Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TRẦN MINH TUẤT
SỰ HIỆN THỰC HÓA
KẾT TRỊ BẮT BUỘC CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60. 22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Lộc Thái nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sỹ
sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả Trần Minh Tuất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
DANH MỤC VIẾT TẮT N1: danh từ chủ thể.
N2, N3: Danh từ đối thể.
V: Động từ.
V1: Động từ hạt nhân.
V2: Động từ giữ vai trò diễn tố.
A: Tính từ.
1.2.3. Khái niệm kết trị và các kiểu kết trị 15
1.2.3.1. Khái niệm kết trị 15
1.2.3.2. Các kiểu kết trị 16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
1.3. Khái niệm hiện thực hóa kết trị và các nhân tố chi phối sự hiện thực hoá
kết trị động từ 20
1.3.1. Khái niệm hiện thực hóa kết trị của động từ 20
1.3.2. Các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa kết trị của động từ 21
1.4. Các kiểu hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ 26
1.4.1. Nhận xét chung 26
1.4.2. Hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ 27
1.4.3. Hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ 27
1.5 Tiểu kết 28
Chƣơng 2: HIỆN THỰC HÓA ĐẦY ĐỦ KẾT TRỊ BẮT BUỘC
CỦA ĐỘNG TỪ 30
2.1. Nhận xét chung 30
2.2. Các kiểu hiện thực hoá đầy đủ kết trị bắt buộc 31
2.2.1. Hiện thực hoá đầy đủ với mô hình cơ bản 31
2.2.2. Hiện thực hoá đầy đủ với mô hình không cơ bản 46
2.3. Tiểu kết 68
Chƣơng 3: HIỆN THỰC HÓA KHÔNG ĐẦY ĐỦ KẾT TRỊ BẮT BUỘC
CỦA ĐỘNG TỪ 70
3.1. Nhận xét chung 70
3.2. Tỉnh lƣợc diễn tố chủ thể 73
3.2.1. Kiểu tỉnh lược bị qui định bởi văn cảnh 74
3.2.2. Kiểu tỉnh lược bị qui định bởi hoàn cảnh, tình huống nói năng 83
3.2.3. Kiểu tỉnh lược diễn tố chủ thể do nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nghiên cứu về hệ thống từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đều khẳng
định vị trí và vai trò hết sức quan trọng của động từ. Đây là từ loại có số lượng lớn
và có đặc tính hết sức phức tạp. Về vai trò ngữ pháp, động từ là trung tâm của
tuyệt đại đa số câu tiếng Việt. Do có vị trí quan trọng trong hệ thống từ loại mà
động từ luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
1.2. Việc nghiên cứu động từ được tiến hành ở nhiều góc độ với những công
trình khác nhau như: Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản, Cụm động
từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong, Vị từ hành động và các tham tố của nó của
Nguyễn Thị Quy, Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc…Từ những
công trình đó, ta thấy diện mạo của động từ ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu động từ từ góc độ kết trị còn ít được chú ý đến và cho đến
nay vẫn là một vấn đề tương đối mới mẻ.
1.3. Lí thuyết kết trị là một trong những lí thuyết quan trọng, một thành tựu lớn
của ngôn ngữ học thế kỉ XX. Sau khi ra đời, lí thuyết này đã được phát triển, ứng
dụng rộng rãi vào việc nghiên cứu ngữ pháp, ngữ nghĩa của các ngôn ngữ, trong đó
có các ngôn ngữ đơn lập và ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các
nhà nghiên cứu. Ở Việt Nam, lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu trong công trình
chuyên khảo Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc. Kết quả nghiên
cứu của công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới mẻ và rất thiết thực
với ngữ pháp tiếng Việt. Tuy nhiên, trong công trình này, vấn đề hiện thực hóa kết
trị bắt buộc của động từ tiếng Việt mới chỉ được tác giả đề cập một cách khái quát.
1.4. Việc nghiên cứu sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt,
theo chúng tôi, là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng cả về lí luận lẫn
thực tiễn.
Về lí luận, việc nghiên cứu sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ góp
phần làm sáng tỏ, làm phong phú thêm lý thuyết kết trị về động từ, trong đó có vấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
- Phân tích các kiểu hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ
tiếng Việt.
3. Lịch sử vấn đề
Có thể nói động từ là từ loại có số lượng lớn và có đặc tính hết sức phức tạp.
Chính vì vậy, khi nghiên cứu từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều
thời gian và công sức để nghiên cứu về động từ và việc nghiên cứu động từ theo
quan điểm kết trị là hướng đi mới và có nhiều triển vọng.
Trên thế giới, L.Tesniène, nhà ngôn ngữ học Pháp, được coi là người sáng lập ra
lý thuyết kết trị với công trình“Các yếu tố của cú pháp cấu trúc”.
Trong ngôn ngữ học Xô Viết (Liên Xô cũ), lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu
trong các công trình của S.D.Kasneson, S.M.Kibardina, M.D.Stepanova…Trên cứ
liệu của các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Hán, tiếng Việt, thuộc tính kết trị của
động từ và sự hiện thực hóa kết trị của động từ trong câu đã được xem xét trong
các công trình của N.I.Tjapkina.
Ở Việt Nam, từ cuối thế kỷ XIX đến đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX,
việc nghiên cứu về động từ tiếng Việt chưa đạt được những kết quả lớn. Trong
suốt thời kỳ này, chưa có công trình chuyên khảo về động từ. Chỉ từ giữa những
năm sáu mươi cho đến nay, việc nghiên cứu về động từ mới thực sự đi vào chiều
sâu. Trong giai đoạn này, bên cạnh những công trình chung về ngữ pháp trong đó
thường đề cập đến động từ, đã xuất hiện một số chuyên luận đáng chú ý như:
- Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong (1973).
- Các động từ chỉ hướng trong tiếng Việt của Nguyễn Lai (1976).
- Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản (1977).
- Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ của Vũ Thế Thạch (1984).
Trong các công trình kể trên đây, một số nghiên cứu tương đối toàn diện các
đặc điểm ngữ pháp của động từ. Thuộc số này là các công trình của Nguyễn Phú
khi miêu tả đoản ngữ có động từ làm trung tâm (động ngữ), Nguyễn Tài Cẩn đã
xác định hai kiểu thành tố phụ sau của động từ là bổ tố (thành tố phụ riêng hay
thành tố phụ bắt buộc) và trạng tố (thành tố phụ chung hay thành tố phụ tự do).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Nhưng tác giả chưa có điều kiện đi sâu phân tích miêu tả tỉ mỉ các điều kiện chi
phối sự xuất hiện của các thành tố phụ này.
Trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban,
Hoàng Trọng Phiến và một số tác giả khác, đặc điểm ngữ pháp của động từ cũng
đã được đề cập ở các mức độ khác nhau.
Tóm lại, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về động từ theo các bình
diện lý thuyết khác nhau. Trong đó đáng chú ý là hướng nghiên cứu động từ theo
lý thuyết kết trị. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về sự hiện thực hóa kết trị của động từ
tiếng Việt còn ít được chú ý. Trong chuyên khảo Kết trị của động từ tiếng Việt
(1995), sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ có được Nguyễn Văn Lộc đề
cập đến nhưng chỉ ở mức độ khái quát.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của
động từ tiếng Việt.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các kiểu hiện thực hóa đầy đủ và không
đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt trong tiếng Việt hiện đại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu xác định trên đây, luận văn này chủ yếu
sử dụng phương pháp miêu tả.
Phương pháp miêu tả được sử dụng để phân tích, miêu tả sự hiện thực hóa kết
trị bắt buộc của động từ tiếng Việt qua các tác phẩm văn học, báo chí và một số
văn bản của các tác giả có uy tín. Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng những
phương pháp khác: so sánh, đối chiếu,… Những phương pháp này dùng kết hợp để
Việt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Động từ
1.1.1. Khái niệm
Cũng như trong các ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt, động từ là một trong hai
từ loại cơ bản. Với một số lượng lớn trong từ vựng, động từ có vai trò ngữ pháp
hết sức quan trọng trong việc tổ chức, cấu tạo câu của tiếng Việt. Phạm vi hoạt
động ngữ pháp của động từ khá rộng, đa dạng và cũng rất phức tạp. Chính vì vậy,
khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đều dành nhiều công sức
của mình cho việc nghiên cứu động từ. Vai trò của động từ đã được Nguyễn Kim
Thản khẳng định: “Trong câu, động từ gần như là trung tâm của các mối quan hệ
của các từ, nó không những có quan hệ tường thuật với từ chỉ chủ thể, mà còn có
quan hệ chính – phụ với những từ chỉ đối tượng, chỉ hoàn cảnh, trạng thái… đặt
sau nó”.[41; 97].
Theo Từ điển tiếng Việt, động từ là “từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái
hay quá trình, thường làm vị ngữ trong câu”. [51; 346].
Trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên có nêu khái quát: “Động từ là
những từ chỉ quá trình, các dạng vận động của sự vật, thực thể có sự vật tính”. [7;
70].
Tác giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam văn phạm có nêu ra định nghĩa
về động từ như sau: “Động từ là tiếng biểu diễn cái dụng của chủ từ ”.[41; 14].
Trong cuốn Ngữ pháp Việt Nam, Nguyễn Lân cho rằng: “Động từ là thứ tự
dùng để biểu diễn một tác động, một hành vi, một ý nghĩ hoặc một cảm xúc, một
trạng thái hoặc sự phát triển, sự biến hóa của một trạng thái”. (Dẫn theo [16;19]).
Theo Diệp Quang Ban: “Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá
trình – Ý nghĩa thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể. Đó là ý nghĩa
- Động từ có khả năng kết hợp về phía sau với các phụ từ khác để tạo thành
nhóm động từ. Đó là:
+ Các thành tố phụ chỉ phương hướng: ra, vào, lên, xuống…
Thí dụ:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Đi xuống, trèo lên, leo ra…
+ Các thành tố phụ chỉ kết quả: xong, rồi……
Thí dụ:
Làm xong, ăn rồi
*. Động từ kết hợp với các thực từ để phản ánh các quan hệ trong nội dung vận
động của quá trình.
1.1.2.3. Dựa vào chức năng cú pháp
Động từ có khă năng giữ nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau, nhưng chức
năng quan trọng nhất của động từ là chức năng làm vị ngữ. Theo Nguyễn Kim
Thản, 88% vị ngữ trong câu do động từ đảm nhiệm. Ngoài ra, động từ còn tham
gia đảm nhiệm nhiều chức năng khác trong câu như: bổ ngữ, chủ ngữ, định ngữ,
trạng ngữ. Cụ thể là:
- Động từ có khả năng làm bổ ngữ
Thí dụ:
Tôi nhờ nó mua sách.
Tôi muốn nghỉ ngơi.
- Động từ có khả năng làm chủ ngữ
Thí dụ:
Lao động là vinh quang.
Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Khóc là nhục. Rên, hèn. Van, yếu đuối. (Tố Hữu).
- Động từ có khả năng làm định ngữ
*. Động từ ngữ pháp là những động từ không có ý nghĩa cụ thể, chân thực, Đó
là những động từ như: trở nên, trở thành, bị, được….Đây là nhóm động từ đã bị hư
hóa, rất trống nghĩa từ vựng, chúng chỉ các hoạt động trừu tượng, khái quát. Do đó,
các động từ này hầu như không có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (khả năng
độc lập trả lời câu hỏi). Động từ ngữ pháp được chia thành động từ tình thái (có
thể, nên, cần, toan, định ) và động từ quan hệ (là, khiến, bị, được, trở nên…).
*. Các động từ - thực từ được chia tiếp thành động từ chủ động (chỉ hoạt động
có chủ ý, xuất phát từ chủ thể và chủ thể có thể điều khiển được theo ý muốn của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
mình. Thí dụ: đi, ăn, chạy, đứng, ngồi…) và động từ không chủ động (chỉ hoạt
động không xuất phát từ chủ thể và chủ thể không điều khiển được họat động theo
ý muốn của mình. Như: tan, cháy, đổ, vỡ…). Tiếp tục phân chia các động từ chủ
động, ta có được hai nhóm động từ: động từ tác động (biểu thị những hoạt động mà
kết quả những hoạt động đó làm cho đối tượng bị thay đổi về phương diện nào đó
(nảy sinh hoặc tiêu biến): ăn, đập, phá…và động từ không tác động, như: chạy,
bơi, đi, nhảy…Trong động từ tác động, có hai diện đối lập: động từ tạo tác (chỉ
những hoạt động tạo ra đối tượng, như: đào, nặn, đắp, xây, vẽ…) và động từ
chuyển tác (chỉ những hoạt động làm chuyển biến đối tượng về mặt nào đó: đánh,
đốt, phá, chặt…). Còn động từ không tác động cũng được chia tiếp thành: động từ
chỉ hoạt động chuyển động (đi, chạy, nhảy…) và động từ chỉ hoạt động không
chuyển động (ngủ, nghĩ….). Như vậy, căn cứ vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp,
ta có thể chia động từ thành nhiều tiểu loại với những dấu hiệu hình thức đặc trưng
cho từng tiểu loại.
Thứ hai: Phân loại động từ dựa vào đặc điểm chi phối
Sự chi phối của động từ, theo cách hiểu chung, (áp dụng cho cả ngôn ngữ biến
hình và ngôn ngữ không biến hình) là khả năng của động từ đòi hỏi sự có mặt và
qui định đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các bổ ngữ.
của người nghiên cứu, giảng dạy, học tập ngữ pháp. Phù hợp với mục đích nghiên
cứu của mình, trong luận văn này, chúng tôi tạm dựa vào cách phân loại thứ ba,
nhưng vẫn ủng hộ và sử dụng kết quả của cách phân loại thứ nhất và thứ hai.
1.2. Lý thuyết kết trị và kết trị của động từ tiếng Việt
1.2.1. Thuật ngữ kết trị
Thuật ngữ kết trị (hóa trị, ngữ trị, tiếng Pháp: valence, tiếng Nga: valentnost)
vốn được dùng trong hóa học để chỉ thuộc tính kết hợp của các nguyên tử với một
số lượng xác định các nguyên tử khác. Thuật ngữ này mới chỉ được dùng rộng rãi
trong ngôn ngữ học từ cuối những năm bốn mươi của thế kỉ XX để chỉ khả năng
kết hợp của các lớp từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ nói chung.
1.2.2. Khái niệm nút, nút động từ, diễn tố (actant), chu tố (circonstant)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Theo quan niệm của L.Tesniène, mỗi yếu tố chính mà ở nó có một hay một vài
yếu tố phụ lập thành cái ông gọi là nút (tiếng Pháp: noeut, tiếng Nga: uzel). Nút
được L.Tesniène xác định là : “tập hợp bao gồm từ chính và tất cả các từ trực tiếp
hay gián tiếp phụ thuộc vào nó [54- 25]. Nút được tạo thành bởi từ thu hút vào
mình, trực tiếp hay gián tiếp, tất cả các từ của câu gọi là nút trung tâm. Trong ý
nghĩa nhất định, nó đồng nhất với cả câu [54, 26]. Nút trung tâm thường được cấu
tạo bởi động từ. Về nguyên tắc, chỉ các thực từ mới có khả năng tạo nút. Phù hợp
với các loại thực từ, L.Tesniène phân biệt bốn kiểu nút: nút động từ, nút danh từ,
nút tính từ và nút trạng từ.
Nút động từ là nút mà trung tâm của nó là động từ, thí dụ: Alfred frappe
Bernard (Alfred đánh Bernard).
Nút danh từ là nút mà trung tâm của nó là danh từ, thí dụ: six forts chevaux
(sáu con ngựa khỏe).
Nút tính từ là nút có tính từ là trung tâm, thí dụ: extremement jeune (cực kì
trẻ trung).
thứ ba chỉ có thể gặp trong câu có ba diễn tố [54 ;23].
Diễn tố thứ nhất từ góc độ ngữ nghĩa, chính là diễn tố chỉ kẻ hành động và
chính vì vậy, trong ngữ pháp học truyền thống, nó được gọi là chủ thể (sujet).
L.Tesniène đề nghị giữ lại thuật ngữ này. Trong câu Alfred parle (Alfred nói),
Anphret từ góc độ cú pháp là diễn tố thứ nhất, từ góc độ ngữ nghĩa, chỉ chủ thể của
hành động nói.
Diễn tố thứ hai về cơ bản, phù hợp với bổ ngữ đối thể trong ngữ pháp học
truyền thống. L.Tesniène đề nghị gọi đơn giản là đối thể. Chẳng hạn, trong câu
Alfred frappe Bernard (Anphret đánh Bécna), Bécna về mặt cấu trúc là diễn tố thứ
hai, về mặt nghĩa chỉ đối thể của hành động. Khi so sánh diễn tố chủ thể (chủ ngữ)
với diễn tố chỉ đối thể (bổ ngữ), L.Tesniène lưu ý rằng chúng chỉ đối lập nhau về
ngữ nghĩa, còn về mặt cấu trúc (cú pháp), giữa chúng không có sự đối lập
[54 ;124]. Tác giả nhấn mạnh rằng: “ Trên thực tế, từ góc độ cấu trúc, không phụ
thuộc vào chỗ trước chúng ta là diễn tố (actant) thứ nhất hay thứ hai, yếu tố bị phụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
thuộc luôn luôn là bổ ngữ ” [54 ;124]. Xuất phát từ cách nhìn nhận đó,
L.Tesniène đề nghị khi sử dụng các thuật ngữ truyền thống mà không có sự điều
chỉnh, cần khẳng định rằng diễn tố thứ nhất (chủ ngữ truyền thống) chính là bổ
ngữ cũng như những bổ ngữ khác. [54 ;124].
Diễn tố thứ ba, từ góc độ ngữ nghĩa đó là diễn tố mà hành động được thực hiện
có lợi hay gây thiệt hại cho nó. Diễn tố này về cơ bản, tương ứng với bổ ngữ gián
tiếp trong ngữ pháp học truyền thống. Chẳng hạn, trong câu Alfred donne le livre à
Charles (Anphret đưa cuốn sách cho Sáclơ), diễn tố thứ ba là Sác lơ. Như vậy, ở
câu có ba diễn tố, cả ba loại diễn tố: thứ nhất, thứ hai, thứ ba đều xuất hiện. Lược
đồ của câu ba diễn tố trên như sau:
Donne (đưa)
thành tố bắt buộc của câu (chủ ngữ và bổ ngữ truyền thống). Theo cách hiểu rộng
thì kết trị của động từ là toàn bộ thuộc tính kết hợp cú pháp của động từ (gồm cả
khả năng kết hợp bắt buộc lẫn tự do). Nói cách khác: kết trị của từ là khả năng của
các từ loại thực từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy
bởi các thành tố cú pháp nhất định và khả năng làm đầy các vị trí mở được tạo ra
bởi các từ loại thực từ khác. Trong luận văn này, chúng tôi tạm thời hiểu kết trị
theo cách hiểu rộng.
Kết trị của động từ theo cách hiểu trên đây sẽ được phân biệt với:
1. Khả năng kết hợp từ vựng của từ
Nói đến khả năng kết hợp từ vựng của từ là nói đến khả năng kết hợp của từ với
tư cách là cá thể hoặc đại diện của nhóm chủ đề. Khả năng kết hợp từ vựng bị quy
định bởi ý nghĩa từ vựng riêng của từ. Còn nói đến kết trị của từ là nói đến khả
năng kết hợp của từ với tư cách là đại diện của từ loại hoặc tiểu loại nhất định được
đặc trưng bởi ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp hoặc ý nghĩa ngữ pháp chung nhất định.
2. Khả năng kết hợp của thực từ với các hư từ
Sự kết hợp của thực từ với các hư từ (thí dụ: đã, sẽ, đang…) tạo thành một tổ
hợp đặc biệt dùng trong vai trò tương đương với một thực từ. Trong những tổ hợp
như vậy, hư từ chỉ là những yếu tố bổ sung ý nghĩa thuần ngữ pháp cho thực từ và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
hiện thực hoá thuộc tính kết trị của thực từ, chúng không phải là thành tố cú pháp
thực sự.
3. Khả năng kết hợp cú pháp bắt buộc của từ
Kết trị của từ theo cách hiểu trên đây không chỉ là khả năng kết hợp của từ với
các thành tố cú pháp bắt buộc mà còn là khả năng kết hợp của từ với các thành tố
cú pháp tự do.
1.2.3.2. Các kiểu kết trị
1.2.3.2.1. Kết trị nội dung và kết trị hình thức