ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM DƢƠNG THỊ HƢƠNG LY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƢỜNG NƢỚC
VÀ KHÔNG KHÍ KHU CÔNG NGHIỆP GANG THÉP
THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành : Khoa học Môi trƣờng
Mã số : 60 85 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng
Thái Nguyên, năm 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và gia đình.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu trong quá
trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Tài Nguyên và Môi trường,
Khoa Sau đại học - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã có sự giúp đỡ tận
tình trong quá trình tôi học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn Chi cục bảo vệ Môi trường tỉnh Thái Nguyên, Công ty cổ
phần Gang Thép Thái Nguyên, UBND phường Cam Giá, phường nơi chúng tôi
thực hiện đề tài đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi được học tập và thực hiện đề
tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã
luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả
Dương Thị Hương Ly iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích yêu cầu 2
3.2. Sơ lược về các nhà máy thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên 28
3.2.1. Nhà máy luyện thép Lưu Xá 28
3.2.2. Khái quát về quy mô, đặc điểm, hoạt động của nhà máy Cốc Hóa 30
3.2.3. Khái quát về quy mô, đặc điểm, các hoạt động chính của nhà máy luyện Gang
34
3.3. Công nghệ và thiết bị bảo vệ môi trường của các nhà máy 36
3.3.1. Các biện pháp xử lý chất thải của nhà máy luyện thép Lưu Xá 37
3.3.2. Các biện pháp xử lý chất thải của nhà máy Cốc Hóa 41
3.3.2. Đối với khí thải, bụi, tiếng ồn, độ rung 42
3.3.3. Các trang thiết bị và các phương pháp bảo vệ môi trường của nhà máy
luyện Gang 45
3.4. Chất lượng môi trường không khí và môi trường nước tại các nhà máy 50
3.4.1. Chất lượng môi trường không khí 50
3.4.2. Hiện trạng môi trường nước 55
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
1. Kết luận 71
2. Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD
: Nhu cầu oxy sinh học
CTNH
: Chất thải nguy hại
ĐCTV - ĐCCT
: Địa chất thủy văn – Địa chất công trình
NĐ-CP
: Nghị Định-Chính phủ
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Nhu cầu nguyên liệu hóa chất sử dụng của nhà máy luyện
thép Lưu xá 29
Bảng 3.2: Các máy móc và thiết bị chủ yếu của nhà máy Cốc Hóa 31
Bảng 3.3: Nguyên, nhiên liệu sử dụng cho luyện cốc và cán thép của
nhà máy Cốc Hóa 32
Bảng 3.4. Chỉ tiêu chất lượng than mỡ của nhà máy Cốc Hóa 32
Bảng 3.5: Kết quả phân tích khí độc hại, bụi, ồn trong khu vực sản xuất
của nhà máy Cán thép Lưu Xá 51
Bảng 3.6: Kết quả phân tích môi trường không khí trong khu vực sản
xuất của nhà máy Cốc Hóa 52
Bảng 3.7: Một số nguồn thải chính từ nhà máy luyện Gang 53
Bảng 3.8: Kết quả phân tích hai mẫu khí thải ống khói nhà máy Luyện
Gang 54
Bảng 3.9: Tải lượng và nồng độ các chất ô nhiễm chính trong nước thải
sinh hoạt của nhà máy luyện Thép Lưu Xá 56
Bảng 3.10: Kết quả phân tích các mẫu nước thải sản xuất của Nhà máy
luyện thép Lưu Xá 58
Bảng 3.11: Kết quả phân tích các mẫu nước thải sản xuất của Nhà
máy luyện thép Lưu Xá 59
Bảng 3.12: Kết quả phân tích nước thải sản xuất của nhà máy Cốc Hoá 63
Bảng 3.13: Kết quả đo, phân tích nước thải sinh hoạt nhà máy Cốc Hoá 64
Bảng 3.14: Tải lượng và nồng độ các chất ô nhiễm chính trong nước
thải sinh hoạt của nhà máy Cốc Hóa 66
Bảng 3.15: Kết quả đo, phân tích nước thải sản xuất nhà máy Luyện
Gang 67
Bảng 3.16: Kết quả đo, phân tích nước thải sinh hoạt nhà máy
Luyện Gang 68
được sự phát triển bền vững mà hội nghi Rio – 92 đã đưa ra thì việc phát triển kinh
tế xã hội phải gắn liền với bảo vệ môi trường. Đối với Việt Nam chúng ta môi
trường được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây, chúng ta đang tiến hành
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất để hòa nhập với thế giới, bên cạnh những thành
tựu đã đạt được về mặt kinh tế thì những vấn đề môi trường do hoạt động công
nghiệp hóa mang lại cũng rất đáng kể. Các loại chất thải do hoạt động công nghiệp
có tác động xấu đến môi trường : đất, nước, không khí. Do đó việc giám sát đánh
giá chất lượng môi trường tại các khu công nghiệp nói chung và các công ty sản
xuất kinh doanh nói riêng, phải được quan tâm và tiến hành đồng thời với hoạt động
sản xuất kinh doanh nói riêng, phải được quan tâm và tiến hành đồng thời với các
hoạt động sản xuất để phát hiện và khắc phục những ảnh hưởng xấu đến môi trường
do sự cố môi trường hoặc đổ thải bừa bãi ra môi trường. Trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế đồng hành với xây dựng đất nước và phát triển kinh tế xã hội chung
ta đang đứng trước thách thức về môi trường. Theo kinh nghiệm của nhiều nước, sự
tăng trưởng kinh tế thường mạnh mẽ dẫn đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên gây ra
những hậu quả nguy hại đến môi trường. Trong số những nguồn thải có nguy cơ
gây ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí phải kể đến nghành công nghiệp sản
xuất thép. Nước ta có ngành luyện kim đen trong đó có các đơn vị thuộc tổng công
ty thép Việt Nam và các cơ sở sản xuất kinh doanh khác của nhà nước đang hoạt
động, hàng ngày thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải ở dạng rắn, lỏng,
khí ảnh hưởng đến môi trường. Bên cạnh đó nguyên liệu để sản xuất chủ yếu là phế
liệu, sắt thép vụn trong quá trình sản xuất thép đã tạo ra một lượng lớn các chất gây
ô nhiễm môi trường có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người mà trực tiếp là
các công nhân làm việc trong nhà máy. Do đó cần có biện pháp quản lý môi trường
2
từ các cơ quan, đơn vị chức năng cùng với ý thức doanh nghiệp nhằm hạn chế
những tác động tiêu cực đến môi trường.
Hòa cùng với xu thế phát triển chung của đất nước, Thái Nguyên là một tỉnh
có nganh công nghiệp phát trển mạnh mẽ với rất nhiều khu công nghiệp. Thái
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận
Thực tế cho thấy tất cả các dự án theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường
trước khi được tiến hành xây dựng cơ bản phải thông qua quá trình đánh giá tác
động môi trường . Bên cạnh đó đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh đã đi vào hoạt
động, ngoài báo cáo đánh giá tác động môi trường mà chủ công ty xây dựng trước
đây thì việc đánh giá hiện trạng môi trường định kỳ cần thiết phải được tiến hành
theo đúng cam kết bảo vệ môi trường mà chủ công ty đã lập. Thông qua việc đánh
giá tác động môi trường của dự án và cơ quan quản lý thấy được những tác động có
thể có với môi trường khi dự án đi vào hoạt động và thấy được việc sản xuất kinh
doanh đã và đang ảnh hưởng như thế nào đến môi trường. Từ đó các biện pháp
phòng ngừa hạn chế và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Đối
với công ty Luyện thép Lưu Xá - Công ty cổ phần Gang thép cũng vậy, từ khi xây
dựng cơ bản đến khi đi vào hoạt động sản xuất phải trải qua những giai đoạn đánh
giá hiện trạng môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và đánh giá hiện trạng môi
trường định kỳ khi công ty đã đi vào hoạt động. Hiện nay khi Công ty đã đi vào
hoạt động một khoảng thời gian dài thì việc đánh giá hiện trạng môi trường là rất
cần thiết và cần phải có. Thông qua đó có thể đánh giá mức ảnh hưởng trong quá
trình công ty hoạt động đã và đang tích cực đến môi trường tự nhiên, xã hội , từ đó
giúp cơ quan quản lý cung như chủ công ty có những biện pháp đúng đắn hơn trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường tại khu vực.
Để việc đánh giá chất lượng môi trường được chính xác và cụ thể, Nhà máy
thực hiện chương trình giám sát môi trường [2 ] (Báo cáo quan trắc giám sát định
kỳ đợt III năm 2011)
Mục tiêu của việc giám sát hiện trạng môi trường nhà máy là thu thập một
cách liên tục các thông tin về sự biến đổi chất lượng môi trường, để kịp thời phát
- Giám sát môi trường làm việc
Cơ sở quan trắc chất lượng môi trường
Chương trình giám sát chất lượng môi trường đề ra trong đề án này được lập
trên cơ sở của chương trình giám sát môi trường của Báo cáo đánh giá tác động môi
trường khu công nghiệp Lưu Xá Gang thép được lập năm 1999 đã được Bộ
5
KHCNMT phê duyệt theo quyết định số 2200/QĐ-BKHCNMT ngày 21/12/1999
(theo báo cáo này Nhà máy chưa có chương trình quan trắc cụ thể) và kết quả kiểm
soát ô nhiễm môi trường năm 2009 của Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên.
Chương trình quan trắc môi trường của Nhà máy Luyện thép sẽ là cơ sở cho việc
giám sát chất lượng môi trường do hoạt động sản xuất của Nhà máy.
Đồng thời căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật về bảo vệ môi
trường và các điều kiện kỹ thuật:
- Luật bảo vệ môi trường và các văn bản có liên quan của Việt Nam.
- Các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường, quy định của Bộ y tế về môi trường
lao động (2002).
- Dự báo ô nhiễm môi trường.
- Hiện trạng chất lượng môi trường khu vực.
Chương trình giám sát chất lượng môi trường
Kiểm soát ô nhiễm sẽ được nhà máy thực hiện kết hợp với cơ quan chuyên
môn có chức năng về quản lý môi trường ở địa phương.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay tất cả các dự án hoặc các cơ sở sản xuất kinh doanh đã và đang đi
vào hoạt động đã có báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc phải có cam kết
bảo vệ môi trường. Tuy nhiên do lợi ích kinh tế việc thực hiện theo đúng đánh giá
tác động môi trường và cam kết bẻo vệ môi trường chưa được đầy đủ, do đó việc vi
phạm trong lĩnh vực môi trường là rất dễ xảy ra đặc biệt là đối với các Khu công
nghiệp, Cụm công nghiêp. Đứng trước thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu
công nghiệp, cụm công nghiệp, cần phải thường phải được thường xuyên kiểm tra
trường sản xuất.
1.2. Khái quát lịch sử ngành phôi thép Việt Nam
1.2.1. Quá trình phát triển của ngành phôi thép Việt Nam
Ngành phôi thép Việt Nam được xây dựng từ đầu những năm 60 của thế kỷ
20. Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên (Trung Quốc) giúp cho ra lò mẻ gang đầu
tiên vào năm 1963. Song do chiến tranh và khó khăn nhiều mặt, 15 năm sau Khu
liên hiệp Gang thép Thái Nguyên mới có sản phẩm thép cán. Năm 1975 nhà máy
luyện cán thép Gia Sàng do Đức giúp dã đi vào sản phẩm Công xuất thiết kế cả sau
Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên lên đến 10 vạn tấn/năm.
Năm 1976, công ty luyện kim đen miền Nam được thành lập trên cơ sở tiếp
quản các nhà máy luyện, cán thép mini của chế độ cũ để lại ở thành phố Hồ Chí
7
Minh và Biên Hoà, với tổng công xuất khoảng 80.000 tấn thép cán/năm. Từ 1976
đến 1989, ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất nước lâm vào khủng
hoảng. Mặt khác, nguồn thép nhập khẩu từ Liên Xô (trước đây) và các nước xã hội
chủ nghĩa vẫn còn dồi dào, vì vậy ngành thép không phát triển được và duy trì mức
sản lượng 40.000 - 85.000 tấn/năm.
Từ năm 1989 đến năm 1995, thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng
và Nhà nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, sản lượng thép trong nước đã vượt
ngưỡng 100.000 tấn/năm. Năm 1999 Tổng công ty thép Việt Nam (thuộc Bộ công
nghiệp nặng - nay là Bộ công nghiệp) được thành lập, thống nhất quản lý ngành sản
xuất thép quốc doanh trong cả nước. Đây là thời phát triển sổi động, nhiều dự án
đầu tư chiều sâu vào liên doanh với nước ngoài được thực hiện… Các ngành cơ khí,
xây dựng, quốc phòng và các thành phần kinh tế khác đua nhau làm thép mini. Sản
lượng thép cán năm 1995 đã tăng lên gấp 4 lần so với năm 1990, đạt 450.000
tấn/năm và bằng mức Liên Xô cung cấp cho nước ta trước năm 1990.
Tháng 4 năm 1995 Tổng công ty Việt Nam được thành lập theo mô hình công
ty nhà nước trên cơ sở hợp nhất Tổng công ty thép Việt Nam và Tổng công ty kim
khí thuộc Bộ thương mại. Thời kỳ 1996 - 2000, ngành thép vẫn giữ được tốc độ
doanh nhìn chung thua kém nhập khẩu. Sản phẩm của cơ sở sản xuất nhỏ < 20.000
tấn/năm, đặc biệt là cơ sở khâu luyện cán thép thủ công chất lượng kém không đạt
yêu cầu.
* Cơ cấu sản phẩm của ngành thép hiện nay.
Hiện nay ngành thép Việt Nam mới chỉ sản xuất các loại thép tròn trơn, tròn
vằn, thép cỡ nhỏ phục vụ cho xây dựng và gia công, sản xuất ống hàn, cắt xẻ… từ
sản phẩm dẹp nhập khẩu. Các sản phẩm dài sản xuất trong nước cũng phần lớn
được cán từ phôi thép nhập khẩu, khả năng tự sản xuất phôi thép trong nước còn
nhỏ bé, chỉ đáp ứng được khoảng 28%, còn lại 72% nhu cầu phôi thép cho các nhà
máy cán các sản phẩm dẹt (tấm, cán nóng, cán nguội). Chưa có cơ sở tập trung
chuyên sản xuất thép đặc biệt phục vụ chế tạo cơ khí. Nhìn chung trong những năm
qua, do hạn chế vốn đầu tư và do thị trường tiêu thụ thép trong nước còn nhỏ bé,
ngành thép Việt Nam mới chỉ tập trung đầu tư vào sản phẩm thép dài để đáp ứng
nhu cầu trong nước, đây là các sản phẩm có lợi về mặt thị trường, vốn đầu tư ít, thời
gian xây dựng nhà máy ngắn, hiệu quả đầu tư tương đối cao… Đối với các sản
phẩm thép dẹt do nhu cầu thị trường còn thấp. Trong khi để đảm bảo hiệu quả thì
yêu cầu công xuất nhà máy phải đủ lớn, cần vốn đầu tư lớn, hiệu quả thì yêu cầu
9
công xuất nhà máy phải đủ lớn, cần vốn đầu tư lớn, hiệu quả đầu chưa cao…. Do đó
cơ cấu sản xuất của ngành thép hiện nay thiếu đồng bộ, mất cân đối giữa sản xuất
phôi với cán thép, giữa cơ cấu mặt hàng và cơ cấu chất lượng sản phẩm.
1.2.3. Mục tiêu phát triển và những thách thức về môi trường của ngành thép
Việt Nam
* Những mục tiêu chính trong những năm tới của ngành thép Việt Nam.
Sản xuất thép không thuộc loại ngành công nghiệp sinh lời cao, lại đòi hỏi vốn
đầu tư lớn, lâu thu hồi vốn nên kém hấp dẫn đối với các ngành đầu tư (cả trong
nước và ngoài nước). Song một đất nước đã quyết tâm trở thành nước Công nghiệp
thì không thể không phát triển nghề gang thép. Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải có sự
quan tâm đặc biệt đối với ngành công nghiệp gang thép.
học, các điều kiện vật chất - tự nhiên với tư cách là sản phẩm lâu dài của tạo hoá, có
trước con người, có trước con người, có tương tác lẫn nhau và cùng tác đến sự hình
thành, sinh tồn và phát triển của con người, cùng các hoạt động xã hội của họ. Về
cơ cơ cấu, môi trường bao gồm sinh quyển (không khí, nước, đất đai, ánh sáng…)
và hệ sinh sống, mà giữa chúng có ảnh hưởng tương tác đến nhau và cùng ảnh
hưởng đến cuộc sống của con người"…. (Đề cương chi tiết Báo cáo tình hình
phát triển ngành Tài nguyên & Môi trường và xây dựng chiến lược phát triển
ngành Tài nguyên & Môi trường năm 2011 - 2020.) [14]
Vậy nhưng, theo nghiên cứu của UNEP (Chương trình môi trường Thế giới)
thì môi trường toàn cầu đang có chiều hướng ngày càng xấu đi và có ảnh hưởng
nhất định đến sự tồn vong của con người và con người đang đứng trước những
thách thức lớn về môi trường toàn cầu. [15]
- Thách thức thứ nhất ô nhiễm đất:
Trên toàn thế giới đang có xu hướng tăng hiện tượng đất đai bị ô nhiễm bởi:
Một là, do con người quá lạm dụng hoặc do tác động phụ của việc sử dụng phân
hoá học, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ và các chất kích thích sinh trưởng khác. Mỗi
năm, trên thế giới có hàng nghìn hoá chất mới được đưa vào sử dụng trong khi con
người vấn chưa hiểu biết hết tác dụng phụ của chúng đối với hệ sinh vật. Hai là,
không xử lý đúng kỹ thuật các chất thải công nghiệp và sinh hoạt khác của người và
súc vật, hoặc các xác sinh vật chết gây ra… ô nhiễm đất làm giảm năng suất và chất
lượng cây trồng, huỷ diệt sự sống một số sinh vật trong những khu vực ô nhiễm
nặng, đồng thời còn đe doạ đến sức khoẻ con người thông qua vật nuôi, cây trồng,
thậm chí gây ra những biến dạng cho hệ sinh thái và di truyền cho thế hệ sau.
- Thách thức thứ hai, đó là vấn đề ô nhiễm nguồn nước.
Sự ô nhiễm các nguồn nước đang có nguy co gia tăng do thiếu biện phát xử lý
cần thiết các loại rác thải sinh hoạt và công nghiệp, do các hoá chất dùng trong nông
11
nghiệp và các nguồn nhiễm xạ, nhiễm bẩn từ các nguyên vật liệu khác dùng trong
sản xuất, ô nhiễm do các loại thực vật nổi trên mặt nước sinh sôi mạnh làm động vật
vòng 20 năm tới sẽ tăng gắp 15 lần so với hiện nay). Sự ô nhiễm không khí có thể trực
tiếp giết chết hoặc hiểu hoại sự khoẻ các sinh vật sống, gay ra "Hiệu ứng nhà kính"và
các chậm mưa a xít không biên giới làm biến dạng và suy thoái môi trường, huỷ diệt hệ
sinh thái.
12
- Thách thức thư tư là tài nguyên biển đang bị khai thác bừa bãi, rừng bị thu
hẹp dần cùng với sự gia tăng đất bị sa mạc hoá:
Biển càng ngày càng trở thành cai thùng rác lớn nhất của quả đất nên ngày càng
bị ô nhiễm nặng. Thêm vào đó là sự khái thác bừa bãi, mù quáng quá mức cho phép
của con người. Hiện nay, trước sức ép của các vẫn đề kinh tế - xã hội, các nước đã và
đang đồng loạt tiến tiến quân ra Đại dương nên sự cạn kiệt tài nguyên biển và vẫn đề ô
nhiễm đang ngày càng trở nên trầm trọng.
+ Cùng với biển, rừng đang ngày càng bị thu hẹp dần. Tốc độ phá rừng ở nhiều
quốc gia trên thế giới đang ở mức độ chóng mặt. Rừng bị thu hẹp kéo theo những tai
hoạ khổng lồ mang tính chất toàn cầu như là biến dạng hệ sinh thái, tăng nguy cơ khan
hiếm nước, thay đổi khí hậu và tăng các tai hoạ thiên nhiên.
+ Tình trạng sa mạc hoá kéo theo chiều hẹ luỵ khó lương, ngoài ra, vấn đề ô
nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm phóng xạ, bức xạ, sự mất ổn định về khí hậu…. đề gây hại
trực tiếp và lâu dài đến sức khoẻ và di truyền của sinh vật, thực vật sống, trong đó có
con người, hậu quả sẽ thật khủng khiếp và khó lường, những tổn thất về con người và
vật chất do môi trường suy thoái gây ra đã và đang vượt quá tổn thất về người và của
do các biến động xã hội và từ chiến tranh.
Dự báo, Những năm đầu thế kỷ này, số nạn nhân của môi trường sẽ lên đến ít
nhất 50 triệu người. con người đang dứng trước sự cảnh báo mới, trừ chiến tranh hạt
nhân, thì sự biến đổi của khí hậu sẽ là mỗi đe dạo lớn nhất với sự tổn vong của loài
người và tương lai của đất. Đó là những lời cảnh báo để con người mau chóng có
những hành động tích cực với môi trường, vì môi trường và vì sự sống của chính mình.
Như vậy thế giới đứng trước một thách thức to lớn về vấn đề môi trường điều này
khiến cho mỗi cá nhân phải suy nghĩ cho những hành động của mình khi tiếp cận với
2005,2006…ngoài ra mỗi địa phương hàng năm phải gửi báo cáo hiện trạng môi
trường của tỉnh lên Bộ tài nguyên và Môi trường, đây là những kết quả to lớn mà
chúng ta đã đạt được trong việc bảo vệ môi trường ở cấp vĩ mô và cả cấp vi mô.
(Đặng Hồng Phương, 2006), [4]
* Tổng hợp báo cáo hiện trạng môi trường của một số tỉnh.
Nước ta thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá với tốc độ mạnh mẽ để thúc
đẩy nền kinh tế đất nước. Theo kinh nghiệm của nhiều nước, tình hình ô nhiễm
cũng gia tăng nhanh chóng. Nếu tốc độ tăng trưởng GDP trong vòng 10 năm tới
tăng bình quân khoảng 8,5% năm, trong đó GDP công nghiệp khoảng 8-9%/năm,
mức độ đô thị hoá từ 23% năm lên 33% năm 2000, thì đến năm 2010 lượng ô nhiễm
14
do công nghiệp có thể tăng gấp 2,4 lần so với bây giờ. Trong quá trình phát triển,
nhất là thập kỷ vừa qua, các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã gặp
phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng, do các hoạt động sản xuất
công nghiệp, nông nghiệp, giao thông… Tại Thành Phố Hồ Chí Minh có 25 khu
Công nghiệp tập trung hoạt động với tổng số 611 nhà máy trên diện tích 2298 ha
đất. Theo kết quả tính toán hoạt động của các Khu công nghiệp này cùng với 195 cơ
sở trọng điểm bên ngoài khu công nghiệp, thì mỗi ngày thải vào hệ thống sông Sài
Gòn - Đồng Nai tổng cộng: 1.7400.000m
3
nước thải công nghiệp, trong đó có
khoảng 671 tấn cặn lơ lửng; 1,130 tấn BOD
5
, 1789 tấn COD, 104 tấn Nitơ, 15 tấn
phốt pho và kim loại nặng. Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước
của các con sông vốn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho địa bàn dân cư rộng
lớn, làm ảnh hưởng đến các vi sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá
trình phân giải và làm sạch các dòng sông. Về ô nhiễm không khí và tiếng ồn tại các
khu công nghiệp cũng rất nghiêm trọng ngoài ra còn do các phương tiện giao thông
trách nhiệm tự giác thực hiện quy định về bảo vệ môi trường, đẩy mạnh nghiên cứu
khoa học và công nghệ trong bảo vệ môi trường đẩy mạnh hợp tác quốc tế về bảo
vệ môi trường…bên cạnh đó các khu, cum công nghiệp phải đảm bảo yêu cầu ngay
từ khâu xây dựng cơ sở hạ tầng và phê duyệt các quy hoạch dự án đầu tư, chủ đầu
tư phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, đầu tư xây dựng kết cấu kết cấu
hạ tầng về môi trường… Như vậy với những giải pháp kể trên đã mang lại hiệu quả
khả quan. Theo đánh giá từ ngành chức năng, nhìn chung công tác bảo vệ môi
trưởng trong các khu công nghiệp tập trung hiện nay được thực hiện khá tốt. Tất cả
các khu công nghiệp đi vào hoạt động đều có xây dựng cơ sở hạ tầng, có đánh giá
tác động môi trường cho toàn khu và có các khu xử lý chất thải tập trung, bên cạnh
đó các doanh nghiệp đều có đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi
trường và từng bước thực hiện giảm thiểu ô nhiễm môi trường theo cam kết, chú
trọng áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến, hệ thống quản lý môi trường iso 14000. Cũng
với tình hình như trên tại địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 9 khu vực công nghiệp và
có 103/172 doanh nghiệp đang hoạt động trong đó có các doanh nghiệp như: sắt thép,
phân bón, hoá chất, cơ khí, đóng sửa tàu. mang lại lợi ích rất lớn về kinh tế cho tỉnh tuy
nhiên bên cạnh những lợi ích đạt được đó, trong những năm qua môi trường ở những
khu vực này bị tàn phá nặng nề. Theo khảo sát của cơ quan chức năng hiện trạng môi
trường nước môi trường không khí , đặc biệt là môi trường nước mặt tại sông Thị Vải
và môi trường nước trên biển vùng ven bò đã bị ô nhiễm trầm trọng. Tại hầu hết các
khu công nghiệp tình trạng khói, bụi và nguồn nước thải chưa qua xử lý được thải trực
tiếp ra môi trường. Trong tháng vừa qua, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra công tác
16
bảo vệ môi trường tại 11 Doanh nghiệp, trong các khu công nghiệp của tỉnh thì đã có
đến 10 doanh nghiệp bị xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường với các lối chủ yếu là
chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí thải, chưa quản lý chất thải theo quy định ,
không thực hiện báo các giám sát môi trường… Không những vậy ngày 2 - 4 công lực
lượng Cảnh sát Môi trường công an tỉnh phát hiện tại nhà máy xử lý chất thải công
nghiệp của Công ty TNHH Sông Xanh (xử lý chất thải công nghiệp nguy hại) đã chôn
qua kết quả đánh giá của Sở tài nguyên môi trường của Thành phố cho thấy môi
trường không khí tại các khu công nghiệp bắt đầu bị ô nhiễm cục bộ đặc biệt là ô
nhiễm khí thải của các nhà máy thép tại khu công nghiệp Khánh Hoà, theo kết quả do
đạc được tại 09 lò nung phôi thép trong Khu công nghiệp Khánh Hoà cho thấy, nồng
độ các chấp ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn nhiều lần so với tiêu chuẩn quy định của Bộ y
tế về nồng độ giới hạn cho phép các chất đọc hại trong không khí ở cơ sở sản xuất.
Trong đó khí CO vượt 67 - 100 lần, NO
x
vượt 2 -6 lần. đặc biệt là hơi chì vượt 40 -
65.500 lần. Kết quả phân tích các thông số bụi kim loại khác cũng rất cao: Kẽm
7,91mg/m3, đồng 0,03mg/m
3
, sát 0,05 mg/m
3
… Khí thải của hầu hết các lò luyện thép
đều không được xử lý nà thải trực tiếp vào môi trường. Bên cạnh đó các giải pháp để
thực hiện xử lý ô nhiễm tại các cơ sở này rất tốn kém cà hiệu quả thấp. Ngoài ra, các lò
này đều có công xuất nhỏ, từ 750kg - 1,5 tấn thép/mẻ, bố trí xa nhau nên rất khó thu
gom tập trung khi thải. Theo đánh giá thì tình trạng ô nghiễm môi trường của các lò
luyện thép trong Khu công nghiệp xung quanh. Với số lượng cơ sở sản xuất công
nghiệp hiện nay trên cả nước có trên 800.000 và hàng trăm khu công nghiệp thì vấn đề
ô nhiễm môi là không thể tránh khỏi, cho dù có áp dụng các biện pháp giảm thiểu và
biện pháp công nghệ. [9]
Đối với tỉnh Bắc Giang hiện nay số lượng các doanh nghiệp đầu tư vào tỉnh tăng
nhanh, giá trị sản xuất công nghiệp năm sau cao hơn năm trước là kết quả nổi bật trong
lĩnh vực thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp của Bắc Giang thời gia qua. Tuy nhiên,
trong hoạt động không ít doanh nghiệp còn chưa quan tâm đúng mức việc bảo vệ môi
trường, gây ô nhiễm nguồn nước, không khí…
Cụm công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng (Yên Dũng) hiện có gần 20 dự án đầu
tư. Mặc dù số doanh nghiệp đi vào sản xuất chưa nhiều (8 doanh nghiệp) nhưng đã gây