Đánh giá kết quả thực hiện dự án 661 tại khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập, Quảng Ninh giai đoạn 1998 đến 2010 - Pdf 24


1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGỌC LÊ HUY
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN 661 TẠI KHU
VỰC RỪNG PHÕNG HỘ HỒ YÊN LẬP – QUẢNG NINH
GIAI ĐOẠN 1998 – 2010

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
phố Hạ Long…
Theo thời gian, rừng nơi đây đã bị khai thác và lợi dụng với nhiều mục đích,
đến nay nguồn tài nguyên rừng đã bị suy giảm đáng kể về số lượng và chất lượng.
Kết quả sau 18 năm hoạt động (1980 - 1998) công suất cung cấp nước của hồ chỉ
còn 60% theo thiết kế (GS Lê Quý An, dẫn theo báo nhân dân 5/6/1998). Diện tích
mặt nước của hồ chỉ còn từ 5.000 - 6.000 ha. So với yêu cầu từ 10.000 - 15.000 ha.
Một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm công suất hoạt động của hồ là sự
suy giảm lớp thảm thực vật ở lưu vực lòng hồ. Chỉ tính riêng năm 2003 và 6 tháng
đầu năm 2004 đã có hơn 100 ha rừng tự nhiên trên lưu vực hồ bị tàn phá để lấy đất
trồng cây ăn quả và cây lương thực (Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý rừng
phòng hộ hồ Yên Lập, năm 2007). Điều này đã dẫn đến suy giảm khả năng duy trì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
nguồn nước của hồ, đồng thời làm giảm tuổi thọ của hồ do quá trình rửa trôi, bồi
lắng đất, đá xung quanh xuống lòng hồ.
Là một công trình thủy lợi chứa nước lớn của tỉnh Quảng Ninh, khu vực
phòng hộ hồ Yên Lập được rất nhiều dự án phát triển lâm nghiệp trong huyện, tỉnh
và quốc gia quan tâm như dự án 327, dự án 661, với mục tiêu chủ yếu là phát triển
rừng phòng hộ, tăng độ che phủ của rừng trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội và ổn
định đời sống người dân địa phương.
Dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010 tại vùng hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh
được triển khai với mục tiêu bảo vệ diện tích rừng hiện có, trồng phủ xanh những
diện tích đất trống để làm tăng độ che phủ của rừng, góp phần đảm bảo an ninh môi
trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, sử dụng có hiệu quả diện tích
đất trống đồi núi trọc tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói
giảm nghèo,…Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất của Dự án là xây dựng rừng
phòng hộ cho khu vực hồ Yên Lập. Ngoài ra, dự án 661 đã góp phần quan trọng
trong việc nâng cao độ che phủ của rừng toàn tỉnh từ 36,3% của năm 1999 lên
52,02% vào năm 2010.

- Theo tài liệu hội thảo PIMES [28] đã đưa ra hai khái niệm:
+ Dự án là quá trình gồm các hoạt động đã được lập kế hoạch nhằm đạt được
những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó.
+ Dự án là quá trình phát triển có kế hoạch, được thiết kế nhằm đạt được
mục tiêu cụ thể với khoản ngân sách xác định trong thời gian xác định.
Thông thường thì trong vòng 3 năm hoặc 5 năm sau khi kết thúc dự án thì
các Bộ hay Công ty độc lập sẽ tiến hành đánh giá dự án. Tâm điểm là đánh giá tác
động và tính bền vững của dự án so với mục tiêu ban đầu. Trong sổ tay hướng dẫn
Giám sát đánh giá của Ngân hàng thế giới cũng đã đưa ra nhiều khái niệm và
phương pháp đánh giá tác động cho các dự án. Tuy nhiên, tất cả chỉ mang tính khái
quát chung chung do đó việc áp dụng các lý thuyết và hướng dẫn này cũng cần phải
linh hoạt [47].
Trong quá trình thực hiện dự án, hoạt động đánh giá có thể được tiến hành
vào những giai đoạn quan trọng, thường gọi là đánh giá giai đoạn. Có nhiều tác giả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
cho rằng, điều quan trọng là phải tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên có
liên quan mà quan trọng nhất là người hưởng lợi từ dự án [41].
Theo tài liệu nghiên cứu của các tác giả trên thế giới như Jim Woodhill, Lisa
Robins, Joachim Theis, Heather. M. Grady [dẫn theo 8] đã phân chia thành hai loại
đánh giá: Đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình. Đánh giá mục tiêu là xem xét
liệu dự án có đạt được mục tiêu đã định hay không, nó tập trung vào phân tích các
chỉ số đo đạc, hiệu quả thu được. Đánh giá tiến trình là mở rộng diện đánh giá hơn
so với loại đánh giá trên, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để xem xét
nhiều vấn đề của dự án.
Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh
giá hiệu quả dự án trong đó có hiệu lực thực thi. Từ sau năm 1990, các hoạt động
đánh giá được thực hiện đã bao gồm cả đánh giá tác động dự án, tức là xem xét các
hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John et al,

1981) [15]. Những ô thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố như: Thực bì, loại đất, độ dốc mặt đất, lượng mưa tới dòng chảy và xói mòn
đất. Trong công trình này Volni cũng nghiên cứu ảnh hưởng của loại đất và độ dốc
mặt đất tới dòng chảy và xói mòn đất. Tuy nhiên, phần lớn các kết luận chưa được
định lượng rõ ràng.
Bằng thí nghiệm trong phòng, Ellison (dẫn theo Hudson N, 1981) [15] cho
thấy rằng các loại đất khác nhau có biểu hiện khác nhau trong các pha xói mòn đất
do nước. Ellison là người đầu tiên phát hiện ra vai trò của lớp phủ thực vật trong
việc hạn chế xói mòn đất và vai trò cực kỳ quan trọng của hạt mưa rơi đối với xói
mòn. Phát hiện của Ellison đã mở ra một phương hướng mới trong nghiên cứu xói
mòn đất, đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu về xói mòn và khẳng định khả năng
bảo vệ đất của lớp thảm thực vật.
Kết quả quan trọng của nghiên cứu xói mòn và khả năng bảo vệ đất, bằng
các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đã xây dựng được phương
trình mất đất ở trường Đại học Tổng hợp Pardiu (Mỹ) vào cuối năm 1950 (Hudson
N, 1981) [15]). Sau đó phương trình này được W. H. Wischmeier hoàn chỉnh dần
(W. H. Wischmeier, 1978) [46]. Phương trình mất đất làm sáng tỏ vai trò của từng
nhân tố ảnh hưởng tới xói mòn. Nó còn có tác dụng định hướng cho nhiều nghiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
cứu sau này nhằm xác định quy luật xói mòn và nghiên cứu các mô hình canh tác
bền vững ở các khu vực có điều kiện địa lý khác nhau.
Việc nghiên cứu định lượng ảnh hưởng của các yếu tố tới xói mòn đất lần
đầu tiên được V.A. Sing (1940) đưa ra khi tìm cách xác định ảnh hưởng của chiều
dài sườn dốc (L) và độ dốc (S) tác động của xói mòn. Sau đó Smith D.D. (1941) đã
xác định lượng đất xói mòn cho phép và lần đầu tiên đã đánh giá ảnh hưởng của các
nhân tố cây trồng (C), cũng như việc áp dụng các biện pháp bảo vệ đất (P) ở các
mức độ khác nhau đến xói mòn đất bằng các công trình nhân tạo. Tiếp đó, nhiều
phương trình dự báo xói mòn đã được nghiên cứu và công bố, trong đó phương

nước bốc hơi từ vật rơi rụng của các kiểu rừng khác nhau chiếm khoảng 3 - 21%
tổng lượng nước bốc hơi trên mặt đất rừng.
Nhìn chung, đất rừng tự nhiên có khả năng thấm nước cao và ít khi xuất hiện
dòng chảy bề mặt. Tuy nhiên, khi rừng bị chặt hạ trở nên thưa thớt và độ dốc mặt
đất lớn, có thể tạo ra nhiều lượng nước chảy trên bề mặt (Ruxton B P, 1967) [45];
(Imeson A C và Vis, 1982) [39].
Cấu trúc rừng có ý nghĩa rất lớn, nó quyết định đến khả năng phòng hộ của
rừng. Việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm tìm ra những cấu trúc hợp lý, có khả
năng phòng hộ cao là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ.
Công trình nghiên cứu của Moltranov A.A (1960, 1973) và Matveev P.N. (1973)
là những công trình lớn đề cập tới cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn nước. Với
trang thiết bị tạo mưa nhân tạo, các tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân
tố cấu trúc tới khả năng điều tiết nước, bảo vệ đất của rừng như: cấu trúc tổ thành
loài, cấu trúc tuổi, cấu trúc tầng thứ và độ tàn che. Những nghiên cứu này đã đặt cơ
sở cho việc xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng như việc xác định các biện
pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng ôn đới. Tuy vậy, do cấu trúc của rừng ôn
đới không có lớp thảm tươi cây bụi dày như ở nước ta nên các tác giả chưa chú ý
nhiều đến vai trò của tầng mặt đất. Ngoài ra, cấu trúc tầng thứ cũng chưa được các
tác giả nghiên cứu sâu. Những thiếu xót này đã được Lui Wenyao và các cộng sự
(1992) bổ sung khi nghiên cứu ở tỉnh Yunnan, Trung Quốc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
1.1.3. Các biện pháp kỹ thuật xây dựng và các mô hình rừng phòng hộ
Ở Liên Xô và Trung Quốc thường dùng công thức để xác định diện tích rừng
chống xói mòn ở đất dốc là: F =
h
KPKA

thì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích hợp nữa. Người ta
đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái rừng thông qua việc ban bố một số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
chính sách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia quản lý và sử dụng tài
nguyên rừng. Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay lâm nghiệp cộng đồng) xuất
hiện đầu tiên ở Ấn Độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như
lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái Lan, Philippin, ) [dẫn theo 17].
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học cũng
đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng như: Các
nhà lâm học Đức (G. L. Hartig, 1840; Heyer, 1883; Hundeshagen, 1926) [44] đã đề
xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đồng tuổi; Các nhà lâm học
Pháp (Gournand, 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley, 1922) đã đề ra phương pháp kiểm
tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi,
Vào cuối thế kỷ XX, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng thì
con người mới nhận thức được rằng tài nguyên rừng là có hạn và đang bị suy giảm
nhanh chóng, nhất là tài nguyên rừng nhiệt đới. Nếu theo đà mất rừng mỗi năm
khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng
nhiệt đới hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ chịu những thảm hoạ khôn lường về
kinh tế, xã hội và môi trường [38].
Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999), tại Khu bảo tồn Hoàng gia
Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được
tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm
phục vụ cho du lịch. Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là
khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hằng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt
động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng [42].
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Đánh giá dự án
Theo Vũ Nhâm (2002), bất kỳ một dự án nào khi đi vào hoạt động để đạt

các đơn vị kinh doanh quản lý; (iii) kết hợp chặt chẽ chức năng phòng hộ với chức
năng sản xuất; (iv) có chính sách cho người hưởng lợi từ khi được giao đất giao
rừng hay khoán BVR và trồng rừng; (v) phát triển thị trường lâm sản địa phương;
(vi) xây dựng quỹ bảo vệ và tái tạo rừng của thôn bản; (vii) khẳng định vị trí pháp
lý của cộng đồng thôn bản để quản lý sử dụng rừng như những chủ thể khác [25].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
1.2.2. Nghiên cứu xói mòn đất và thủy văn rừng
Nghiên cứu về xói mòn đất là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng
rừng phòng hộ đầu nguồn. Ở nước ta vấn đề này được nhiều tác giả rất quan tâm.
Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) [11] thì vấn đề xói mòn đất đã bắt đầu được quan
tâm ở nước ta từ trước những năm 1954, bước đầu mới chỉ là những biện pháp
chống xói mòn sơ khai như làm ruộng bậc thang, xây kè cống.
Trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói mòn
đất và khả năng giữ nước của một số thảm cây trồng nông nghiệp và công nghiệp,
đặc biệt là ở các tỉnh vùng Tây Nguyên. Trong thời gian này nhiều khu nghiên cứu
quan trắc định vị đã được xây dựng kiên cố bằng gạch và xi măng, gỗ, kim loại,
Hàng loạt công trình mang nhiều sắc thái và đi vào định lượng như công trình
nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ, Quách Cao Yêm, Hoàng Xuân Cơ (1984) [11].
Những công trình nghiên cứu này đã làm rõ ảnh hưởng của nhân tố địa hình tới xói
mòn, vai trò chống xói mòn của một số thảm thực vật nông nghiệp, đã chú ý tới độ
che phủ gắn liền với các giai đoạn phát triển của cây trồng, định hướng cho việc xây
dựng các giải pháp phòng chống xói mòn trên sườn dốc. Tuy nhiên, khả năng giữ
nước của các thảm thực vật còn ít được chú ý (Phạm Văn Điển, 2004) [4].
Trong công trình nghiên cứu xói mòn đất ở Thanh Hoà (Vĩnh Phúc), Nguyễn
Quang Mỹ và Đào Đình Bắc (1985) [dẫn theo 13] đã đưa ra một số nhận xét về đặc
điểm xói mòn đất ở Việt Nam như sau: quá trình xói mòn đất ở Việt Nam hiện
tượng xói mòn theo bề mặt gây tác hại to lớn hơn cả, tiếp sau là xói mòn theo dòng,
còn xói mòn do gió chỉ hoạt động ở một số nơi có điều kiện thích hợp như ở Tây

đề nghị việc xây dựng và thiết kế rừng phòng hộ ở các triền sông phải phát huy
được khả năng giữ nước cao nhất của nó trong những thời điểm lượng mưa mùa tập
trung cao.
Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) [6], Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải
(1997) [10] cho thấy vai trò điều tiết nước, chống xói mòn đất của rừng rất lớn:
lượng nước mưa bị tán rừng ngăn cản dao động từ 5,75 - 11,6% tùy thuộc vào từng
loại rừng; lượng nước tạo thành dòng chảy ngầm và các dạng khác từ 88,2% -
92,5% tổng lượng nước mưa; lượng nước tạo thành dòng chảy bề mặt ở những nơi
có rừng rất thấp, qua đó hạn chế khả năng hình thành lũ và lũ quét. Một thành quả
được thể hiện rõ nét qua công trình nghiên cứu này là việc xác định cấu trúc hợp lý
của thảm thực vật rừng chống xói mòn đất. Hai tác giả đã xây dựng được bảng tra
hệ số thảm thực vật (hệ số C) tương ứng với đặc điểm và cấu trúc của một số thảm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
rừng. Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương (2002) [18] đã đưa ra dẫn
liệu lưu lượng dòng chảy tại nơi có rừng thấp hơn từ 2,5 đến 27 lần so với khu vực
canh tác nông nghiệp, rừng tự nhiên có tác dụng tốt hơn rừng trồng trong việc giảm
dòng chảy mặt; dòng chảy kiệt ở nơi có rừng cao hơn ở nơi không có rừng.
1.2.3. Các biện pháp kỹ thuật xây dựng các mô hình rừng phòng hộ
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) thì rừng phòng hộ đầu nguồn
phải được xây dựng thành rừng tập trung, liền vùng, nhiều tầng. Tại Điều 28 Quyết
định 186/TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế
quản lý rừng quy định: Đối với rừng phòng hộ đầu nguồn phải đạt được độ tàn che
từ 0,6 trở lên để rừng có khả năng duy trì, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, giảm
xói mòn. Đây là những cơ sở khoa học và pháp lý quan trọng cho việc xây dựng
rừng phòng hộ đầu nguồn nước ta.
Theo Nguyễn Anh Dũng (2006) thì ở nước ta hiện nay có 2 giải pháp kỹ
thuật chủ yếu để phục hồi và phát triển rừng, đó là trồng rừng và khoanh nuôi xúc
tiến tái sinh có trồng bổ sung. Vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng ở nước ta đã được

hồi rừng phòng hộ đầu nguồn khá thành công là các mô hình tại Kbang – Sơ Pai
tiểu vùng Kon Hà Nừng; mô hình trên quốc lộ 22 gần huyện Kông – Plông miền
Đông Kon Tum; mô hình gần quốc lộ 20 vùng hồ Thuỷ Tiên - Đà Lạt. Đây đều là
các đối tượng rừng sau khai thác kiệt và rừng phục hồi sau nương rẫy. Sau khi áp
dụng khoanh nuôi có trồng bổ sung các đối tượng rừng trên đều phục hồi khá tốt.
Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ làm cơ sở
cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lượng cao cũng đã được quan
tâm. Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải đã công bố “Kết quả bước đầu
nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính và các
nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước”, trong đó các tác giả đã đánh giá
được năng lực phòng hộ của một số dạng cấu trúc thảm thực vật rừng về mặt chống
xói mòn và điều tiết nguồn nước. Trên cơ sở đó đề xuất những mô hình rừng phòng
hộ đầu nguồn có cấu trúc hợp lý.
Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng tác viên (2005) [19] thì Dự án 661 giai
đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình rừng trồng phòng hộ đầu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
nguồn. Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh có trồng rừng phòng hộ đầu
nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng, tổng số có tới 188 mô hình trồng rừng
phòng hộ đầu nguồn, mật độ trồng rừng rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài cây
và kỹ thuật áp dụng trong mỗi mô hình. Căn cứ vào các loài cây trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn có thể chia các mô hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn thành 4
nhóm chính là cây bản địa trồng hỗn giao với nhau và cây bản địa hỗn giao với cây
phù trợ; các loài Thông trồng thuần loài và Thông trồng hỗn giao với các loài cây
khác; các loài Keo trồng thuần loài và Keo trồng hỗn giao với các loài cây khác; các
loài Tre, luồng trồng thuần loài. Trong những năm gần đây, các mô hình này đã đa
dạng hơn và được phát triển rộng hơn ở nhiều tỉnh. Ngoài ra, rừng tre luồng có khả
năng chống xói mòn tốt do lá rụng nhiều và khó phân huỷ, rễ cây nhiều chủ yếu
phân bố ở bề mặt đất nên che phủ đất tốt.

sự nghiệp kinh tế có thu. Khu rừng phòng hộ có diện tích tập trung từ 20.000 ha trở
lên, được tổ chức Hạt Kiểm lâm trực thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ, đồng thời
chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan Kiểm lâm cấp tỉnh. Những
khu rừng phòng hộ có diện tích dưới 5.000 ha (tập trung hoặc không tập trung)
không thành lập Ban quản lý mà giao cho các tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân
quản lý, bảo vệ, xây dựng.
1.3. Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu có
thể rút ra một số nhận xét sau đây:
- Rừng phòng hộ, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn được quan tâm chú ý
ở nhiều nước trên thế giới. Các công trình nghiên cứu được tiến hành khá đồng bộ
trên nhiều các khía cạnh khác nhau, chủ yếu tập trung vào xói mòn đất, xác định cấu
trúc hợp lí của rừng, thuỷ văn rừng, các biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng và các
chính sách tổ chức quản lí rừng, Về đánh giá dự án cũng đã có nhiều nghiên cứu
thực hiện ở các mức độ khác nhau, nhìn chung đã xây dựng được phương pháp
luận, nội dung đánh giá các tác động của dự án, đặc biệt chú trọng về hiệu quả kinh
tế, xã hội và môi trường. Kết quả các nghiên cứu này là những tài liệu tham khảo có
giá trị, định hướng cho đề tài nghiên cứu của tác giả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
- Ở Việt Nam, việc nghiên cứu xây dựng và phát triển rừng phòng hộ, rừng
phòng hộ đầu nguồn được Nhà nước đặc biệt quan tâm, rất nhiều các công trình
nghiên cứu, các Dự án quy hoạch vùng phòng hộ đầu nguồn được phê duyệt và triển
khai. Các văn bản pháp luật được ban hành đã tạo hành lang pháp lí quan trọng cho
việc xây dựng và phát triển rừng phòng hộ ở nước ta. Trong thời gian qua, các công
trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào xói mòn đất, thủy văn rừng, cấu trúc hợp lí
của rừng phòng hộ, việc đánh giá các mô hình rừng trồng phòng hộ cũng được
một số tác giả quan tâm nhưng nói chung còn ít. Đặc biệt là trong Dự án 661 đã xây
dựng một khối lượng khá lớn rừng trồng phòng hộ, nhưng những nghiên cứu, đánh

điểm cả về kỹ thuật, cơ chế chính sách, suất đầu tư và các biện pháp lâm sinh đã áp
dụng tại khu rừng phòng hộ hồ Yên Lập. Trên cơ sở đó, đề xuất bổ sung các biện
pháp làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước
sản xuất cũng như nước sinh hoạt không chỉ của người dân ở huyện Hoành Bồ mà
còn là nhu cầu nước sinh hoạt của cả thành phố Hạ Long.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được kết quả quản lý và xây dựng rừng phòng hộ hồ Yên Lập;
- Đề xuất được các loài cây và mô hình trồng rừng có triển vọng tại lưu vực
phòng hộ hồ Yên Lập;
- Đề xuất và khuyến nghị được một số giải pháp kỹ thuật, cơ chế chính sách
và suất đầu tư cho 1,0 ha rừng phòng hộ đầu nguồn nói chung và hồ Yên Lập nói
riêng trong giai đoạn tiếp theo.
2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rừng trồng, rừng tự nhiên khoanh nuôi bảo vệ ở
khu vực đầu nguồn của khu vực hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh thuộc Dự án 661 giai
đoạn 1998 – 2010.
- Giới hạn về địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu gồm 07 xã có liên quan đến lưu vực phòng hộ hồ Yên
Lập như sau:
+ Huyện Hoành Bồ có 04 xã: Tân Dân, Quảng La, Bằng Cả, Dân Chủ;
+ Huyện Yên Hưng (nay là Thị xã Quảng Yên) có 01 xã: Minh Thành;
+ Thành phố Hạ Long có 02 phường: Đại Yên, Việt Hưng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ thuộc Dự án 661, giới hạn trong
việc đánh giá diện tích rừng trồng, cơ cấu nguồn vốn đầu tư trồng rừng phòng hộ,
loài cây, lập địa, biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ tại Ban Quản lý rừng
phòng hộ hồ Yên Lập.

- Các cơ chế chính sách đã áp dụng;
- Suất đầu tư trồng rừng, quản lý bảo vệ, phục hồi rừng tự nhiên… ;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
- Những khoảng trống cần bổ sung.
2.3.4. Đề xuất và khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý và trồng rừng phòng hộ trong thời gian tiếp theo tại Ban Quản lý rừng
phòng hộ hồ Yên Lập
- Giải pháp về kỹ thuật;
- Giải pháp về cơ chế, chính sách;
- Giải pháp về suất đầu tư, …
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu
- Vì quá trình thực hiện Dự án 661 là một quá trình tiếp cận lâu dài từ 1998 –
2010, các mô hình rừng trồng được xây dựng ở nhiều giai đoạn khác nhau, nên việc
đánh giá rừng trồng theo phương pháp lấy không gian thay thời gian.
- Và cũng vì rừng trồng cũng như các loài thực vật ở rừng trồng luôn luôn ở
trạng thái động, nó biến đổi theo thời gian hàng năm, hàng tháng, thậm chí hàng
ngày, nên việc đánh giá kết quả của dự án chỉ là tương đối; vì vậy cách tiếp cận là
tổng kết đánh giá tại thời điểm hiện tại, sao cho phản ánh một cách tương đối những
kết quả của Dự án 661 tại khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Yên Lập.
Để rút ngắn khối lượng và thời gian nghiên cứu, tác giả đã kế thừa một số tài
liệu có chọn lọc bao gồm :
- Những văn kiện Dự án, các văn bản của nhà nước như các văn bản Pháp
luật, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngang Bộ,
Quyết định thực hiện Dự án ;
- Các báo cáo giám sát đánh giá Dự án, các biên bản nghiệm thu, thẩm định,
hồ sơ thiết kế;
- Điều kiện kinh tế, xã hội, tài nguyên rừng vùng Dự án;

Từ đó tiến hành điều tra, khảo sát thực địa để tổng kết và đánh giá các mô
hình rừng trồng phòng hộ, các biện pháp kỹ thuật, cơ chế chính sách đã áp dụng
trong thực tiễn để tìm ra những thiếu hụt về kỹ thuật và chính sách làm cơ sở cho
việc đề xuất các giải pháp cho giai đoạn tới.
Phương hướng và cách giải quyết vấn đề của đề tài được mô hình hóa theo
sơ đồ 1 dưới đây:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

23

24
- Thu thập các văn bản hướng dẫn kỹ thuật, các quyết định, chỉ thị của Chính
phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Lâm nghiệp (nay là Tổng cục Lâm
nghiệp), các thông tư hướng dẫn liên bộ và của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, liên quan đến kỹ thuật trồng rừng phòng hộ và chính sách trong dự án 661; các
thông tin chung về tình hình thực hiện, triển khai dự án và những vấn đề có liên quan
từ Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh.
- Thu thập các báo cáo khoa học, các kết quả nghiên cứu về kỹ thuật trồng
rừng phòng hộ, các báo cáo đánh giá dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010 và các báo
cáo hàng năm; các mô hình rừng trồng phòng hộ trong thời gian qua trên địa bàn
các xã, phường thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập.
- Thu thập các hướng dẫn kỹ thuật, cơ chế chính sách, loài cây và các mô
hình áp dụng trong dự án 661 của huyện Hoành Bồ. Các thông tin, số liệu về tình
hình, tiến độ thực hiện dự án tại các Ban quản lý dự án cơ sở khác.
3.4.3.2. Phương pháp khảo sát, đánh giá trên thực địa
Phương pháp đánh giá chung được áp dụng là lập ô tiêu chuẩn tạm thời, kết
hợp với điều tra sơ thám, các bước của quá trình khảo sát, đánh giá như sau:
a) Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia cử người dân (PRA) và
phỏng vấn bán cấu trúc cán bộ kỹ thuật, những người tham gia quản lý, điều hành
và thực hiện dự án 661 tại Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập:
- Điều tra thông qua phỏng vấn hộ gia đình (HGĐ), các thông tin phỏng vấn
được ghi chép trong phiếu điều tra HGĐ tại phần Phụ biểu.
- Phỏng vấn cán bộ có liên quan cũng được ghi chép vào bảng câu hỏi phỏng vấn.
Ngoài ra, khi điều tra, có những vấn đề phát sinh, những thông tin mới ngoài
bộ câu hỏi cũng được ghi chép lại làm tài liệu tham khảo.
b) Phương pháp thu thập số liệu trên các ô mẫu:
Phỏng vấn cán bộ của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm
lâm huyện Hoành Bồ và Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập để nắm được tình
hình chung về việc triển khai thực hiện dự án, các hướng dẫn kỹ thuật, các cơ chế
chính sách và các mô hình lâm sinh đã áp dụng, các loài cây trồng rừng, biện pháp

;
+ Dùng thước đo cao Bumless hoặc sào để đo H
vn
;
+ Dùng thước dây để xác định đường kính tán D
T;
+ Dùng địa bàn cầm tay xác định độ dốc, hướng dốc, lập ÔTC.
- Điều tra cây tái sinh:
+ Trong mỗi ÔTC rừng tự nhiên, lập 4 ô dạng bản (ÔDB), mỗi ô có diện tích
25 m
2
(5 m x 5 m) ở 4 góc ÔTC.
+ Dùng sào có khắc vạch đến cm để đo chiều cao của cây.
- Điều tra cây bụi thảm tươi:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trích đoạn Đỏnh giỏ chung về điều kiện tự nhiờn, kinh tế xó hộ Bối cảnh ra đời của dự ỏn Khỏi quỏt mục tiờu và nhiệm vụ của Dự ỏn Về cơ cấu tổ chức Dự ỏn Đỏnh giỏ cỏc hoạt động chớnh của Dự ỏn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status