ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐINH ĐỨC MINH
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH NUÔI
TRỒNG THỦY SẢN MẶN, LỢ CỦA HUYỆN VÂN ĐỒN,
TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2003 – 2010 Chuyên ngành : Quản lý đất đai
M· sè : 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng
Thái Nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô
giáo của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên trong suốt quá trình học tập cũng
như trong quá trình nghiên cứu đề tài. Đặc biệt tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận
tình của các thầy: PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng, ThS. Nguyễn Văn Hiểu - Khoa Tài
nguyên & Môi trường – Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộ Ban quản lý KKT Vân
Đồn, UBND huyện Vân Đồn đã tạo điều kiện tận tình giúp tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu tại địa phương. Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn đến UBND xã Đông
Xá nơi tôi công tác, các học viên lớp cao học QLĐĐ Khóa 18, bạn bè và gia đình đã
quan tâm động viên tôi trong thời gian tôi thực hiện luận văn này.
Do thời gian có hạn, năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý
thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 11 năm 2012
Tác giả
Đinh Đức Minh
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 24
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu 24
2.1.4. Thời gian nghiên cứu 24
2.2. Nội dung nghiên cứu 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
2.3.2. Phương pháp thống kê và phân tích số liệu 25
2.3.3. Đánh giá hiệu quả của việc nuôi trồng thủy sản 25
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Vân Đồn 26
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường 26
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến
NTTS của khu kinh tế Vân Đồn 46
3.2. Đánh giá hoạt động nuôi trồng thủy sản của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng
Ninh Năm 2010 47
3.2.1. Quản lý nuôi trồng thủy sản 47
3.2.2. Hình thức nuôi 48
3.2.3. Đối tượng nuôi 49
3.2.4. Hiện trạng các khu vực giàu nguồn lợi hải sản tự nhiên 49
3.2.5. Dịch vụ cho nuôi trồng thuỷ sản 49
3.3. Đánh giá kết quả thực hiện qui hoạch nuôi trồng thủy sản giai
đoạn 2003 – 2010 51
3.3.1. Xã Bản Sen 53 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
As
BMP
BOD
Cd
COC
COD
DO
DNNN
ĐBSCL
GAP
GHCP
GPMB
KKT
KTQP-AN
NK
NTTS
Pb
QCVN
QH
UBND
XDCB
Doanh nghiệp nhà nước
Đồng bằng sông cửu long
Thực hành canh tác tốt
Giới hạn cho phép
Giải phóng mặt bằng
Khu kinh tế
Kiến thức Quốc phòng - An ninh
Nhập khẩu
Nuôi trồng thuỷ sản
Chì
Quy chuẩn Việt Nam
Quy hoạch
Uỷ ban nhân dân
Xây dựng cơ bản
Xuất Khẩu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Vân Đồn năm 2010 31
Bảng 3.2: Tổng hợp diện tích và sản lượng NTTS toàn huyện Vân Đồn năm
2010 52
Bảng 3.3: So sánh diện tích quy hoạch giai đoạn 2003 - 2010 và diện tích
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Biểu đồ so sánh diện tích quy hoạch và diện tích thực hiện 51
Hình 3.2: Những khó khăn chính trong hoạt động sản xuất NTTS 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Ninh là một tỉnh biên giới - hải đảo phía Đông Bắc Việt Nam được
thiên nhiên ưu đãi với trên 250 km bờ biển, diện tích vùng nội thuỷ rộng 6000 km
2
và nhiều đảo lớn nhỏ che chắn phía ngoài. Biển Quảng Ninh có các yếu tố môi
trường đặc trưng, biển lặng, nước có độ muối cao, độ trong lớn, môi trường sạch
thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của hầu hết các loài sinh vật biển, có thể
nuôi được quanh năm với nhiều loại hải sản quý hiếm. Bên cạnh đó, Quảng Ninh
còn có cửa khẩu Quốc tế, có cảng biển và nhiều đầu mối giao thông thuỷ bộ nên rất
thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm nhất là hải sản tươi sống tạo cho Quảng Ninh
trở thành tỉnh có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thuỷ sản không chỉ trên biển
mà còn ở các ao hồ, ven sông và gần các vùng cửa biển.
Khu kinh tế Vân Đồn là một trong những khu vực có tiềm năng nuôi trồng
thuỷ sản lớn của Quảng Ninh. Với hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ tạo ra hàng chục
nghìn hecta mặt nước ở các vụng, vịnh, tùng, áng kín sóng, có thể phát triển nuôi
biển bằng hình thức lồng bè, rào chắn và giàn treo, diện tích bãi triều lớn có thể
tới phải xuất phát từ việc xác định và phân tích các nguyên nhân cản trở thực hiện qui
hoạch nuôi trồng thủy sản mặn, lợ của huyện giai đoạn 2003-2010.
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu, bổ sung lý thuyết và cơ sở khoa học trong vấn đề đánh giá quy
hoạch sử dụng đất, đặc biệt là đánh giá quy hoạch diện tích NTTS, một lĩnh vực mới
trong quản lý đất đai nói chung.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá được việc thực hiện quy hoạch NTTS ở huyện Văn Đồn, tìm ra được
những khó khăn, thuận lợi trong tiến hành thực hiện NTTS và đưa ra giải pháp nhằm
làm định hướng cho quy hoạch NTTS ở Vân Đồn trong gia đoạn tiếp theo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm của nuôi trồng thủy sản
1.1.1. Khái niệm nuôi trồng thủy sản
Ngành thuỷ sản là một bộ phận nhỏ của ngành nông nghiệp hiểu theo nghĩa
rộng bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp. Ngành thuỷ sản được coi là ngành sản xuất
dựa trên những khả năng tiềm tàng về sinh vật trong môi trường nước để sản xuất ra
những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu không ngừng tăng lên của con người. Hoạt
động thuỷ sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế
Ngành thuỷ sản có một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương
thực quốc gia. Bởi vì, ngành thuỷ sản cũng là một ngành sản xuất vật chất mà sản
phẩm của nó là các sinh vật sống trong môi trường nước, đó là một trong những loại
thực phẩm làm thức ăn phục vụ cho đời sống nhân dân. Do đó phát triển ngành thuỷ
sản không những đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phục vụ cho nhu cầu
xuất khẩu thu được ngoại tệ cho đất nước.
Ngành thuỷ sản của nước ta đi lên từ nghề cá nhân dân, với những hình thức
sơ khai buổi đầu là đánh bắt thuỷ sản nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu của
chính bản thân ngư dân. Và ngày nay khi đất nước ta đã hoà mình vào nền kinh tế
quốc tế thì ngành thuỷ sản cũng có nhiều cơ hội mới để phát triển, đặc biệt là lĩnh
vực xuất khẩu thuỷ sản. Ngành thuỷ sản phát triển thúc đẩy hoạt động thương mại
quốc tế của đất nước. Bởi vì xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường các nước trên thế
giới, không những giúp ta thu được ngoại tệ cho đất nước mà hơn thế nữa nó sẽ mở
ra một cơ hội cho đất nước hoà mình cùng nhịp điệu sôi động của thế giới, mở ra
mối quan hệ hợp tác, giao lưu giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Có thể
thấy rằng sự mở rộng quan hệ thương mại quốc tế của ngành thuỷ sản đã góp phần
mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm để nền kinh tế
Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực và trên thế giới.
1.1.3. Đặc điểm của ngành thuỷ sản
Ngành thuỷ sản là một bộ phận của ngành nông nghiệp nên vừa có những đặc
điểm chung của ngành nông nghiệp lại vừa mang những đặc điểm riêng biệt.
1.1.3.1 Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất độc lập.
Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất độc lập bởi những lý do sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
+ Đối tượng sản xuất của ngành thuỷ sản là những sinh vật sống dưới nước.
Nó khác hẳn với đối tượng sản xuất của ngành nông nghiệp là những cây, những
con mà con người có thể chủ động trong việc nắm bắt được số lượng. Chính vì vậy
mà đã gây khó khăn trong việc xác định trữ lượng thuỷ sản có trong một ao hồ hay
khai thác có tính chất mau hỏng, chất lượng và giá trị dinh dưỡng của sản phẩm sau
khi đưa ra khỏi môi trường nước nhanh chóng bị giảm sút và biến đổi. Do vậy để
tránh gây lãng phí trong sản xuất thì cần có một sự kết hợp chặt chẽ, liên hoàn từ
khâu khai thác đến nuôi trồng, chế biến, kinh doanh tiêu thụ sản phẩm và đầu tư tái
tạo nguồn lợi [7].
1.1.4 Vai trò, đặc điểm của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
1.1.4.1 Khái niệm nuôi trồng thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản là một bộ phận của ngành thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản
ra đời cũng bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống khi mà sản lượng khai thác thuỷ
sản ngày càng có nguy cơ cạn kiệt. Nước ta có một tiềm năng to lớn để phát triển
hoạt động nuôi trồng thuỷ sản.
Nuôi trồng thuỷ sản là một bộ phận sản xuất có tính nông nghiệp nhằm duy trì,
bổ sung, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản nhằm mục
đích cung cấp sản phẩm cho tiêu dùng của dân cư và cung cấp nguyên liệu cho hoạt
đông chế biến thuỷ sản xuất khẩu [7].
1.1.4.2 Vai trò của nuôi trồng thuỷ sản
Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội:
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho
nhu cầu của con người đó là lương thực, thực phẩm, đó là loại sản phẩm có vai trò
đầu tiên quyết định mọi hoạt động của con người. Nếu không có sản phẩm này thì
con người không thể tồn tại và phát triển được. Nuôi trồng thuỷ sản cũng là ngành
sản xuất vật chất và cung cấp sản phẩm cho con người như cá, tôm, cua,
ghẹ…những sản phẩm này cung cấp chất dinh dưỡng cho con người giúp con người
có thể tạo ra các hoạt động trong xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của
con người ngày càng nâng cao, thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao,
người ta hướng đến những loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, bổ dưỡng và
thuỷ sản là một trong những sản phẩm như thế [7].
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Nuôi trồng thuỷ sản đóng góp một phần quan
trọng trong tăng tưởng chung của ngành thuỷ sản và toàn ngành kinh tế nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
được bình đẳng như nhau. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển cũng góp phần giảm bớt
sự chênh lệch giữa nông thôn với thành thị [7].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Ngày nay khi nền kinh tế đã có sự phát triển trông thấy thì mức sống của của
người dân cũng ngày càng được nâng cao hơn. Điều đó được thể hiện ở chỗ người
ta chuyển từ nhu cầu hàng hoá cấp thấp sang hành hoá cấp cao như thịt, trứng, sữa,
thuỷ sản… Và các sản phẩm thuỷ sản cũng đáp ứng một cách đa dạng nhu cầu của
nhân dân từ những sản phẩm bình dân như cá, tôm đến những mặt hàng sa sỉ như ghẹ,
cua biển, tôm hùm… Nó sẽ làm thoả mãn nhu cầu đa dạng trong tầng lớp dân cư [7].
- Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thuỷ sản: Các sản phẩm thuỷ
sản ngoài phục vụ nhu cầu tiêu thụ trực tiếp của dân cư, thì một phần lớn được cung
cấp cho các nhà máy chế biến làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Có một
đặc điểm dễ dàng nhận thấy là thông qua hoạt động chế biến thì giá trị của các sản
phẩm thuỷ sản được nâng tầm giá trị. Việc chế biến các sản phẩm thuỷ sản dùng
công nghệ bao gói chủ yếu nhằm mục đích xuất khẩu sang thị trường thế giới. Để
các sản phẩm này thực sự làm hài lòng người tiêu dùng ngoại quốc thì chất lượng
sản phẩm phải được đặt lên hàng đầu. Do đó, vấn đề đặt ra là phải đảm bảo chất
lượng thuỷ sản từ khâu nuôi trồng, chúng ta chỉ có đầu ra khi có sản phẩm sạch [7].
1.1.4.3 Đặc điểm của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
- Thuỷ vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế được: Đối tượng của nuôi
trồng thuỷ sản là các sinh vật gắn với môi trường nước, nếu tách chúng ra khỏi môi
trường này thì chúng không thể tồn tại được. Từ đặc điểm này cho ta thấy được
nuôi trồng thuỷ sản là một ngành tương đối phức tạp so với các ngành khác. Cứ ở
đâu có nước thì ở đó có khả năng nuôi trồng thuỷ sản. Do vậy nuôi trồng thuỷ sản
có khả năng phát triển ở mọi nơi, mọi vùng địa lý. Tuỳ thuộc vào tính chất của từng
loại thuỷ vực mà có đối tượng nuôi trồng phù hợp như nuôi thuỷ sản nước ngọt,
mặn, lợ [7].
Thuỷ vực còn là tư liệu sản xuất đặc biệt bởi vì nó khác với các tư liệu sản xuất
phát triển nuôi trồng hợp lý đem lại hiệu quả cao [7].
1.2. Cơ sở pháp lý của quy hoạch và nuôi trồng thủy sản
1.2.1 Các văn bản liên quan đến chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản ở
Trung ương
- Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 của Chính Phủ về việc “ Quy
định chi tiết thi hành luật khuyến khích đầu tư trong nước”.
- Quyết định số 67/1999/QĐ –TTg ngày 30/02/1999 của Thủ Tướng Chính
Phủ về một số chính sách tài chính, tín dụng liên quan đến ngành thủy sản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
- Quyết định số: 224//1999/QĐ –TTg ngày 88/12/1999 về phê duyệt chương
trình phát triển nuôi trồng thủy sản thời kỳ 1999 -2010.
- Nghị quyết số: 03/2000/NĐ-CP ngày 02/02/2000 của Bộ Thủy Sản và Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “ Về các biện pháp đầu tư phát triển nuôi
trồng thủy san theo quyết định số 224//1999/QĐ –TTg ngày 88/12/1999 của Thủ
Tướng Chính Phủ”.
- Thông báo liên ngành số: 1920/TS-VP ngày 29/06/2000 của Bộ Thủy Sản và
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “ Về các biện pháp đầu tư phát
triển nuôi trồng thủy sản theo quyết định số 224//1999/QĐ –TTg ngày 88/12/1999
của Thủ Tướng Chính Phủ”.
- Quyết định số 103/2000/QĐ –TTg ngày 25/08/2000 của Thủ Tướng Chính
Phủ “ Về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản”.
- Công Văn số: 943/CV- NHNN1 ngày 25/09/2000 của Ngân hàng nhà nước
“Hướng dẫn thực hiện Quyết định số: 103/2000/QĐ –TTg ngày 25/08/2000 của Thủ
Tướng Chính Phủ”.
- Thông tư số: 04/2000/TT –BTS ngày 03/11/2000 của Bộ Thủy Sản “ Hướng
dẫn thực hiện một số điều trong Quyết định số: 103/2000/QĐ –TTg ngày
25/08/2000 của Thủ Tướng Chính Phủ”.
- Nghị định số: 35/2002/NĐ-CP ngày 29/03/2002 của Chính Phủ về việc
- Căn cứ văn bản số 1709/UBND – NLN2 ngày 06/05/2010 “ Về việc lập quy
hoạch nuôi trổng thủy sản Khu kinh tế Vân Đồn”.
- Căn cứ Quyết định số 2898/QĐ- UBND ngày 24/09/2010 của UBND tỉnh
Quảng Ninh “ Về việc phê duyệt đề cương, nhiệm vụ lập quy hoạch phát triển nuôi
trồng thủy sản Khu kinh tế Vân Đồn giai đoạn 2010 - 2020”.
1.3. Nuôi trồng thủy sản một số nƣớc trên thế giới
1.3.1. Một số thành tựu của nuôi trồng thủy sản
Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc
(FAO), năm 2008, cả thế giới sản xuất 142 triệu tấn thủy sản (không kể sản
lượng rong tảo), chỉ tăng gần 6% so với năm 2004. Thủy sản dùng làm thực
phẩm chiếm 115 triệu tấn, tương ứng với mức tiêu thụ 17kg/người/năm, nhưng
nếu loại trừ sản lượng của Trung Quốc (do thống kê nhiều năm trước sai), tiêu
thụ thủy sản bình quân đầu người ở phần còn lại của thế giới suốt giai đoạn
2004-2008 và ước năm 2009 chỉ tăng rất ít, từ 13,4 lên 13,7kg (quy ra trọng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
lượng sống). Trung bình, thủy sản đáp ứng khoảng 15,7% nhu cầu prôtêin có
nguồn gốc động vật và 6,1% tổng nhu cầu prôtêin cho con người. Các nước đang
phát triển, kể cả Trung Quốc chiếm 80% tổng sản lượng và 50% giá trị XK thủy
sản toàn cầu (50,8 tỷ USD) năm 2008 [17].
Sản lượng thủy sản khai thác của thế giới năm 2008 đạt 90 triệu tấn, trị giá 93,9 tỷ
USD, bao gồm 80 triệu tấn từ khai thác biển và 10 triệu tấn khai thác nội địa.
Như vậy, suốt thập kỷ qua sản lượng khai thác hầu như không thay đổi,
ngoại trừ những thăng giáng mạnh sản lượng các loài cá cơm do ảnh hưởng
của hiện tượng El Nino.
Trong khi đó, nuôi trồng thủy sản (NTTS) lại là lĩnh vực tăng trưởng
nhanh nhất trong mọi ngành sản xuất thực phẩm nguồn gốc động vật và dần
trở thành nguồn thủy sản chính sánh vai với ngành khai thác, thậm chí giá trị
còn cao hơn. Năm 2008, sản lượng thủy sản nuôi (TSN) toàn cầu (không kể
trung bình mỗi năm chỉ đạt 2,4 tấn/lao động, so với 24 tấn ở châu Âu và 18 tấn
ở Bắc Mỹ. Điều này phản ánh trình độ công nghiệp hóa nghề cá ở các khu
vực rất khác nhau, đồng thời cũng cho thấy sự phổ biến của nghề cá nhỏ ở châu
Á và châu Phi. Sự khác biệt trong năng suất lao động càng rõ rệt hơn trong
NTTS. Năng suất của một người nuôi cá Na Uy là 172 tấn/năm, trong khi ở Chi
Lê là 72 tấn, Trung Quốc 6 tấn, còn Ấn Độ chỉ có 2 tấn [17].
Số lao động trong NTTS hiện mới chiếm khoảng ¼ tổng số lao động nghề cá,
nhưng đang tăng nhanh, trong khi lao động khai thác giảm dần, nhất là ở các
nước phát triển, có tính nhạy cảm cao với các biến động kinh tế ở châu Âu, Bắc Mỹ
và Nhật Bản [17].
1.3.2. Chính sách phát triển nuôi thủy sản ở Đông Nam Á
Nguồn cung cấp prôtêin gốc động vật ở các nước Đông Nam Á thấp hơn mức
trung bình của thế giới, vì vậy thủy sản càng quan trọng đối với an ninh lương
thực, nhưng trước đây chủ yếu dựa vào thủy sản khai thác tự nhiên. Nghề NTTS
mặc dù đã có từ lâu, nhưng sản lượng TSN của khu vực này trước năm 1975
chỉ lên xuống dưới 1 triệu tấn. Chỉ từ 1975 đến nay nghề NTTS Đông Nam Á
mới thực sự tăng tốc, đến mãi năm 1987 sản lượng TSN của khu vực mới vượt 1 triệu
tấn. Từ sau đó, hầu như sau mỗi thập kỷ sản lượng tăng gấp đôi và vượt qua 5 triệu
tấn năm 2005. Đông Nam Á trở thành một trong những nguồn cung TSN lớn trên
thế giới, chiếm 10% khối lượng và 12% giá trị TSN toàn cầu [17].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Bên cạnh việc làm và nguồn thực phẩm, các nước nghèo đang phát triển ở
Đông Nam Á còn xác định NTTS là nguồn thu ngoại tệ từ XK có tiềm năng rất
quan trọng để đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất
nước. Năm 2005, tổng giá trị XK sản phẩm TSN của 7 nước Campuchia,
Inđônêxia, Malaixia, Mianma, Philippin, Thái Lan và Việt Nam đã lên tới 10 tỷ
USD. Song, sự phát triển, mức độ đóng góp của NTTS vào nền kinh tế
không giống nhau ở các nước trong khu vực [17].
Cămpuchia. Philippin thúc đẩy cải tạo các dòng vật nuôi bằng cách huy động
sự tham gia của các trường đại học [17].
Một trong những chính sách quan trọng nhất để hạ giá thức ăn – chi phí
lớn nhất trong NTTS – là giảm thuế NK. Điều đó giúp các nhà sản xuất trong nước
đạt được hiệu quả cao hơn. Việt Nam đã kêu gọi đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực
sản xuất thức ăn, nhờ đó giảm giá thành và nâng cao chất lượng thức ăn sản xuất
trong nước, lôi cuốn nông dân tiêu thụ thức ăn công nghiệp, từ đó thu hút được
các nguồn đầu tư khác vào lĩnh vực này [17].
Để giảm ngoại tệ NK bột cá, Inđônêxia và Malaixia thúc đẩy nghiên cứu sử
dụng nguyên liệu thay thế tại chỗ trong sản xuất thức ăn nuôi thủy sản. Nhiều
nước đã đưa ra tiêu chuẩn quản quản lý chất lượng thức ăn, song cũng giống như
với con giống, việc kiểm soát tuân thủ các tiêu chuẩn thức ăn thường không triệt
để do thiếu tài chính và nhân sự [17].
Nhiều nước áp dụng chính sách khuyến khích đầu tư vào NTTS, ví dụ
Inđônêxia và Philippin cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ sản xuất quy mô nhỏ. Sau
đó, Philippin đã bỏ chính sách này vì nó làm mất ưu thế của các cơ sở sản
xuất quy mô lớn. Malaixia thực hiện thành công chính sách tín dụng không cần
thế chấp đối với các hộ sản xuất nhỏ; trong khi đó chính sách tín dụng của Mianma
đối với các hộ nuôi cá chép thất bại do đòi hỏi có thế chấp và định mức cho vay quá
ít [17].
Miễn, giảm thuế cũng là chính sách thành công để thu hút đầu tư nước
ngoài vào lĩnh vực NTTS. Nhiều nước áp dụng giảm các loại thuế như thu nhập,
sử dụng đất, doanh thu và NK cho các nhà đầu tư. Malaixia áp dụng những
chính sách như vậy không chỉ cho NTTS mà còn cho một số ngành sản xuất thực
phẩm khác. Mianma và Việt Nam lại áp dụng để khuyến khích phát triển một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
số loài nhất định hoặc với các địa phương khác nhau trong nước. Nói chung,
đầu tư nước ngoài trong NTTS ở Đông Nam Á còn thấp, riêng Việt Nam đã