i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN HỮU HÙNG Tªn ®Ò tµi:
ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ TỚI HIỆU QUẢ
GÂY RỤNG TRỨNG NHIỀU VÀ GÂY ĐỘNG DỤC ĐỒNG PHA
ĐỂ NHÂN GIỐNG BÒ SỮA HOLSTEIN FRIESIAN Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60-62-01-05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Toàn Thắng
Giám Hiệu, Phòng quản lý đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi -
Thú y Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nơi tôi đƣợc đào tạo để trƣởng
thành cũng nhƣ tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho tôi hoàn thành nhiệm vụ của
mình. Tôi xin cảm ơn các đơn vị sau đây đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
- Ban lãnh đạo Viện Chăn nuôi, cơ quan chủ trì đề tài,… đã tạo điều kiện
cho cơ quan tôi và bản thân tôi tham gia đề tài nhánh.
- Phòng thí nghiệm trọng điểm - Viện Chăn nuôi, đơn vị thực hiện đề tài đã
giúp đỡ tôi từ những ngày đầu để xây dựng đề cƣơng và cùng tôi thực hiện
các nội dung đề tài, đặc biệt là đội ngũ kỹ thuật viên không quản ngại do cách trở
về giao thông, nhƣng vẫn mang đủ máy móc và trang thiết bị phục vụ đề tài.
- Trung tâm phát triển bò Yên Sơn nơi tôi công tác, đã tạo điều kiện địa bàn
thực hiện thí nghiệm.
Để hoàn thành bản luận văn này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới PGS.TS. Hoàng Toàn Thắng là ngƣời thầy hƣớng dẫn về khoa học, đã
giúp đỡ tôi tận tình và có trách nhiệm trong quá trình nghiên cứu cũng nhƣ
hoàn thiện bản luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn bè, đồng nghiệp: Th.S
Tăng xuân Lƣu, Th.S Quản Xuân Hữu, KS Trần Sơn Hà trong quá trình xây
dựng và thực hiện bản luận văn này.
Nhân dịp này cho phép tôi đƣợc bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình
đã tận tình giúp đỡ, động viên khích lệ để tôi vƣợt qua mọi khó khăn hoàn
thành luận văn.
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2012
Tác giả luận văn
Trần Hữu Hùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
1.1.4.2. Thu hoạch phôi và phân loại phôi 26
1.1.4.3. Gây động dục đồng pha 28
1.1.4.4. Cấy phôi cho bò nhận phôi 33
1.2. Các chế phẩm hormone hƣớng sinh dục sử dụng trong công nghệ CTP
và tác dụng sinh lý 34
1.2.1. Chế phẩm có hoạt tính GnRH (Gonadotropin Releasing hormone) 34
1.2.2. Các chế phẩm có hoạt tính gonadotropin 35
1.2.2.1. Huyết thanh ngựa chửa (H.T.N.C) 35
1.2.2.2. HCG kích tố nhau thai người (Human Chorionic Gonadotropin) . 35
1.2.3. Các chế phẩm có hoạt tính oestrogen 36
1.2.4. Các chế phẩm có hoạt tính progesterone 36
1.2.5. Các chế phẩm có hoạt tính prosgtaglandineF
2α
37
1.3. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc 37
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 37
1.3.1.1. Kết quả nghiên cứu gây rụng trứng nhiều 38
1.3.1.2. Kết quả nghiên cứu phân loại phôi 41
1.3.1.3. Kết quả nghiên cứu gây động dục đồng pha và cấy phôi 42
1.3.2. Nghiên cứu trong nước 44
1.3.2.1. Kết quả nghiên cứu gây rụng trứng nhiều 44
1.3.2.2. Kết quả nghiên cứu phân loại phôi và bảo quản phôi 46
1.3.2.3. Kết quả nghiên cứu gây động dục đồng pha và cấy phôi 47
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG - NỘI DUNG - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 51
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 51
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
3.1. Kết quả gây rụng trứng nhiều cho bò sữa cao sản (thí nghiệm 1) 63
3.1.1. Thời gian xuất hiện động dục và tỷ lệ bò có biểu hiện động dục 64
3.1.2. Số lượng nang trứng được huy động ở bò gây rụng trứng nhiều 66
3.1.3. Số lượng nang trứng rụng ở bò gây rụng trứng nhiều 69
3.1.4. Kết quả thu phôi và tỷ lệ thu hồi phôi 71
3.1.5. Phân loại phôi 73
3.2. Kết quả gây động dục đồng pha cho bò nhận phôi (thí nghiệm 2) 75
3.2.1. Tỷ lệ và thời gian bò xuất hiện động dục 76
3.2.2. Kết quả rụng trứng của bò được gây động dục đồng pha bằng các
phương pháp khác nhau 79
3.2.3. Kết quả cấy truyền phôi cho bò nhận phôi 82
KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 85
1. Kết luận 85
1.1. Kết quả gây rụng trứng nhiều 85
1.2. Kết quả gây động dục đồng pha 86
2. Đề nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
I. Tài liệu trong nƣớc 88
II. Tài liệu nƣớc ngoài 92
PHỤ LỤC: MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO ĐỀ TÀI
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Tên viết tắt
Tên đầy đủ
1
CAP
: Follicle Stimulating Hormone
12
GĐDĐP
: Gây động dục đồng pha
13
GnRH
: Gonadotrophin Releasing Hormone
14
GRTN
: Gây rụng trứng nhiều
15
HCG
: Human Chorionic Gonadotropin
16
HF
: Holstein Friesian
17
HTNC
: Huyết thanh ngựa chửa
18
LH
: Luteinizing Hormone
19
LRH
: Lutein Realeasing Hormone
20
PGF
2α
: Prostaglandine - F2 anpha
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sơ đồ nghiên cứu gây rụng trứng nhiều ở bò cho phôi 54
Bảng 2.2: Sơ đồ nghiên cứu gây động dục đồng pha ở bò nhận phôi 58
Bảng 3.1: Thời gian xuất hiện động dục của bò gây rụng trứng nhiều ở 2
phƣơng pháp 64
Bảng 3.2: Thời gian xuất hiện động dục của bò gây rụng trứng nhiều ở 2
phƣơng pháp với yếu tố mùa vụ 66
Bảng 3.3: Kết quả của 2 phƣơng pháp sử dụng hormone tới số lƣợng nang
trứng đƣợc huy động ở bò gây rụng trứng nhiều 67
Bảng 3.4: Số nang trứng đƣợc huy động phát triển ở bò sữa đƣợc gây rụng
trứng nhiều theo mùa vụ 68
Bảng 3.5: Số lƣợng nang trứng rụng và tỷ lệ rụng trứng ở bò gây rụng
trứng nhiều 69
Bảng 3.6: Kết quả gây rụng trứng nhiều theo mùa vụ 70
Bảng 3.7: Số phôi thu đƣợc và tỷ lệ thu hồi phôi ở bò đƣợc gây rụng trứng
nhiều 71
Bảng 3.8: Số phôi thu đƣợc và tỷ lệ thu hồi phôi ở bò đƣợc gây rụng trứng
nhiều theo mùa vụ 72
Bảng 3.9: Chất lƣợng phôi thu đƣợc ở bò gây rụng trứng nhiều 73
Bảng 3.10: Chất lƣợng phôi thu đƣợc ở bò gây rụng trứng nhiều theo yếu tố
mùa vụ 75
Bảng 3.11: Tỷ lệ bò có biểu hiện động dục khi gây động dục đồng pha 76
Bảng 3.12: Ảnh hƣởng của mùa vụ đến tỷ lệ bò có biểu hiện động dục khi
gây động dục đồng pha 79
Bảng 3.13: Số con rụng trứng và tỷ lệ rụng trứng 80
Bảng 3.14: Số con rụng trứng và tỷ lệ rụng trứng theo mùa vụ 81
Bảng 3.15: Kết quả cấy truyền phôi cho bò nhận phôi 82
Bảng 3.16: Kết quả cấy truyền phôi cho bò nhận phôi theo mùa vụ 83
áp dụng công nghệ cấy truyền phôi chủ yếu nghiên cứu trên bò sữa.
Để áp dụng công nghệ này, trƣớc hết cần GRTN. Thông qua việc tác
động hormone để kích thích nhiều noãn bào phát triển cùng lúc, nhằm tạo
ra hàng loạt tế bào trứng phát triển, chín và rụng mà lẽ ra chúng bị thoái
hóa trong chu kỳ động dục tự nhiên. Những tế bào trứng này khi đƣợc thụ
tinh sẽ tạo ra phôi, phôi đƣợc thu để sử dụng trong CTP.
Trên thế giới, GRTN đã đƣợc Cole và Hart (1930) nghiên cứu và áp
dụng trên thỏ, đến nay GRTN vẫn tiếp tục đƣợc nghiên cứu mở rộng trên
nhiều đối tƣợng và đã thu đƣợc những thành tựu lớn. Ở Việt Nam, từ đầu
những năm 1990 các tác giả bắt đầu nghiên cứu và đã thu đƣợc các kết quả
có ý nghĩa nhƣ Bùi Xuân Nguyên, Nguyễn Thị Ƣớc, Hoàng Kim Giao, Đỗ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Kim Tuyên… Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu rất biến động nên GRTN
vẫn đang là vấn đề cần nghiên cứu.
Trong chăn nuôi công nghệ CTP có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao
hiệu quả chọn lọc, làm tăng nhanh số lƣợng, chất lƣợng đàn vật nuôi đáp
ứng nhu cầu của xã hội. Cùng với kỹ thuật đông lạnh cấy truyền phôi là
giải pháp tích cực để bảo vệ những nguồn gen quý, góp phần nâng cao hiệu
quả kinh tế trong chăn nuôi đặc biệt là ở các động vật đơn thai nhƣ trâu, bò
cũng nhƣ giữ gìn sự đa dạng sinh học về nguồn gen động vật nói chung, vật
nuôi nói riêng.
Chúng ta biết rằng, những biểu hiện và đặc điểm sinh lý sinh dục nói
chung, đặc điểm động dục và rụng trứng ở bò cái nói riêng, chịu ảnh hƣởng
rất lớn bới các yếu tố ngoại cảnh. Để làm chủ công nghệ CTP, nâng cao
hiệu quả của công nghệ này trong chọn lọc, nhân giống bò sữa, cần phải có
những nghiên cứu mở rộng và thử nghiệm các phƣơng pháp tác động
hormone, để tìm ra giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện thời tiết, khí
hậu Việt Nam.
- Đánh giá đƣợc hiệu quả của việc áp dụng kỹ thuật nghiên cứu gây
rụng trứng nhiều và gây động dục đồng pha trên bò sữa HF ở Tuyên Quang.
- Trong thời gian ngắn tạo ra đƣợc một lƣợng lớn phôi có chất lƣợng tốt.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đánh giá đúng kết quả
của phƣơng pháp sử dụng hormone vè yếu tố mùa vụ tới kết quả gây rụng
trứng nhiều và gây động dục đồng pha, từ đó có định hƣớng đúng đắn cho
việc áp dụng công nghệ cấy truyền phôi trên đàn bò sữa HF ở Tuyên Quang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái
Sinh sản là hoạt động chức năng để duy trì nòi giống ở động vật và đó là
kết quả của hàng loạt quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể, trong đó có hoạt
động của cơ quan sinh dục của gia súc cái.
Ở bò cái cơ quan sinh dục của nó mang đặc tính chung của loài và chia
làm 2 bộ phận sau: Bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình), bộ
phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng).
Hình 1.1: Cơ quan sinh dục bò cái
1.1.1.1. Các bộ phận sinh dục bên ngoài
a. Âm môn hay âm hộ (Vulva): Dƣới hậu môn là âm môn, phía ngoài âm
môn có 2 môi (Labia vulva), nối liền môi bằng 2 mép (Bima vulvae).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
bởi những lớp cơ trơn dày, cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài, lớp niêm mạc tử
cung có các tuyến sinh dục có khả năng tiết ra những chất giúp cho sự vận
động của tinh trùng cũng nhƣ sự phát triển của thai (Hoàng Kim Giao và
Nguyễn Thanh Dƣơng, 1997) [6].
- Sừng tử cung (Horn uterus): Bò cái có hai sừng tử cung trái và phải, độ
dài của sừng tử cung khoảng 15-20cm (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [4]. Hai
sừng tử cung của bò cái gắn với thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một
lõm hình lòng máng phía trên của tử cung gọi là rãnh giữa tử cung, dài 3-5cm,
rãnh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có
thai và bệnh lý ở tử cung.
c. Buồng trứng (Ovarium): Buồng trứng bò hình bầu dục, thƣờng là màu trắng
không có lõm rụng trứng. Vị trí buồng trứng bò thƣờng nằm ở hai mút sừng tử
cung, gần cạnh trƣớc xƣơng ngồi, hay ở phía dƣới sừng tử cung. Kích thƣớc
buồng trứng (1-2) x (1-1,5) x 1,5cm (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1995) [1]. Buồng
trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và phân tiết các hormone (Lƣu
Công Khánh, 1996) [12].
Bên dƣới lớp màng của buồng trứng là tế bào trứng non (Folliculin
ovocyt primario). Khi noãn bào chín thì các tế bào nang bao quanh tế bào trứng
phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum granulosum). Noãn bào
ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra một cái xoang có chứa
dịch (Liquar folliculin). Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo ra một lớp
màng bao bọc ở ngoài, có chỗ lồi lên để chứa tế bào trứng (Ovum). Noãn bao
nguyên thuỷ khi trở thành noãn bào chín (Follinculis ovaricus vesiculosus)
đƣợc bao bọc một lớp màng mỏng. Tổ chức màng liên kết buồng trứng lúc này
dày lên để bảo vệ noãn bào chín, giữa màng bảo vệ liên kết và màng mỏng của
noãn bào là tổ chức mạch quản dày đặc. Noãn bào chín nằm ở phần lồi trên của
màng liên kết buồng trứng. Noãn bào chín có kích thƣớc 1cm. Tế bào trứng
trong noãn bào là tế bào lớn nhất trong cơ thể, có thể trông thấy đƣợc bằng mắt
lại ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng. Có thể chia ống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: Đoạn tua diềm, phễu, phồng ống dẫn
trứng và đoạn co của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1995) [1].
1.1.2. Hoạt động sinh lý, sinh dục của bò cái
1.1.2.1. Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu
Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện,
buồng trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử
cung cũng biến đổi theo và đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung.
Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở tuổi nhƣ vậy gọi là thành
thục về tính. Trong thực tế, thành thục về tính thƣờng đến sớm hơn thành thục
về thể vóc. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ giống, ngoại cảnh và mức độ
nuôi dƣỡng. Trong điều kiện nuôi dƣỡng tốt thì sự sinh trƣởng đƣợc thúc đẩy
và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn. Bò sữa thành thục tính dục khi thể trọng
đạt từ 30 - 40% thể trọng lúc trƣởng thành. Còn bò thịt với mức độ cao hơn 45
- 50% (Rog và cs, 1975). (Trích theo Tăng Xuân Lƣu, 1999) [16].
Tuổi thành thục lúc 12 tháng tuổi, còn tầm vóc để đảm bảo cho sự phối
giống phải từ 18 tháng tuổi trở lên (Sipilop, 1976) [97]. Đối với bò lang trắng
đen Hà Lan cho ăn đầy đủ chăm sóc tốt thì thành thục lúc 10 - 12 tháng tuổi,
chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16 - 18 tháng tuổi. Tuổi phối giống lứa đầu
đối với bò sữa theo V.S. Mikhakop (1974) cho rằng vào độ tuổi 12 - 24 tháng
tuổi, còn theo S.Mirnop (1980) lại cho rằng phối giống lần đầu tốt nhất vào lúc
15 - 18 tháng tuổi (Trích theo Tăng Xuân Lƣu, 1999) [16].
Khi tuổi thành thục về tính cao do ảnh hƣởng của khí hậu nóng ẩm của
nƣớc ta và chế độ dinh dƣỡng không thích hợp kéo theo tuổi đẻ lứa đầu thƣờng
là cao: Bò vàng Việt Nam đẻ lứa đầu từ 33 - 48 tháng tuổi (Nguyễn Văn
Thƣởng, Trần Doãn Hối, 1992) [31]. Bò sữa Hà-ấn F2 (75% máu bò Hà Lan)
46 - 48 ± 1,84 tháng (Nguyễn Kim Ninh và cs, 1992) [22].
10
Các công trình nghiên cứu, theo dõi sự phát triển của buồng trứng in
vivo bằng phƣơng pháp nội soi và siêu âm đƣợc nhiều tác giả công bố. Các
tác giả cho thấy ở bò trong một chu kỳ thƣờng có 2 - 3 đợt sóng nang phát
triển (một số ít có 4 đợt). Đợt 1 bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày
thứ 3 - 9 của chu kỳ. Đợt 2 vào ngày 11 - 17 và đợt 3 vào ngày 18 - 0. Mỗi
đợt sóng nang có thể huy động tới 15 nang kích thƣớc từ 5 - 7mm phát triển.
Sau này có 1 số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế),
kích thƣớc của nang khống chế ở đợt 1, 2, 3 có thể đạt tới 12 - 15mm và các
kích thƣớc nang tƣơng ứng quan sát thấy vào các ngày 6, 13, 21 (Dalin, 1987)
[51]; (Monget, 1993) [83]. Hình 1.2. Đồ thị sóng nang trong chu kỳ
Đặc điểm quan trọng trong các đợt phát triển nang là sự phát triển có tính
tự điều khiển và cạnh tranh giữa các nang. Một đợt có 1 - 2 nang trội, vài nang
Đường kinh nang (mm)
11
lớn phát triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm hãm. Tuy vậy khi thể
vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hóa, chỉ có đợt cuối
cùng khi thể vàng không còn thì nang khống chế mới phát triển tới chín và rụng
trứng mới đƣợc sẩy ra. Do đặc điểm này các đợt phát triển nang gọi là sóng
phát triển. Trong mỗi đợt sóng nhƣ vậy sự tồn tại của các nang không phải
nang khống chế dao động 5 - 6 ngày (Ireland, 1987; Fortune và ctv, 1988).
Riêng nang khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc độ
phát triển của nang không chế ở thời điểm này có thể đạt 1,6mm/ ngày
(Fortune và ctv 1988; Savio và ctv, 1988). (Trích theo Hoàng Kim Giao,
Nguyễn Thanh Dƣơng, 1997) [6].
Theo Sipilop (1976) [97] và Kunittada Sato (1992) [75] chu kỳ động dục
của bò cái mang tính đặc trƣng và chia thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn trước động dục (Pre-oestrus): Là giai đoạn thời kỳ thoái hóa
thể vàng của chu kỳ trƣớc cho đến giai đoạn động dục chu kỳ sau, con vật bồn
chồn, đi lại, đái rắt, kém ăn, nhảy lên con khác, âm hộ sƣng nhẹ, xung huyết,
bóng ƣớt, niêm dịch chảy ra nhiều, lỏng, trong suốt dễ đứt (kéo dài 1-2 cm).
Giai đoạn động dục (Oestrus): Giai đoạn này kéo dài 8-30 giờ, đây là
giai đoạn xảy ra quá trình cuối cùng là sự chín muồi của tế bào trứng và nang
trứng, con vật có biểu hiện tìm đực hoặc đến gần con khác, chịu đực, trạng thái
mê ỳ, ăn ít hoặc không ăn, âm hộ bớt sƣng, hơi thấm niêm dịch đặc dính co lại,
màu đục trong, kéo dài 7-10 cm.
Giai đoạn sau động dục (Post-oestrus): Đầu của giai đoạn sau động dục
xảy ra hiện tƣợng nang trứng tách ra và vách của nang trứng rách phát triển
thành thể vàng trong vòng 3 ngày, giai đoạn này con vật còn chịu cho nhảy và
phối giống (một thời gian ngắn), con vật ăn ít, âm hộ hết sƣng.
Giai đoạn cân bằng sinh học (An, Di-oestrus): Các trạng thái trở về bình
thƣờng, giai đoạn này kéo dài 12-15 ngày và thể vàng sản sinh mạnh
progesterone. (Kunitada Sato, 1992) [75].
trứng để tăng kích thƣớc tƣơng đƣơng với nhân của tế bào trứng, sau đó nhân
của tinh trùng và nhân của trứng đồng hóa lẫn nhau tạo thành hợp tử lƣỡng bội
2n. Hợp tử sẽ di chuyển về sừng tử cung và làm tổ ở gốc giữa thân và sừng tử
cung. Sau khi bám chắc vào niêm mạc tử cung thì hợp tử phát triển thành phôi
và giữa phôi với tử cung hình thành nhau thai. Thời gian "làm tổ" này hoàn
thành từ 2 - 5 tuần sau thụ tinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Tính chọn lọc của trứng trong thụ tinh: Tế bào trứng ƣu tiên chọn tinh
trùng có sức sống cao nhất, để tạo ra hợp tử có sức sống cao.
1.1.2.4. Quá trình mang thai
Sự phát triển của thai là hiện tƣợng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó đƣợc
bắt đầu từ khi trứng đƣợc thụ tinh cho đến khi đẻ xong. Thời gian mang thai
phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ tuổi của mẹ, điều kiện nuôi dƣỡng, chế độ
khai thác và sử dụng, số lƣợng thai, đôi khi còn phụ thuộc vào lứa đẻ và tính
biệt của thai. Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278-290
ngày và đƣợc chia làm 3 thời kỳ cơ bản gồm thời kỳ phôi (ngày 1-34), thời kỳ
tiền thai (ngày 35-60), thời kỳ bào thai (ngày 61-đẻ).
Theo Nguyễn Xuân Trạch, Phạm Ngọc Thiệp (2004) [33], độ dài thời
gian mang thai của bò trung bình là 280 ngày. Mức dao động của thời gian này
giữa các cá thể rất nhỏ, chỉ có thể sớm hay muộn hơn so với trung bình là 5
ngày. Tuy nhiên, một số bò đẻ non, bê tuy yếu nhƣng vẫn nuôi đƣợc và bò sữa
vẫn khai thác sữa mặc dù không đƣợc cao nhƣ chu kỳ bình thƣờng.
1.1.2.5. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ là thƣớc đo khả năng sinh sản một cách rõ rệt của
gia súc. Ở bò 1 năm 1 lứa là khoảng cách lý tƣởng, khoảng cách lứa đẻ dài ảnh
hƣởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sản lƣợng sữa và số bê con
đƣợc sinh ra trong 1 đời bò mẹ, dẫn đến hạn chế việc nâng cao tiến bộ di
truyền. Khoảng cách lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dƣỡng, đặc
tốt, K
1
= 461 ngày trở lên là bò không tốt. (Nguyễn Kim Ninh, 1994) [21].
Ở Việt Nam trong điều kiện chăm sóc nuôi dƣỡng chƣa đầy đủ nên
khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 18 - 20 tháng (Nguyễn Văn Thƣởng, 1992) [31].
Ở bò lai F
1 (
Holstein Friesian x lai Sind: 378 ngày (nuôi dƣỡng tốt) và 424 ngày
(nuôi dƣỡng kém) 540 ngày (Nguyễn Kim Ninh và Lê Trọng Lạp, 1992) [22],
473 ngày (Trần Trọng Thêm, 1986) [29].
1.1.2.6. Thời gian hồi phục tử cung sau đẻ
Khi đẻ tử cung co rút để đẩy thai ra ngoài. Sau đó tử cung co lại (hầu
nhƣ trở lại kích thƣớc ban đầu). Quá trình đó gọi là hồi phục tử cung sau khi
đẻ. Đó là giai đoạn sinh lý có ảnh hƣởng rất lớn đến khoảng cách giữa hai lứa
đẻ. Đối với bò từ lâu ngƣời ta đã cho rằng thời gian để bộ máy sinh dục hồi
phục hoàn toàn sau khi đẻ là 3 tuần. Những kết quả nghiên cứu sau này chứng
minh rằng thời gian này dài hơn chút ít (Rosbech - 1956) thời gian tử cung hồi
phục hoàn toàn ở bò đẻ lứa đầu là 42 ngày, ở bò đã đẻ nhiều lần là 50 ngày.
Bằng phƣơng pháp khám qua trực tràng cho biết: 4 ngày sau khi đẻ thể tích tử
cung giảm đi 1/2 và vào khoảng ngày thứ 18 sau khi đẻ, tử cung hồi phục gần
nhƣ hoàn toàn. Trong thời gian sau khi đẻ sự phá hoại của mô nội mạc tử cung
kèm theo sự có mặt của số lƣợng lớn bạch cầu cùng với việc giảm thấp lòng
mạch nội mạc tử cung. Các tế bào cổ tử cung giảm về số lƣợng và kích thƣớc.
Những biến đổi nhanh chóng và không cân đối có thể là một nguyên nhân làm
cho tỷ lệ thụ thai sau khi đẻ bị giảm thấp. Các mô máu bị tróc và rụng khỏi dạ
con 12 ngày sau khi đẻ. Sự tái sinh của bề mặt biểu mô ở các núm xuất hiện
bằng cách lớn lên từ mô bao bọc xung quanh và đƣợc hoàn tất sau khi đẻ 30
ngày (Trích Nguyễn Tấn Anh, 1995) [1]. Theo Nguyễn Trọng Tiến (1991) [25]
cho biết khoảng 60 ngày sau khi đẻ có 75% số bò cái cơ quan sinh dục đƣợc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
FSH làm noãn bào vỡ ra và gây nên hiện tƣợng thải trứng, hình thành thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn