Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Viện Ngôn ngữ học,
các thầy cô giáo Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Khoa
Sau đại học Trường ĐHSP Thái Nguyên đã giảng dạy trong khóa học và tạo
điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng đã nhận
xét, góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn. Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thùy Dương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
5. NGỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6
1.1. LÍ THUYẾT KẾT TRỊ 6
1.1.1. Khái niệm kết trị 9
1.1.2. Khái niệm kết trị của động từ 9
1.2. CÁC KIỂU KẾT TRỊ CỦA ĐỘNG TỪ 10
1.2.1. Kết trị nội dung và kết trị hình thức 10
1.2.1.1. Kết trị nội dung 10
1.2.1.2. Kết trị hình thức 11
1.2.2. Kết trị bắt buộc và kết trị tự do 13
1.2.2.1. Kết trị bắt buộc 13
1.2.2.2. Kết trị tự do 13
1.2.3. KHÁI NIỆM KẾT TỐ VÀ KẾT TỐ TỰ DO 14
1.2.3.1. Khái niệm kết tố 14
1.2.3.2. Khái niệm kết tố tự do 14
1.2.4. Khái niệm hiện thực hóa kết trị 15
1.3. NGUYÊN TẮC, THỦ PHÁP VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU KẾT TRỊ
CỦA ĐỘNG TỪ 16
3.1. KẾT TỐ KHÔNG GIAN 46
3.1.1. Đặc điểm của kết tố không gian 46
3.1.1.1. Về ý nghĩa 46
3.1.1.2. Về cấu tạo và phƣơng thức kết hợp 46
3.1.1.3. Về phạm vi kết hợp 49
3.1.1.4. Về vị trí 49
3.1.1.5. Về sự đối lập nội bộ (sự phân loại) 52
3.1.2. Phân biệt kết tố không gian với một vài kiểu kết tố khác 53
3.1.2.1. Phân biệt kết tố không gian với kết tố bắt buộc 53
3.1.2.2. Phân biệt kết tố không gian với các kiểu kết tố tự do khác 54
3.2. KẾT TỐ THỜI GIAN 55
3.2.1. Đặc điểm của kết tố thời gian 55
3.2.1.1. Về ý nghĩa 55
3.2.1.3. Về phạm vi kết hợp 57
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vii
3.2.1.4. Về vị trí 58
3.3. KẾT TỐ NGUYÊN NHÂN 61
3.3.1. Đặc điểm của kết tố nguyên nhân 61
3.3.1.1. Về ý nghĩa 61
3.3.1.2. Về cấu tạo và phƣơng thức kết hợp 62
3.3.1.3. Về phạm vi kết hợp 64
3.3.1.4. Về vị trí 65
3.4. KẾT TỐ MỤC ĐÍCH 66
3.4.1. Đặc điểm của kết tố mục đích 66
3.4.1.1. Về ý nghĩa 66
3.4.1.2. Về cấu tạo và phƣơng thức kết hợp 66
3.4.1.3. Về phạm vi kết hợp 72
3.8.1.4. Về vị trí 93
3.9. KẾT TỐ CHỈ KẺ CÙNG THAM GIA HOẠT ĐỘNG 95
3.9.1. Đặc điểm của kết tố chỉ kẻ cùng tham gia hoạt động 95
3.9.1.1 Về ý nghĩa 95
3.9.1.2. Về cấu tạo và phƣơng thức kết hợp 96
3.9.1.3. Về phạm vi kết hợp 97
3.9.1.4. Về vị trí 97
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
NGUỒN DỮ LIỆU TRÍCH DẪN………………………………………… 105
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Động từ là từ loại có số lƣợng rất lớn và có đặc tính hết sức phức
tạp. Về vai trò ngữ pháp, động từ là trung tâm của tuyệt đại đa số câu tiếng
Việt. Do có địa vị quan trọng trong hệ thống từ loại, cho nên động từ luôn thu
hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
1.2. Việc nghiên cứu động từ đƣợc tiến hành ở nhiều góc độ với nhiều
công trình khác nhau nhƣ: Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong,
Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản, Ngữ nghĩa và cấu trúc
của động từ của Vũ Thế Thạch, Vị từ hành động và các tham tố của nó của
Nguyễn Thị Quy, Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc…Tuy
nhiên, việc nghiên cứu động từ từ góc độ kết trị còn ít đƣợc chú ý đến.
1.3. Lí thuyết kết trị là một lí thuyết ngôn ngữ học quan trọng. Sau khi
ra đời, lí thuyết kết trị đã có ảnh hƣởng lớn và đƣợc vận dụng rộng rãi vào
nghiên cứu động từ tiếng Việt chƣa đạt đƣợc những kết quả lớn. Trong suốt thời
kỳ này, chƣa có công trình chuyên khảo về động từ. Chỉ từ giữa những năm sáu
mƣơi cho đến nay, việc nghiên cứu về động từ mới thực đi vào chiều sâu. Trong
giai đoạn này, bên cạnh những công trình chung về ngữ pháp trong đó thƣờng đề
cập đến động từ, đã xuất hiện một số chuyên luận đáng chú ý nhƣ:
- Phân loại động từ tiếng Việt của I.S.Bystov (1966)
- Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong (1973)
- Các động từ chỉ hƣớng trong tiếng Việt của Nguyễn Lai (1976)
- Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản (1977)
- Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ của Vũ Thế Thạch (1984)
Trong các công trình kể trên, có một số nghiên cứu tƣơng đối toàn diện
về các đặc điểm ngữ pháp của động từ. Thuộc số này là các công trình của
Nguyễn Phú Phong và Nguyễn Kim Thản. Một số công trình đi sâu vào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
nghiên cứu từng mặt hoặc từng nhóm động từ, chẳng hạn: I.S.Bystov đi sâu
vào vấn đề phân loại động từ, Nguyễn Lai đi vào nhóm động từ chỉ hƣớng,
còn Vũ Thế Thạch đi vào mặt ngữ nghĩa của động từ
Tiếp tục nghiên cứu về động từ còn có công trình Kết trị của động từ
tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc (1994). Trong công trình này, tác giả nghiên
cứu động từ theo một hƣớng tiếp cận hoàn toàn mới là: hƣớng nghiên cứu
động từ theo lí thuyết kết trị, dựa vào lí thuyết kết trị. Từ đó, tác giả đã phân
loại, mô tả khá tỉ mỉ kết trị bắt buộc của động từ với hai kiểu kết tố cơ bản là
kết tố chủ thể (chủ ngữ) và kết tố đối thể (bổ ngữ), đồng thời phân tích một số
kiểu hiện thực hoá kết trị bắt buộc của động từ. Tuy nhiên, kết trị tự do của
động từ chƣa đƣợc chú ý nghiên cứu trong công trình này.
Ngoài các công trình trên, gần đây, một số luận văn Thạc sĩ cũng tiến
hành nghiên cứu kết trị của động từ ở các góc độ khác nhau. Chẳng hạn, luận
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là vận dụng những thành tựu của lí
thuyết kết trị vào việc nghiên cứu, làm rõ thuộc tính kết trị tự do của động từ
trong tiếng Việt hiện đại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn đề ra ba nhiệm vụ cụ thể:
1) Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.
2) Phân tích, miêu tả các kiểu kết trị tự do của động từ tiếng Việt.
3) Phân tích sự hiện thực hóa kết trị tự do của động từ tiếng Việt.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là thuộc tính kết trị tự do của động
từ tiếng Việt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc phân tích, miêu tả các kiểu kết trị tự do của
động từ trong tiếng Việt hiện đại, xét về mặt tiềm tàng lẫn mặt hiện thực hóa,
mặt nội dung lẫn mặt hình thức biểu hiện.
5. NGỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Ngữ liệu nghiên cứu
Những ngữ liệu mà chúng tôi dựa vào để khảo sát động từ, kết trị của
động từ là các tác phẩm văn học, báo chí và một số loại văn bản khác của
các tác giả có uy tín về sử dụng tiếng Việt.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp chính của luận văn là phƣơng pháp miêu tả. Với phƣơng
pháp này, chúng tôi đi sâu vào phân tích, miêu tả các kiểu kết trị tự do của
nhƣ âm vị , hình vị, cấu tạo từ…
Theo cách hiểu hẹp, kết trị chỉ là thuộc tính kết hợp của động từ hoặc
một số từ loại nhất định. Nhƣ vậy, lí thuyết kết trị ban đầu chỉ đƣợc sử dụng ở
phạm vi hẹp, nói cách khác, mới chỉ đƣợc dùng để nghiên cứu thuộc tính kết
hợp của từ.
Ngƣời đầu tiên sử dụng thuật ngữ kết trị theo cách hiểu hẹp là nhà ngôn
ngữ học ngƣời Pháp L.Tesniere. Lí thuyết kết trị đƣợc ông nói đến trong cuốn
Các yếu tố của cú pháp cấu trúc. Khác với ngữ pháp học truyền thống,
L.Tesniere cho rằng, động từ trong vai trò mà ngữ pháp truyền thống gọi là vị
ngữ chính là thành tố hạt nhân, tạo thành cái nút chính của câu. Trong vai trò
đó, động từ quy định số lƣợng và đặc tính của các thành tố có quan hệ với nó.
Các thành tố này đƣợc chia thành hai loại dựa trên mức độ gắn bó với động từ
trong câu: các thành tố bắt buộc (diễn tố) và các thành tố tự do (chu tố). Trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
đó, các thành tố bắt buộc tƣơng ứng với thành phần chủ ngữ và bổ ngữ truyền
thống, còn các thành tố tự do tƣơng ứng với thành phần trạng ngữ truyền
thống. Các nhà ngôn ngữ học Liên Xô (cũ) đã phát triển lí thuyết này, mà tiêu
biểu là S.D Kaselson. Trong bài Về khái niệm các kiểu kết trị, tác giả đƣa ra
cách hiểu khái niệm kết trị nhƣ sau: Kết trị là thuộc tính của lớp từ nhất định
kết hợp vào mình những từ khác [Theo 25, tr.27]. Trong công trình nghiên
cứu trên, ông khẳng định: “ Mỗi từ về nguyên tắc đều có khả năng kết hợp với
một từ nhất định nào đó, thế nhƣng cũng không có nghĩa tất cả các từ đều có
kết trị mà trên thực tế, chỉ những từ có khả năng tạo ra các “ô trống” đòi hỏi
làm đầy trong các phát ngôn mới có kết trị” [25, tr.27]. Từ quan điểm đó, S.D
Kaselson nghiên cứu các vị trí mở bên của động từ để xác định kết trị của từ
loại này. Căn cứ vào số lƣợng các vị trí mở (các ô trống) bên động từ, tác giả
chia động từ thành động từ một vị trí, động từ hai vị trí, động từ ba vị trí.
Tổng kết các ý kiến đề cập ở trên, ta nhận thấy rất rõ khuynh hƣớng
phát triển của lí thuyết kết trị: khuynh hƣớng mở rộng khái niệm kết trị từ cấp
độ từ sang các cấp độ khác của ngôn ngữ; từ bình diện cú pháp sang bình diện
ngữ nghĩa, logic. Tuy nhiên, cũng qua các ý kiến này, ta có thể nhận thấy hai
vấn đề hiện chƣa thực sự thống nhất. Thứ nhất, vấn đề xác định phạm vi của
các đơn vị có kết trị (chỉ ở động từ hay có ở tất cả các từ loại và các đơn vị
ngôn ngữ nói chung?). Thứ hai, vấn đề xác định thuộc tính kết trị (những
thuộc tính nào của đơn vị ngữ pháp đƣợc coi là thuộc tính kết trị?). Có thể
nói, cùng với sự phát triển của lí thuyết kết trị, một số vấn đề phức tạp trên
đây đã và đang đƣợc làm sáng tỏ. Hiện nay, lí thuyết kết trị không chỉ đƣợc
vận dụng để nghiên cứu về động từ và các từ loại khác, mà đã xuất hiện
những công trình vận dụng lí thuyết kết trị để nghiên cứu thuộc tính kết hợp
của các đơn vị ngôn ngữ ở các cấp độ khác nhau. Mặc dù việc mở rộng khái
niệm kết trị sang các cấp độ khác của ngôn ngữ là rất cần thiết, song cần phải
thừa nhận một thực tế là việc nghiên cứu kết trị của từ (đặc biệt là động từ)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
luôn là một nhiệm vụ then chốt. Để phù hợp với mục đích nghiên cứu đặt ra,
trong luận văn này, chúng tôi vận dụng những thành tựu của lí thuyết kết trị
vào việc nghiên cứu làm rõ thuộc tính kết trị tự do của động từ trong tiếng
Việt hiện đại.
Có thể nói, nghiên cứu ngôn ngữ theo lí thuyết kết trị là một khuynh
hƣớng nghiên cứu còn mới mẻ. Tuy ra đời muộn hơn so với một số khuynh
hƣớng khác, song cho đến nay, hƣớng nghiên cứu này cũng đã có những
thành tựu đáng kể. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về lí thuyết kết trị vẫn còn ít
đƣợc chú ý. Tính cho đến nay, những công trình chuyên khảo nghiên cứu về lí
thuyết kết trị còn rất ít.
1.1.1. Khái niệm kết trị
pháp cho thực từ và hiện thực hoá thuộc tính kết trị của thực từ, chúng không
phải là thành tố cú pháp thực sự.
c. Khả năng kết hợp cú pháp bắt buộc của từ
Kết trị của từ theo cách hiểu trên đây không chỉ là khả năng kết hợp của
từ với các thành tố cú pháp bắt buộc, mà còn là khả năng kết hợp của từ với
các thành tố cú pháp tự do.
1.2. CÁC KIỂU KẾT TRỊ CỦA ĐỘNG TỪ
1.2.1. Kết trị nội dung và kết trị hình thức
1.2.1.1. Kết trị nội dung
Kết trị nội dung là sự kết hợp (mối quan hệ) về mặt ngữ nghĩa giữa từ
mang kết trị và các kết tố (các thành tố bổ sung của động từ). Kết trị nội dung
thƣờng đƣợc xác định theo đặc điểm về ý nghĩa cú pháp (các nghĩa kiểu nhƣ:
chủ thể, đối thể, công cụ, nguyên nhân…) của các kết tố và gắn chặt với ý
nghĩa của từ mang kết trị.
Chẳng hạn, kiểu kết trị chỉ điểm đến chỉ có ở động từ chuyển động (ra,
vào, lên, xuống, về…), kiểu kết trị chỉ kẻ nhận chỉ có ở động từ ban phát (cho,
gửi, trao, tặng, biếu…). Vì kết trị nội dung phụ thuộc chặt chẽ vào động từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
nên sự thay đổi nghĩa từ vựng – ngữ pháp của động từ luôn kéo theo sự thay
đổi kết trị nội dung của nó. Động từ “chạy” trong tiếng Việt vốn có nghĩa nội
hƣớng và khi đƣợc dùng với ý nghĩa này nó không thể có kết trị đối thể. Ví
dụ: Nó đang chạy trên đường. Nhƣng khi đƣợc dùng với ý nghĩa ngoại
hƣớng, “chạy” hoàn toàn có thể có kết trị đối thể nhƣ các động từ ngoại
hƣớng khác. Ví dụ: Nó chạy thóc vào nhà.
1.2.1.2. Kết trị hình thức
Kết trị hình thức của từ là mối quan hệ (sự kết hợp) về hình thức giữa
từ mang kết trị và các kết tố. Khác với kết trị nội dung chỉ gắn với mặt nghĩa
hiện thực hóa. Nhân tố cản trở sự hiện thực hóa mối quan hệ chủ vị rõ ràng
không phải là ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp của từ mà là hình thức ngữ pháp
của từ (trong tiếng Việt, chủ ngữ (kết tố chủ thể) về hình thức ngữ pháp,
không những phải chiếm vị trí trƣớc vị ngữ mà còn phải không đƣợc dẫn nối
bởi quan hệ từ). Trong khi đặt câu, vì chỉ chú ý đến kết trị nội dung (khă năng
kết hợp ngữ nghĩa) mà không chú ý đến kết trị hình thức (sự phù hợp về hình
thức ngữ pháp) của từ nên ngƣời viết đã phạm sai lầm nhƣ trên đây.
Xác nhận vai trò của mặt hình thức trong sự tổ hợp của từ trong tiếng
Việt, các sách ngữ pháp khi nói về sự phù hợp của hai thành tố A và B nào đó
thƣờng không những chỉ chỉ ra và trả lời câu hỏi: “A và B có khả năng kết
hợp với nhau không?” mà còn đặt ra và trả lời câu hỏi khác nữa nhƣ: “nếu A
và B kết hợp với nhau thì kết hợp theo trật tự nào? (A đứng trƣớc hay B đứng
trƣớc?), kết hợp theo phƣơng thức nào? (kết hợp trực tiếp hay gián tiếp)? Đề
cập đến trật tự kết hợp và phƣơng thức kết hợp thực chất chính là đề cập đến
mặt hình thức ngữ pháp của từ theo nghĩa rộng, tức là đề cập đến kết trị hình
thức của từ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
1.2.2. Kết trị bắt buộc và kết trị tự do
1.2.2.1. Kết trị bắt buộc
Kết trị bắt buộc là khả năng của các từ loại tạo ra xung quanh mình các
vị trí mở cần làm đầy bởi các thành tố cú pháp bắt buộc.
Đặc điểm của kết trị bắt buộc là:
- Về nghĩa: nghĩa của các thành tố bắt buộc phụ thuộc chặt chẽ vào
nghĩa của động từ. Chẳng hạn, trong cấu trúc “Nam đọc sách ở thư viện”,
miêu tả các thành tố cú pháp bắt buộc và tự do, làm đầy các vị trí mở bên
động từ. Các thành tố này đƣợc gọi chung là kết tố.
Kết tố của động từ là các thành tố hiện thực hóa kết trị, cụ thể hóa ý
nghĩa của động từ, tức là các thành tố bổ sung cho sự tình mà động từ miêu tả
một ý nghĩa nhất định.
Các kết tố của động từ đƣợc xác định từ hai mặt: nội dung và hình thức.
Về nội dung, các kết tố bổ sung cho động từ một ý nghĩa nhất định. Về hình
thức, các kết tố luôn có thể đƣợc thay thế bằng từ nghi vấn, tức là có thể dựa
vào động từ để đặt câu hỏi về chúng. Chẳng hạn, trong cấu trúc: Cô ấy đến
Tokyo bằng tàu điện ngầm, các kết tố cô ấy, Tokyo, bằng tàu điện ngầm về
nội dung, chúng bổ sung cho động từ đến những ý nghĩa nhất định (cô ấy bổ
sung ý nghĩa chủ thể hoạt động, Tokyo bổ sung ý nghĩa điểm đến, bằng tàu
điện ngầm bổ sung ý nghĩa công cụ). Về hình thức, mỗi kết tố trên đều có khả
năng thay thế bằng từ nghi vấn, nghĩa là có thể dựa vào động từ để đặt câu hỏi
về chúng (Ai đến? Đến đâu? Đến bằng gì?).
1.2.3.2. Khái niệm kết tố tự do
Dựa vào mức độ gắn bó với động từ hạt nhân, các kết tố đƣợc chia
thành: kết tố bắt buộc và kết tố tự do. Kết tố bắt buộc (diễn tố) là kết tố thể
hiện kết trị bắt buộc của động từ. Kết tố tự do là kết tố thể hiện kết trị tự do
của động từ. Nhƣ vậy, có thể nói, kết tố bắt buộc chính là các thành tố lập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
thành “bối cảnh tối ưu” của động từ, còn kết tố tự do là kết tố tạo thành “bối
cảnh dư ” của động từ.
Chẳng hạn, trong cấu trúc: Cô ấy đến Tokyo bằng tàu điện ngầm thì cô
ấy và Tokyo là kết tố bắt buộc, còn bằng tàu điện ngầm là kết tố tự do.
1.2.4. Khái niệm hiện thực hóa kết trị
Hiện thực hóa kết trị là sự làm đầy trong lời nói các vị trí mở có thể có
dung lẫn mặt hình thức. Việc tuân thủ nguyên tắc này cho phép tránh đƣợc sự
phiến diện trong việc nghiên cứu kết trị của động từ.
1.3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính cú pháp triệt để, nhất quán
Vì kết trị là thuộc tính cú pháp của từ và quan hệ kết trị là quan hệ cú
pháp, nên nghiên cứu kết trị của động từ theo lí thuyết kết trị thực chất là
nghiên cứu theo mặt cú pháp. Khi nghiên cứu kết trị của động từ, tức là
nghiên cứu động từ, về mặt cú pháp, phải tuân thủ theo nguyên tắc: Khi xác
định, phân tích kết trị của động từ phải dựa hoàn toàn vào đặc điểm cú pháp.
Việc tuân thủ nguyên tắc này đảm bảo tránh đƣợc sự lẫn lộn giữa cách phân
tích về mặt cú pháp (phân tích theo kết trị) với cách phân tích theo mặt thông
báo (giao tiếp, tâm lí) và phân tích theo mặt nghĩa biểu hiện (nghĩa sâu). Theo
nguyên tắc này, cần phân biệt các thành phần câu, các kiểu câu xét theo mặt
cú pháp với các thành phần câu, các kiểu câu xét theo mặt thông báo và nghĩa
biểu hiện. Chẳng hạn, cần phân biệt chủ ngữ (chủ thể cú pháp) với chủ đề (đề
ngữ) với chủ thể ngữ nghĩa. Chẳng hạn, thử so sánh:
- Tôi viết thư.
- Thư, tôi viết.
- Thư được viết bằng bút chì.
Trong cấu trúc thứ nhất, tôi vừa là chủ ngữ (chủ thể cú pháp) vừa là chủ
đề đồng thời cũng là chủ thể ngữ nghĩa (nghĩa sâu).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
Trong cấu trúc thứ hai, thư là chủ đề nhƣng không phải là chủ ngữ mà
về cú pháp là bổ ngữ đảo, còn về ngữ nghĩa là đối thể hoạt động.
Trong cấu trúc thứ ba, thư là chủ ngữ và chủ đề nhƣng không phải là
chủ thể ngữ nghĩa mà là đối thể ngữ nghĩa.
1.3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hai mặt: ý nghĩa và hình thức cú
pháp khi xác định phân tích kết trị của động từ