giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn hóa học lớp 8 - Pdf 24

PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN LÂM HÀ
TRƯỜNG THCS HOÀI ĐỨC
Tên tác giả : NGUYỄN THỊ CẨM VÂN

Giải pháp hữu ích:
GIẢI PHÁP PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM MÔN HÓA HỌC LỚP 8
TRƯỜNG THSC HOÀI ĐỨC
Hoài Đức – Lâm Hà – Lâm Đồng
Năm học : 2007 – 2008
MỤC LỤC
Phần I : MỞ ĐẦU
Phần II : NỘI DUNG
I.Cơ sở lí luận và thực tiễn của giải pháp
1.Cơ sở lí luận :
2.Thực tiễn :
II.Thực trạng :
1.Thuận lợi :
2.Khó khăn:
III.Giải pháp và thực hiện giải pháp
1.Giới thiệu giải pháp
2.Cấu trúc giải pháp
3.Thực hiện giải pháp
* Thiết kế các hoạt động trong một tiết dạy phụ đạo cho học sinh
IV. Kết quả đạt được
Phần III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
II. Kiến nghị
PHỤ LỤC
- Tài liệu tham khảo
Phần I : MỞ ĐẦU
Việc phụ đạo kiến thức cho học sinh yếu kém bộ môn là một trong những vấn

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIẢI PHÁP:
1.Cơ sở lí luận :
Phụ đạo kiến thức cho học sinh yếu kém là giáo viên phải bổ xung được những
“lỗ hổng” kiến thức cho học sinh (chủ yếu là những kiến thức có trong sách giáo
khoa hoá học) để giải quyết, để giành lại kiến thức mà các em chưa lĩnh hội hết trong
tiết dạy chính trên lớp.Từ đó học sinh có thể hòa nhập theo kịp với các bạn trong tiết
học đang diễn ra trên lớp .
Theo tôi học sinh muốn làm tốt hoạt động này thì bản thân giáo viên cần phải
nắm bắt chính xác và đánh giá được mức độ kiến thức đọng lại ở mỗi học sinh trong
mỗi tiết dạy để chuẩn bị lên kế hoạch phụ đạo, thết kế nội dụng tiết phụ đạo sao cho
có hiệu qủa nhất, muốn vậy thì cần phải biết rõ căn cứ ,hiểu và kết hợp giải quyết
được các vấn đề sau:
+ Tìm hiểu tại sao học sinh sợ ,chán ,học yếu kém học môn hóa học và tìm cách
giải tỏa tâm lí này ở một số em.
+ Hướng dẫn học sinh tự đánh giá hiểu biết của bản thân về môn học và tự rèn
luyện ý thức học tập.
+ Giáo Viên xác định được khối lượng kiến thức đối với từng bài học cụ thể cho
đối tượng học sinh yếu kém, để đề ra nội dung ,hình thức vàphương pháp dạy thích
hợp nhất.
Như vậy cần ở học sinh phải hoàn toàn tự giác cao trong suy nghĩ và hành động,
tích cực phối hợp với giáo viên, có suy nghĩ ,cân nhắc kĩ lưỡng những thông tin nhận
được để “vá lại lỗ hổng kiến thức” vàphản hồi lại kiến thức một cách chính xác ,khoa
học nhất. Muốn vậy Giáo Viên là người rất quan trọng cần phải có các hướng dẫn cụ
thể để giúp Học Sinh .
2. Thực tiễn :
Trước đây khi chưa triển khai chương trình thay Sách Giáo Khoa và sử dụng
phương pháp mới (dạy ,học theo hướng tích cực ) thì phương pháp giảng giải nêu vấn
đề thường là phương pháp chủ đạo làm cho học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ
động nên rất dễ quên kiến thức nếu không học thuộc lòng ,học bài thường xuyên.
Mặt khác thông qua việc đọc cho học sinh ghi nội dung kiến thức làm cho học

Tài liệu tham khảo trong nhà trường được quan tâm nhiều hơn, mỗi năm đều
mua bổ xung thêm, Đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ không phải học “chay” như
trước, từ đó làm cho bộ môn hóa không còn trừu tượng như mọi người vẫn quan
niệm. Hơn thế nữa giáo viên tự tìm tòi, nghiên cứu làm ra một số đồ dùng dạy học
thiết thực làm cho tiết học sinh động hơn.
Đa số học sinh nhận thức được môn hóa học rất quan trọng và có tính thực tế
cao, nhiều em có biểu hiện hứng thú học tập bộ môn, chuẩn bị bài không những rất
tốt mà còn rất sôi nổi trong tiết học, một số học sinh còn tỏ ra yêu thích môn học hơn,
vì vậy chất lượng môn học ngày càng được nâng cao.
2.Khó khăn:
Bề dày kinh nghiệm của giáo viên chưa nhiều, tổ chức thảo luận trao đổi với
các giáo viên trong chuyên môn còn ít, nội dung còn sơ sài, việc dự giờ thăm lớp còn
rất hạn chế nhất là các trường bạn dẫn đến việc nâng cao phương pháp giảng dạy còn
ở mức độ chưa cao.
Hơn nữa trong một bài dạy giáo viên phải thiết kế giáo án áp dụng cho các đối
tượng học sinh (Yếu, TB, Khá, Giỏi) nên thường hay bị động về thời gian .
Giáo Viên không thể chỉ chú trọng vào các em yếu kém trên lớp mà còn phải mở
rộng kiến thức nâng cao cho những học sinh khá giỏi trong lớp.
Nhà trường chưa có phòng thí nghiệm dẫn đến dù chuẩn bị bài mới kĩ càng
nhưng một số thí nghiệm hiệu qủa vẫn chưa cao.
Nhà trường chưa có phòng thư viện nên việc yêu cầu học sinh tham khảo
nghiên cứu thêm tài liệu…chưa thực hiện được.
Hơn nữa, nhà trường không có phòng học phụ đạo nên việc bố trí các tiết học
phụ đạo cho các em là rất khó khăn ,chỉ có thể tận dụng vào những buổi học sinh học
chính 4 tiết hoặc ngày chủ nhật hàng tuần hay mượn nhà dân để dạy.
Đa số các em ở rất xa trường ,phương tiện đi lại khó khăn, nhà làm vườn nên
thời gian học ở nhà rất hạn chế ( còn phải phụ giúp kinh tế gia đình ).
Mặt khác, học sinh do vẫn còn chịu ảnh hưởng của cách truyền thụ trước đây
cho nên một số học sinh ỷ lại, lười suy nghĩ, trong giờ học lơ là không tập chung,
không hoc bài và làm bài trước khi đến lớp….làm kiến thức bị thiếu hụt mất dần lâu

chơi…)
+ Cho HS làm kiểm tra trắc nghiệm cuối buổi phụ đạo để đánh giá ngay kiến
thức của học sinh vừa nắm bắt.
Tuỳ theo nội dung từng bài mà giáo viên đưa ra những nội dung thể hiện thành
tình huống i1nh nghi vấn cụ thể, nhưng phải cô đọng và có tính thu hút sự tìm hiểu
của học sinh .
2.Cấu trúc giải pháp
Thời gian giành cho hoạt động này thường là theo tiết dạy bám sát theo nội dung
bài trên lớp nên giáo viên cần chuẩn bị trước chu đáo ở nhà .
Hoạt động diễn ra trình tự như sau :
+ Giáo viên cùng học sinh thảo luận những kiến thức học sinh cần bổ xung lại.
+ Giáo viên hướng dẫn kĩ hơn những phần kiến thức khó ,phức tạp ,dễ nhầm lẫn…
+ Giải đáp ngay những nghi vấn của học sinh giúp học sinh xác định chính xác kiến
thức.
+ Hướng dẫn học sinh vận dụng vào các dạng bài tập .
+ Đánh giá khả năng tiếp thu bài của học sinh cuối giờ phụ đạo.
3 .Thực hiện giải pháp
Bằng những kinh nghiệm các năm qua tôi sử dụng giải pháp này áp dụng cho
một số lớp và một số lớp để đối chiếu ,so sánh ,tôi thấy rằng học sinh học tập rất tốt
bắt kịp kiến thức trên lớp ,hứng thú với môn học hơn : hăng hái giơ tay phát biểu xây
dựng bài ,giờ học sôi nổi hớn hẳn ,nhiều em có ý thức cao trong tư duy và vận dụng
kiến thức, yêu thích bộ môn ,kiểm tra đánh giá kết qủa đạt khá cao …đã giúp tôi
mạnh dạn đưa ra giải pháp này .
Sau đây là mẫu thiết kế các hoạt động trong một tiết dạy phụ đạo đưa ra để
người đọc cùng tham khảo:

* Sau khi học các bài :2,4,5 (SgK HH 8) qua nhận xét ,đánh giá sự tiếp thu bài
của học sinh ,Tôi thấy một số khái niệm trong bài học một số học sinh chưa phân biệt
và vận dụng được :tính chất vật lí với tính chất hóa học của chất ,chất tinh khiết với
hỗn hợp ,hình dung về nguyên tử với nguyên tố hóa học ,đặc biệt là cách ghi nhớ kí

I.Tính chất của
chất.
HĐ1:Tìm hiểu lại và phân biệt rõ tính chất vật lí và tính
chất hoá học của chất.
1.Tính chất vật lí:
Thể ,màu ,mùi
,vị ,tính tan hay
không tan ,nhiệt độ
nóng chảy ,nhiệt
độ sôi ,khối lượng
riêng ,tính dẫn
điện ,dẫn nhiệt…
2. Tính chất hoá
học :
Là khả năng chất
-Mỗi chất có những tính chất nào?
-Nêu các biểu hiện của tính chất vật lí và tính
chất hóa học.
Yêu cầu học sinh để sợi đồng,sợi nhôm ,bột
gạo và bột than lên bàn.
Giáo viên phát phiếu học tập theo mẫu sau và
yêu cầu học sinh nêu những biểu hiện của tính
chất vật lí các chất đó vào bảng.
Bảng 1:
chất th


u

i

m
Muố
i
than
GV quan sát tận tình giúp đỡ từng nhóm.
-Nêu tính chất vật lí có thể quan sát được của
đồng ,nhôm,bột và than?
-Vậy còn những hiện tượng sau đây:hãy nêu và
cho biết có phải là tính chất vật lí của chất
không?
Bảng 2:
Chất trước Tác động Chất tạo ra
Giấy trắng đốt
Dao sắt
màu xám
đen
Để lâu ngoài
trời
Đường
trắng
cháy
-Thế là tính chất gì ? vì sao?
Cho học sinh tìm thêm những hiện tượng hóa
học của chất xung quanh cuộc sống của chúng
ta.
học tập.
-trả lời theo
đánh dấu
trong bảng
trên nêu ra

-Theo các em từ sợi đồng ,nhôm ,muối bột ,bột
than sẽ tạo được bao nhiêu hỗn hợp ,hãy thực
hiện?
Giáo viên hướng dẫn cụ thể để học sinh có thể
tạo được ba hỗn hợp theo sự thay đổi thành
phần lượng chất của hỗn hợp.
-Vậy chất tinh khiết và hỗn hợp khác nhau ở
- Hoàn toàn
giống nhau.
-chất tinh
khiết vì chỉ có
một chất có
tính chất
không đổi.
-Thảo luận
theo nhóm và
thực hiện tạo
hỗn hợp:
nhiều hỗn hợp
muối và bột
than (nếu thay
đổi lượng
muối và than
trong hỗn
điểm nào? hợp)
-trả lời:số
lượng chất và
tính chất
III.Nguyên tử ,
Nguyên tố hóa

cùng nhỏ
.mẫu đồng
trong tranh
chỉ là phần vô
cùng nhỏ của
mẩu đồng.
IV. Kí hiệu hóa
học và nguyên tử
khối.
HĐ4: Tìm hiểu lại và ghi nhớ về kí hiệu hóa học và nguyên
tử khối.
1.KHHH: dùng để
biểu diễn ngắn gọn
nguyên tố hóa học.
2.Nguyên tử khối :
Là khối lượng của
nguyên tử được
tính bằng đơn vị
cácbon.
- Dùng KHHH để làm gì?
-Nguyên tử khối là gì?
Gv yêu cầu học sinh ghi KHHH , tên nguyên
tố và NTK trong bảng sau:
Bảng 3:
Tên NT KHHH NTK
Hiđro
Nitơ
Cacbon
Oâxi
Natri

chưa đạt.
Hướng dẫn cụ thể để học sinh làm được bài số
3 trang 20( HH8).
Làm BT 3.
Để nắm bắt được kiến thức phần thảo luận mà học sinh cần hoàn thành là:
Bảng 1:
chất thể màu mùi vị tan K
0
tan
Dẫn
điện
Dẫn
nhiệt
đồng rắn Đỏ
gạc
h
0 0 0 có có
Nhô
m
rắn trắn
g
0 0 0 có có
muối rắn trắn
g
0 mặ
n
có 0 0
than rắn đen khé
t
0 0 0 0
Hãy khoanh tròn câu trả lời đúng:
1. Hãy nêu biểu hiện được xem là tính chất của muối ăn:
a.sôi ở 100
0
C b.có D = 2.7 g/cm
3
. c. vị mặn d.mùi thơm
2. Khi cho ít đường vào cốc nước ta thu được :
a.một chất b. 5 chất c. một hỗn hợp d.hai hỗn hợp.
3. Nguyên tử là :
a.hạt vô cùng nhỏ không mang điện b.hạt vô cùng lớn không mang điện
c.hạt vô cùng nhỏ trung hoà điện d.hạt vô cùng lớn trung hoà điện.
4. Nguyên tố hóa học :
a.gồm tập hợp của nhiều loại nguyên tử có nhiều số Proton
b.gồm hàng tỉ nguyên tử đồng xếp lại với nhau.
c. gồm tập hợp các nguyên tử cùng loại có cùng số hạt Proton trong nhân.
d.gồm tất cả các ý trên.
5. Muốn chỉ 3 nguyên tử Hidro ta ghi:
a. H3 b. H
3
c.H
3
d.3H
6. Kí hiệu hóa học của nguyên tố Natri là:
a. N b. Nat c.Na d.Nt .
7. NTK là khối lượng nguyên tử tính bằng đơn vị:
a.kilomét b. lít c. đơn vị cacbon d.gam
5.Dặn dò: Học bài,làm bài tập trong SgK và SBT đã yêu cầu ở giờ chính khóa.

Làm công tác tư tưởng đối với học sinh để các em không nhàm chán môn học .
2.Kiểm tra bài :kiểm tra sự chuẩn bị của HS và nêu mục đích của buổi phụ đạo.
3.Bài mới:Sau những gì các em đã tiếp thu trên lớp thì trong giờ học này các em sẽ
tự đánh giá lại những kiến thức mà mình đã học ,qua đó xác định lần nữa thật chính
xác kiến thức để vận dụng và làm kiến thức cơ sở cho các bài học tiếp theo.

Nội dung GV HS
I.Phương trình hóa
học.
HĐ1:Tìm hiểu và xác định và hiểu rõ được các ngôn
ngữ : chất tham gia ,tạo thành, biểu diễn PTHH như
thế nào.
-PTHH dùng để biểu
diễn ngắn gọn PƯHH.
Các chất tham gia >
các chất tạo thành.
Treo bảng phụ một số phương
trình chữ của phản ứng
Bảng 1:
a.Khí hidro + khí ôxi - ->
nước
-
b. Canxi cacbonat - ->
Canxioxit + cacbonđioxit
-
c.kẽm + axít clohiđric - ->
kẽm clorua + khí hidro.
-
-Hãy cho biết tên các chất
tham gia ,các chất tạo thành ,

cho lên bảng theo
hướng dẫn.
-Vì nước không có
mặt trong phản ứng từ
ban đầu chỉ có hidro
và ôxi…
-học sinh làm bài tập
theo yêu cầu của giáo
viên.
II.Các bước lập
PTHH
HĐ2:Tìm hiểu các bước lập PTHH.
- viết sơ đồ phản ứng
- tìm hệ số thích
hợp…
- viết thành PTHH.
Vẫn dùng kết qủa bảng trên.
-Hãy đếm số nguyên tử của
mỗi nguyên tố trong các sơ đồ
phản ứng trên và cho nhận xét?
-Vậy ta phải làm như thế nào
để cho các nguyên tử mỗi
nguyên tố bằng nhau?
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm
hệ số thích hợp của sơ đồ phản
ứng a,c bằng thảo luận nhóm.
Lưu ý một số vấn đề học sinh
hay lầm lẫn : cách viết hệ số
,chỉ số của công thức hóa học
không được thay đổi trong

- H
2
O
2
H
2
O
- H
2
+

O
2
- ->

H
2
O
- 2H
2
+

O
2


2H
2
O
b.Canxi cacbonat - -> Canxioxit +

2

Các chất tham gia các chất tạo thành
4.Củng cố: Giáo viên cho học sinh làm trắc nghiệm 10 câu ( 5 phút ) đánh giá khả
năng của học sinh tiếp thu bài như thế nào:

Hãy khoanh tròn câu trả lời đúng:
I. Cho phương trình phản ứng sau:
4Al + 3O
2
 2 Al
2
O
3
1.Các chất tham gia là:
a. O
2 ,
b. Al
2
O
3
c. Al. O
2
. d. Al
2.Các chất tạo thành (sản phẩm) là:
a. O
2 ,
b. Al
2
O
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Qua giảng dạy thực nghiệm trong 3 lớp năm học 2006-2007 và 2 lớp năm học
2007-2008 tôi nhận thấy rằng kiến thức bị hổng của các em được bổ xung đáng kể .
Trong lớp các em rất sôi nổi ,hăng say phát biểu ,nhiều học sinh tỏ ra yêu thích
môn học này và luôn hoàn thành tốt những nội dung mà Giáo Viên đưa ra.
Việc điều khiển các hoạt động của Gíáo Viên trên lớp rất nhẹ nhàng nhưng lại rất
hiệu qủa,Giáo Viên có thoải mái thời gian liên hệ thực tế kiến thức bài học và nâng
cao kiến thức cho Học sinh khá giỏi.
Sau đây là kết qủa đánh giá HS : ( kiểm tra 1 tiết )
Lớp Sĩ số Điểm>5 Điểm<5 Đ 9,10
8C 41 30 3 8
8D 37 22 5 10
Phần III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Sự nhận thức sâu sắc và đúng đắn về nội dung kiến thức ,hình thức tổ chức và
phương pháp giảng dạy dưới sự hướng dẫn của Giáo Viên trong tiết học phụ đạo đã
trở thành một yếu tố quan trọng để hình thành ở học sinh thói quen học tập tốt .Các
em đã nhận thức đúng đắn ý nghĩa của việc học và đang có thái độ học tập rất tốt .
Tuy nhiên bên cạnh đó còn có một số rất ít Học Sinh (do yếu tố khách quan )
còn lơ là việc học đang cần được sự phối hợp giáo dục toàn diện của các Giáo Viên
bộ môn ,GVCN…
Qua đây tôi rất mong rằng có sự góp ý nhiệt tình và chân thành của người đọc
để tôi hoàn chỉnh giải pháp hơn.
II. Kiến nghị
Trong khi thực hiện giải pháp này tôi có gặp một số khó khăn cho Giáo Viên
cũng như cho Học Sinh .Vì vậy tôi có một số kiến nghị như sau :
- Cần phối hợp giữa GVBM ,GVCN, Nhà trường và hội cha mẹ học sinh để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status