MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
I. Lý do chọn đề tài 1
II. Những vấn đề cơ bản 2
i. Mục đích nghiên cứu 2
ii. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2
iii. Phạm vi nghiên cứu 2
iv. Phương pháp nghiên cứu 2
Phần I. Những lý luận chung về chất thải rắn sinh hoạt 3
I. Nguồn gốc và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 3
II. Tính chất của chất thải rắn sinh hoạt 5
1.Lý tính 5
2. Hóa tính 6
v. Tính chất sinh học 6
III. Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người 6
7
IV. IV. Tái sử dụng, tái chế chất thải rắn sinh hoạt 8
V. Lợi ích của việc tái chế, tái sử dụng rác thải 10
1.Tận dụng rác 10
2. Tái chế rác 10
3. Tái sinh rác 11
Phần II. Dự án 3R-Hà Nội giai đoạn 2006-2009 12
I. Giới thiệu chung về dự án 3R-Hà Nội trong giai đoạn 2006-2009 12
1.Thực trạng quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 12
2. Lịch sử hình thành và phát triển sáng kiến 3R 13
3. Áp dụng 3R vào Việt Nam (3R Hà Nội) 16
II. Các hoạt động chính của dự án 3R-Hà Nội giai đoạn 2006-2009 19
1. Hoạt động phân loại rác tại nguồn 19
2. Hoạt động nâng cao nhà máy chết biến phế thải Cầu Diễn 20
III. Kết quả đạt được và những khó khăn trong quá trình thực hiện dự án 21
đô thị còn rất nhiều bất cập. Lượng rác thải ra môi trường mỗi ngày, ngày một tăng
khủng khiếp đồng thời chúng ta chưa có được một hệ thống xử lý rác thải hiệu quả,
đó là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến cảnh quan đô thị và
sức khoẻ cộng đồng, gây tốn kém kinh phí của thế hệ hiện tại và tương lai, cho
những kế hoạch, cải thiện môi trường. Giảm thiểu rác thải ngày càng trở nên cấp
thiết, nếu chúng ta không quan tâm tới vấn đề này đúng mức thì sẽ là mối đe doạ
đến tốc độ phát triển của đất nước trong tương lai. Với mục tiêu góp phần xây dựng
xã hội bền vững thông qua những hoạt động thân thiện với môi trường, điển hình là
phân loại rác tại nguồn và những hành động tiết kíệm cho xã hội, 3R là một hoạt
động bảo vệ môi trường, một trào lưu được hưởng ứng trên toàn cầu mà nhân tố
chính nằm trong ý thức và hành vi của con người. Việc thực hiện 3R thành công sẽ
xây dựng được một xã hội tuần hoàn vật chất, tiết kiệm được nguồn tài nguyên
thiên nhiên và đảm bảo môi trường sống cho người dân. Sáng kiến 3R đã được thực
hiện thành công tại nhiều quốc gia trên thế giới và đó là xu hướng tất yếu hướng tới
phát triển bền vững. Vì vậy, việc nghiên cứu các hoạt động 3R đang, từ đó thấy
được kết quả của hoạt động và biết được những hạn chế trong thực hiện, tìm ra
những giải pháp thực hiện thành công 3R tại Hà Nội và nhân rộng mô hình thực
2
hiện ra các tỉnh thành trên toàn quốc là một đề tài nghiên cứu thú vị và có tính thực
tiễn cao.
Xuất phát từ những lí do đó, “Đánh giá hiệu quả thực hiện dự án 3R tại Hà
Nội trong giai đoạn 2006-2009” được chọn làm đề tài nghiên cứu.
II. Những vấn đề cơ bản
i. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của dự án 3R tại Hà Nội giai đoạn 2006-2009 và đề xuất
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của dự án.
ii. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
+Tổng quan về dự án 3R Hà Nội
+Đánh giá kết quả đạt được và những khó khăn trong quá trình thực hiện dự
án
Chất thải đặc biệt phát sinh từ các hộ dân và các khu thương mại gồm đồ
điện tử gia dụng, rác sân vườn, bình điện, dầu mỡ, lốp xe … Những loại rác này
thường được tách riêng ra khỏi rác thải sinh hoạt.
Các thứ rác cồng kềnh là các đồ dùng hỏng hóc, hết hạn sử dụng hay phế
phẩm như các loại đồ gỗ, lavabo, đèn, quạt,… và những loại tương tự khác. Các loại
đồ điện tử gia dụng như radio, tivi, … bị hỏng hóc, hết hạn sử dụng hay phế phẩm.
Các loại máy móc gia dụng như tủ lạnh, lò , bếp, … hỏng. Khi thu gom rác, các loại
máy móc hỏng này được để riêng.
Các loại máy móc nguồn lưu trữ điện gia dụng, ô tô, xe máy … pin, bình
điện chất chưa alkaline, thủy ngân, … Các kim loại trong pin, bình điện gia dụng có
thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, chúng cũng có thể gây ô nhiễm khí thải và tro
từ các lò đốt rác. Nhiều nước ngày nay đã cấm việc chôn lấp pin, bình điện hỏng.
4
Nguồn phát sinh dầu thải chủ yếu là ô tô, xe máy … Dầu thải nếu không
được thu gom để tái sinh thì thường được đổ xuống đất, đổ vào hệ thống thoát nước
sinh hoạt, cống rãnh. Trong trường hợp đó, chúng gây ô nhiễm nguồn ngước ngầm
và nước mặt cũng như đất. Mặt khác, nếu đổ dầu thải vào cùng với rác chúng sẽ làm
bẩn rác và làm giảm giá trị của các chất tái sinh.
Lốp xe cũ đặt ra nhiều vấn đề nan giải trong xử lý chất thải rắn. Do chúng
cồng kềnh nên việc chôn lấp chiếm nhiều không gian của bãi rác, nếu chất đống
trên mặt đất sẽ làm mất vẻ mỹ quan, là nơi sinh muỗi và trong trường hợp bị hỏa
hoạn, rất khó dập tắt.
Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh cũng như thành phần của nó phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có tình trạng kinh tế ( mức sống của người dân),
trình độ công nghiệp và thời điểm khảo sát trong năm.
5
Hình. Sơ đồ dòng đời vật chất của chất thải rắn sinh hoạt
II. Tính chất của chất thải rắn sinh hoạt
1.Lý tính
Những tính chất vật lý quan trọng của chất thải rắn đô thị bao gồm khối
III. Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người
Chất thải rắn sau khi được phát sinh có thể thâm nhập vào môi trường không
khí dưới dạng bụi hay các chất khí bị phân hủy như H
2
S, NH
3
, … rồi theo đường hô
hấp đi vào cơ thể con người hay động vật. Một bộ phận khác, đặc biệt là các chất
hữu cơ, các loại kim loại nặng thâm nhập vào nguồn nước hay môi trường đất rồi
vào cơ thể con người qua thức ăn, thức uống.
Ngoài những chất hữu cơ có thể bị phân rã nhanh chóng, chất thải rắn có
chứa những chất rất khó bị phân hủy (như nhựa chẳng hạn) làm tăng thời gian tồn
tại của chúng trong môi trường. Mặt khác, việc xử lý chất thải rắn luôn phát sinh
những nguồn ô nhiễm mới, nếu không có biện pháp xử lý triệt để các chất ô nhiễm
dạng rắn có thể dịch chuyển thành các chất ô nhiễm dạng khí hay dạng lỏng.
Chất thải rắn “thân thiện” với môi trường là các loại chất thải dễ phân hủy và
không gây tác hại đến môi trường đất, nước và không khí. Một ví dụ điển hình của
các chất thải rắn loại này là các loại bao gói chế biến từ thực vật (như tre, nứa, lá
7
chuối, …) thay cho bao gói bằng nhựa, hoặc các loại vải từ bông, tơ tằm, sợi tự
nhiên … thay cho sợi tổng hợp, nilon. Các loại chất thải này sau khi thải ra môi
trường sẽ phân hủy nhanh chóng, trở thành những chất hữu cơ thân thiện với môi
trường.
Hình. Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người
8
IV.IV. Tái sử dụng, tái chế chất thải rắn sinh hoạt
Sự giảm thiểu chất thải có thể được thực hiện thông qua thiết kế, chế tạo sản
phẩm với thể tích vật liệu bé nhất và tuổi thọ lớn nhất. Sự giảm thiểu chất thải cũng
có thẻ được thực hiện tại nơi tiêu thụ, thương mại hay công nghiệp thông qua việc
tái sử dụng sản phẩm. Hiện nay, việc giảm chất thải ngay từ nguồn không phải là
cũ… Ở những nước phát triển, người ta thường xây dựng các trạm nén, ép kim loại
ngay tại bãi chôn lấp rác hay trạm trung chuyển. Nhiều trường hợp các trạm này
không được tổ chức tốt nên kim loại thu gom lẫn lộn nhiều chất khác nhau làm
giảm chất lượng vật chất tái chế. Thu hồi lon bằng thép là phổ biến nhất. Các lon
thép đựng thức ăn, nước uống có thể phân loại dễ dàng bằng phương pháp từ tính.
Kim loại màu được thu hồi từ những đồ vật gia dụng, từ xây dựng hay di dời
(dây dẫn điện, ống nước, ga, …). Tất cả các loại kim loại màu đều có thể thu hồi để
tái chế nếu nó không có lẫn những tạp chất khác.
Bảng: Các loại vật liệu có thể thu hồi từ chất thải rắn sinh hoạt
Vật liệu thu hồi Dạng chất thải
Nhôm Lon nước giải khát, bia
Giấy
Giấy báo Trong rác thải cơ quan hay nhà dân
Các tông Bao bì (nguồn phát sinh lớn nhất trong thu hồi giấy)
Giấy chất lượng cao Giấy in máy tình, giấy in thiệp, quảng cáo …
Giấy hỗn hợp Hỗn hợp nhiều loại giấy sạch bao gồm giấy tạp chí và
những giấy có sợi dài khác
Nhựa
Polyethylene
terephthalate
(PETE/1)
Chai đựng nước giải khát, chia đựng dầu trộn xà lách,
phim ảnh
Polyethylene mật độ cao
(HDPE/2)
Bình đựng sữa, chai đựng nước, hộp đựng bột giặt, chai
đựng dầu ăn
Plyvinyl Chloride
(PVC/3)
Ống dẫn nước gia dụng, vải loại hộp đựng thức ăn và
- Các vật liệu xây dựng như: cát, đá, sỏi, sành sứ vụn dùng trải đường, làm
móng nền nhà
2. Tái chế rác
Những thứ phế thải không dùng được cho việc gì nữa nhưng còn có thể sử
dụng để sản xuất ra sản phẩm khác thì cần phải được thu gom bán phế liệu để tái
chế như:
- Kim loại: gồm đồng, kẽm, chì, sắt, thép, thau được huyện lại và chế tạo ra
đồ dùng vật liệu.
- Chai lọ, ống thuốc thuỷ tinh được thu gom về lò nấu lại và thổi thành các
dạng chai lọ mới.
- Các đồ dùng vật liệu nhựa, bao nylon được tập hợp tái chế lại thành đồ
dùng, bao bì, bục kê
- Giấy vụn được tái chế thành giấy bao bì, thùng các tông
11
3. Tái sinh rác
Các thứ rác hữu cơ rất dễ phân huỷ như thức ăn thừa, rau, củ, quả hư hỏng,
rác nhà bếp, cành cây, lá cỏ, xác súc vật, phân chuồng được tái sinh như sau:
- Tập hợp rác hữu cơ ủ thành phân bón cho cây trồng, hoa màu, lúa thêm
tươi tốt và làm cho đất đai màu mỡ, thêm tơi xốp, canh tác hiệu quả lâu dài.
- Các loại phân chuồng, thức ăn thừa của người và gia súc cho vào hầm ủ
Biogas để tạo thành chất đốt phục vụ việc đun nấu, thắp sáng.
Nếu mọi người, gia đình đều được làm như vậy là đã góp phần giảm lượng
chất thải đưa ra môi trường, giữ cho môi trường được sạch đẹp hơn.
12
Phần II. Dự án 3R-Hà Nội giai đoạn 2006-2009
I. Giới thiệu chung về dự án 3R-Hà Nội trong giai đoạn 2006-2009
1.Thực trạng quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2004, lượng chất thải rắn
bình quân ở các đô thị khoảng từ 0,7kg/người/ngày và ở các vùng nông thôn là
0,3kg/người/ngày. Ở các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải
chuyển biến tích cực. Hoạt động thu gom chất thải rắn ở các thành phố đang đi vào
nền nếp. Ở các vùng nông thôn, việc thu gom chất thải cũng đang chuyển biến. Tỷ
lệ thu gom chất thải ở các vùng đô thị trung bình đạt khoảng 71% và kể từ năm
2000, tỷ lệ thu gom đang tăng dần. Nhìn chung, các thành phố lớn có tỷ lệ thu gom
chất thải đạt ở mức cao hơn so với các thành phố nhỏ. Ở các vùng nông thôn tỷ lệ
thu gom chất thải đã dần được tổ chức. Một tỷ lệ lớn người nghèo được hưởng các
dịch vụ thu gom chất thải đô thị. Các chương trình thu gom chất thải dựa vào cộng
đồng, khu phố hoặc các dịch vụ tư nhân đảm nhiệm đang được triển khai ở các khu
vực đô thị. Các dịch vụ thu gom chất thải ở thành phố và các vùng nông thôn đang
phát triển để bảo vệ môi trường.
Các phương thức tiêu hủy chất thải sinh hoạt đang được cải tiến nhưng vẫn
còn là mối hiểm họa đối với sức khỏe và môi trường. Hình thức tiêu hủy chất thải
phổ biến vẫn là đổ chất thải ra các bãi rác lộ thiên và trong số này 49 bãi rác bị xếp
vào số các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất có khả năng gây ra những rủi ro
cao đối với môi trường và sức khỏe con người. Trong số 91 điểm tiêu hủy chất thải
trong cả nước, chỉ có 17 điểm là các bãi chôn lấp hợp vệ sinh mà phần lớn đều được
xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Ở nhiều vùng, việc áp dụng các phương pháp tự
thiêu hủy chất thải như đốt, hoặc chôn lấp chất thải, đổ bỏ ra các con sông, kênh,
rạch và các khu đất trống khá phổ biến. Các bãi chôn lấp được vận hành không
đúng kỹ thuật và các bãi rác lộ thiên gây ra nhiều vấn đề về môi trường cho dân cư
quanh vùng như nước rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm, các chất ô
nhiễm, không khí, ô nhiễm mùi, ruồi, muỗi, bọ, ô nhiễm bụi và tiếng ồn làm tăng tỷ
lệ người bị mắc bệnh về da, tiêu hóa và hô hấp.
Việc phân loại chất thải sinh hoạt tại nguồn gốc phát sinh cần được áp dụng
ở nước ta để người tiêu dùng có ý thức và hành động xử lý chất thải không làm
thương tổn đến môi trường và cuộc sống của cộng đồng.
2. Lịch sử hình thành và phát triển sáng kiến 3R
2.1. Sáng kiến 3R trên thế giới
Nhật Bản từ những năm 1990 tái chế lại thủy tinh vụn, tỷ lệ tái chế này đã và
đang tăng mỗi năm từ năm 1990 và đạt tới 90,3% vào năm 2003, vượt mức mong
rác tái chế. Điều này sẽ kéo theo nhiều tác động tích cực như: hạn chế việc khai thác
tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt khối lượng chất thải kể cả tiết kiệm mặt bằng cho
việc chôn lấp chất thải rắn, tạo điều kiện thuận lời cho việc xử lý cuối cùng các
thành phần không có khả năng tái chế. Giảm thiểu chất thải rắn ngay tại nguồn được
thực hiện bằng việc áp dụng các giải pháp sử dụng tối ưu nguyên liệu, thay đổi công
thức sản phẩm, giảm các vật liệu bao bì và đóng gói sản phẩm, thay đổi thói quen
trong tiêu dùng.
15
Reuse (Tái sử dụng): Là một dạng của việc làm giảm chất thải – mở rộng các
nguồn cung cấp nguyên liệu, giảm năng lượng sử dụng và giảm ô nhiễm thậm chí
còn hơn cả tái chế. Hoạt động tái sử dụng chất thải rắn có thể được thực hiện tốt ở
các khu công nghiệp tập trung trên cơ sở hình thành một hệ thống thông tin để trao
đổi chất thải vì trong một số trường hợp chất thải cần phải loại bỏ ở nơi này thành
nguyên liệu đầu vào ở nơi khác. Hoạt động tái sử dụng tập trung vào thu hồi sản
phẩm đã sử dụng để dùng lại cho cùng một mục đích, hoặt tìm ra một mục đích sử
dụng khác. Trong tái ử dụng, sản phẩm được giữ nguyên về chất liệu kết cấu và
hình dáng cũng như chức năng ban đầu và được đưa vào quá trình chuyển hóa ( ví
dụ như bao bì đóng gói nhiều lần). Thông lệ thì những sản phẩm như vậy không
phải là chất thải, do đó trong nghĩa rộng có thể được hiểu là tái sinh, nhưng số lượt
của chu trình tái sử dụng bị hạn chế. Ví dụ chai được sử dụng nhiều lần bị mất đi
tính năng sử dụng đặc trưng. Người ta tính trung bình một chai có thể tái sử dụng
được khoảng 20 lượt. Đôi khi cũng có thể tiếp tục sử dụng sản phẩm được nếu như
sản phẩm với kết cấu chất liệu, hình dáng ban đầu được sử dụng theo một chức
năng khác. Ví dụ, cốc đựng mỳ ăn liền làm cốc uống nước, bình nhựa làm thùng
chứa nước mưa, lốp ô tô làm ghế xích đu hay đài hoa.
Recycle (Tái chế): có thể ở dạng tái sinh hoặc tái tạo lại giá trị hoặc tiếp tục
tận dụng giá trị. Tái sinh là một khái niệm thời sự thông qua hình thức sử dụng lại
hay tận dụng lại giá trị của những sản phẩm đã qua sử dụng, khái niệm này liên
quan đến chất thải của sản xuất và tiêu dùng, những vật mà trước khi đưa vào quá
trình tái sinh đã được chủ của nó coi là những thứ muốn vứt bỏ đi. Tái sinh là sự
Dự án triển khai hoạt động nhằm gắn kết các bên liên quan: đơn vị thu gom -
người dân thải rác - nhà máy xử lý rác - nông dân sử dụng phân bón chế biến từ rác.
Các bên liên quan sẽ phối hợp, cùng nhau quản lý rác thải, tạo ra mối quan hệ thân
thiết, thiết lập được chu trình xử lý: Rác - sản phẩm - rác - sản phẩm. Ngoài các nhà
máy thu gom rác, chế biến rác, có hai thành phần tư nhân đóng góp quan trọng vào
thành công của dự án.
Dự án 3R được thực hịên với dự tham gia rất nhiệt tình và hiệu quả của Câu
lạc bộ 3R-HN. Các tình nguỵên viên đa số còn rất trẻ, là học sinh, SV, chia làm
nhiều nhóm kết hợp với các công nhân thu gom đi hướng dẫn người dân đổ rác
đúng nơi quy định. Thay vì chôn lấp hoặc đốt, rác sẽ được tận dụng trong một số
hoạt động có lợi ích kinh tế lớn như chăn nuôi lợn, sản xuất phân com-pốt
17
Mô hình thí điểm phân loại rác tại nguồn được thực hiện trên 4 phường thí
điểm:
• Phường Phan Chu Trinh thuộc Quận Hoàn Kiếm.
• Phường Nguyễn Du thuộc Quận Hai Bà Trưng.
• Phường Thành Công thuộc Quận Ba Đình.
• Phường Láng Hạ thuộc Quận Đống Đa.
18
Hình : Bản đồ địa bàn thí điểm PLRTN trong thành phố Hà Nội
(Nguồn: Báo cáo đầu kỳ của dự án 3R-HN)
Láng Hạ
Thành Công
Nguyễn Du
Phan Chu
Trinh
19
II. Các hoạt động chính của dự án 3R-Hà Nội giai đoạn 2006-2009
1. Hoạt động phân loại rác tại nguồn
Hình: Đường đi của rác thải Hà Nội
• Thay thế việc đảo trộn cấp khí bởi quạt gió hiện nay bằng xe xúc lật.
b) Cải tiến chất lượng Compost
• Thay thế hệ thống quạt hút cyclon hiện nay bằng hệ thống sàng rung mắt
lưới 5mm.
• Lắp đặt và điều chỉnh hệ thống tuyển gió.
• Phân tích để kiểm tra thành phần hóa học của Compost.
c) Cải thiện điều kiện làm việc.
d) Cung cấp thiết bị phân tích chất lượng Compost.
* Mở rộng nhu cầu và đảm bảo thị trường Compost
a) Khảo sát nhu cầu compost
b) Mở rộng thị trường
21
Hình : Quy trình sản xuất phân hữu cơ Compost từ rác hữu cơ
(Nguồn: Báo cáo đánh giá dự án 3R-HN)
III. Kết quả đạt được và những khó khăn trong quá trình thực hiện dự án
1.Kết quả
Do việc thực hiện còn chưa thực sự bền vững, vì vậy, để nhân rộng hiệu quả
của chương trình, các chuyên gia và người dân đều cho rằng, cần có chế tài để việc
thực hiện đi vào quy luật . Rác thải không được xử lý đúng cách là mối nguy lớn
cho môi trường sống mọi cá nhân, hộ gia đình, tổ chức xả thải có trách nhiệm kiểm
soát, phân loại rác thải, xả thải ngay tại nguồn. Nhưng trường hợp vi phạm hành
chính sẽ bị cảnh cáo và tịch thu phương tiện được sử dụng để vi phạm, phạt tiền và
buộc thu dọn hoặc chịu toàn bộ kinh phí thuê thu dọn để phục hồi lại hiện trạng ban
đầu. Các đơn vị kinh doanh ăn uống nếu vi phạm nhiều lần sẽ bị thu hồi đăng ký
kinh doanh.Tuy nhiên, theo kế họach, tháng 5 quy định này sẽ được áp dụng trên
thực tế là hơi khó Vấn đề đặt ra ở đây là cần tuyên truyền cho người dân thực hiện
tốt.
Việc thực hiện 3R gặp rất nhiều khó khăn. Với đặc điểm của phường là
nhiều chợ, nhà cao tầng, không ít người dân thiếu ý thức cứ vô tư quẳng rác từ trên
tầng cao xuống đường, sân chung, vận động mỗi người hàng ngày xách hai thùng
phân loại rác tại nguồn, trong khi đây là nơi thải ra lượng rác rất lớn.
Nếu hoạt động phân loại rác tại nguồn triển khai có hiệu quả thì lượng rác
hữu cơ đầu vào sản xuất phân bón sẽ tăng lên. Song ở nhiều vùng nông thôn, người
nông dân thường chỉ dùng phân hữu cơ tự ủ hoặc phân vô cơ. Cùng với sự phát
triển kinh tế, xã hội, chất thải rắn ngày càng gia tăng về số lượng, chủng loại và tính
độc hại, đã đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý chất thải rắn. Lượng
chất thải ngày càng nhiều thách thức đối với công tác quản lý chất thải rắn. Lượng
chất thải rắn ngày càng nhiều, xử lý và phân loại “không xuể”.
Bên cạnh đó, việc giảm thiểu chất thải trong các hoạt động sản xuất, dịch vụ,
tiêu dùng hầu như chưa được chú trọng. Trong khi đó việc giảm thiểu phát sinh chất
thải rắn là một trong những giải pháp quan trọng, hiệu quả nhất đối với quản lý chất
thải rắn.
2. Khó khăn
Kết quả dự án cho thấy, các khu vực thực hiện thí điểm dự án đã sạch đẹp
hơn, người dân tích cực tham gia cùng với chính quyền và đoàn thể các cấp để thực
hiện các hoạt động 3R và phân loại chất thải tại nguồn.
Sáng kiến 3R: Giảm thiểu - Tái sử dụng – Tái chế được thực hiện ở Hà Nội
từ năm 2007 đến 2009. Giai đoạn đầu của dự án tập trung vào việc phân loại rác tại
nguồn ở một vài quận trung tâm thành phố.
Dự án 3R-HN nhằm thiết lập một hệ thống 3R cân bằng và độc đáo tập trung
vào việc phân loại tại nguồn và tái chế chất thải hữu cơ theo Sáng kiến 3R, và gắn
kết với việc xây dựng một “xã hội tuần hòan vật chất hợp lý” ở thành phố Hà Nội.
Đó là giảm thiểu đồ đóng gói và chứa đựng; sản xuất xanh và tiêu thụ xanh; Tái sự
dụng những vật dụng còn sử dụng lại được; Phân loại rác tại nguồn và tái chế
Theo báo cáo, tỉ lệ bình quân lượng rác thải sinh hoạt từ các hộ gia đình ở
các khu vực thực hiện dự án giảm 30-40% lượng rác phải chôn lấp, giảm ô nhiễm,
tạo nguồn thu từ phân vi sinh hữu cơ. Trong hơn 2 năm thực hiện, dự án 3R đã thu
23
được khoảng 25.000 tấn rác hữu cơ để chế biến 10.000 tấn phân hữu cơ … Hiệu quả
đã chứng minh Dự án 3R đang triển khai trên 4 phường tại Hà Nội và bước đầu các