợp với sinh trưởng, ra hoa bình thường
ở cam quýt còn có ưu thế hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng
sông Cửu Long là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ giữa các tháng trong
năm cũng khá lớn giúp nâng cao khả năng tổng hợp đường và các sắc tố mang
đúng đặc trưng của giống. Vì vậy mà quả cam quýt phía bắc bao giờ cũng đẹp
hơn vùng đồng bằng sông Cửu Long, quả mọng nước, ngọt và ít xơ bỏ hơn.
Miền núi phía bắc có những hạn chế cơ bản về vùng cam quýt, như địa
hình đất dốc, lượng mưa phân bố không đều làm đất trồng trọt nhanh bị nghèo
kiệt dinh dưỡng do rửa trôi, xói mòn. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến còn rất ít
do hạn chế về trình độ học vấn và nhận thức của người dân, chủ yếu vẫn là
độc canh một giống, canh tác theo các phương pháp truyền thống. Do vậy
chưa đi vào thâm canh tăng năng suất cây ăn quả. Việc tuyển chọn những
giống tốt còn chưa được quan tâm. Các giống hiện tại đó bị thoái hoá nhiều
do sử dụng các phương pháp nhân giống truyền thống mà chủ yếu là phương
pháp gieo hạt. Địa bàn rất phân tán, giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng cơ sở
nghèo nàn, rất khó khăn trong việc tiếp thị để tiêu thụ cũng như chế biến sản
12
phẩm. Nếu khắc phục được các trở ngại trên thì vùng sản xuất cam miền núi
phía bắc sẽ trở thành vùng sản xuất quan trọng với cam quýt nói riêng và cây
ăn quả nói chung.
- Vùng sản xuất cam quýt ven biển miền Trung
Vùng ven biển miền Trung gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình trải dài từ 18 - 20030’ vĩ độ bắc. Tổng diện tích trồng cam quýt
13
- Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long
Bao gồm các tình như Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh
Long, Cần Thơ, nằm trong khoảng 9
0
15’ - 10
0
13’ vĩ độ bắc, 105
0
- 106
0
45’ độ
kinh Đông với địa hình bằng phẳng, bằng độ cao hơn mực nước biển 3-5m, có
hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến
tháng 4 năm sau. Sự phân bố này tương đối ổn định qua các năm với nhiệt độ
trung bình là 26-27
0
C với tồng nhiệt độ hàng năm là 9.500-10.000
0
C, chênh
lệnh giữa nhiệt độ tháng thấp nhất và cao nhất là 3-4
0
C nhưng dao động nhiệt
độ giữa ngày và đêm khoảng 7-8
0
C.
Lượng mưa trung bình từ 1300 - 2000 mm, chủ yếu tập trung vào mùa
mưa ở tháng 5 đến tháng 11 (90%), mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau lượng mưa chỉ vào khoảng 10 % cả năm. Năm 1998 diện tích trồng
+ Chanh núm (Citrus limon) gốc ở miền Trung và tây bắc Ấn Độ, không
ưa các khí hậu nhiệt đới ẩm mà thích những nơi khí hậu không quá nóng
nhưng không quá lạnh và hơi khô, ít trồng ở Việt Nam, giá trị kinh tế thua
kém so với chanh vỏ mỏng.
+ Chanh Lajim (Citrus Auratifolian) trồng ở miền Nam và Tây Á, gốc ở
những vùng nóng và mưa nhiều. Là giống chanh chịu nóng, khí hậu ẩm, mưa
nhiều. Cây nhỏ, nhiều cành nhỏ, nhiều gai, cuống lá gần như không có eo lá.
Quả thường nhỏ, vỏ mỏng, hình tròn hoặc trái xoan. Cũng có một núm nhỏ,
vỏ mỏng, nhiều nước, rất chua. Khi chín vỏ quả còn xanh hoặc hơi vàng khi
cắt đôi thịt thường màu xanh nhạt, có khi giống thịt đỏ, vỏ đỏ, Trồng chủ yếu
ở các nước nhiệt đới hoặc á nhiệt đới ẩm.
- Quýt (Citrus Reticulata) theo Swingle, những đặc điểm chính của quýt
là nhiều múi (9-13), cuống lá có cánh hép, vỏ dễ bóc, hạt nhỏ, tử diệp xanh
lục. Quýt được chia thành các nhóm:
15
+ Quýt Satsuma chịu rét tốt, trồng tại Nam Nhật Bản, ở vĩ tuyến cao nhất
so với các cây có múi khác. Quýt Satsuma chín sớm, thường không có hạt và
có nhiều loại phụ.
+ Quýt King: quả to, vỏ dày, hơi khó bóc giống cam nhưng đáy quả hơi
lõm xuống.
Cam sành ở Việt Nam thuộc loại này, nguồn gốc lai của giống này rất rõ
vì nhiều đặc tính giữa cam và quýt: quả tròn, quả dẹt, vỏ khi dày khi mỏng.
Trung bình có 15-20 hạt/quả nhưng có quả hoàn toàn không có hạt, có quả có
tới 25-30 hạt/quả.
+ Quýt Ponkan chỉ là một giống trong nhóm C.Aeticulata Blam (quýt
thường): Gồm nhiều loại quýt trồng ở các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam
tùy theo vùng có những tên gọi khác nhau như: Cam đường (quả to gọi là
tháng 11, tháng 12. Dạng quả hình quả lê, trọng lượng quả nặng trung bình từ
0,9- 1,45 kg/quả, vỏ vàng khi chín, còn tép tróc khỏi vách múi và bó chặt
nhau, nước quả nhiều có vị ngọt chua. Nhìn chung đây là giống bưởi có quả
to đẹp mã, dễ bóc múi, dễ lột vỏ, hương vị ngon, đặc biệt rất ít hạt [1]. Hiện
nay đây là giống bưởi có triển vọng và đã có thương hiệu bưởi Năm Roi do
công ty Hoàng Gia và tỉnh Vĩnh Long xuất khẩu [7].
- Bưởi Da Xanh (Bến Tre, Tiền Giang)
Dạng quả hình cầu nặng trung bình từ 1,2- 2,5 kg/quả, vỏ vẫn giữ màu
xanh khi chín, dễ tách vỏ, vỏ mỏng (14 - 18 mm), con tép màu hồng đỏ, bó chặt
và dễ tách khỏi múi, nước quả khá, vị ngọt không he đắng và khá nhiều hạt [7].
- Bưởi Phúc Trạch
Cây sinh trưởng trung bình, phân cành nhiều, góc phân cành nhỏ, tán cây
hình quạt, lá ô van, xanh nhạt; quả có hình cầu, khi chín màu vàng rơm, tép
màu hồng nhạt, vị ngọt thanh, không đắng, trọng lượng quả trung bình đạt xấp
xỉ 900g, số hạt trên quả là 85,5 hạt, tỉ lệ phần trăm ăn được là 47,87% [7].
- Bưởi Đoan Hùng
Hiện được trồng nhiều ở huyện Đoan Hùng (Phú Thọ), được trồng trên
đất phù xa ven sông Lô và sông Chảy. Có hai giống được cho là tốt nhất, đó
17
là bưởi Tộc Sửu và bưởi Bằng Luân. Bưởi Bằng Luân quả hình cầu hơi dẹt,
trọng lượng trung bình 0,7- 0,8 kg/quả. Vỏ quả màu vàng hơi xám nâu, tép
múi màu trắng xanh, mọng nước, vị ngọt, được thu hoạch vào tháng 10, tháng
11, có thể để được lâu sau khi thu hoạch. Bưởi Tộc Sửu quả lớn hơn, trọng
lượng trung bình 1-1,2 kg/quả, vị ngọt lạ và có màu trắng xanh, thu hoạch
sớm hơn bưởi Bằng Luân khoảng nửa tháng [7].
- Bưởi Diễn
Là giống bưởi ngọt có nguồn gốc từ Đoan Hùng (Phú Thọ), hiện được