ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––
NÔNG DUY TRƢỜNG ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT
TẠI HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN QUỐC HƢNG
THÁI NGUYÊN - 2012
chỉ bảo, hướng dẫn khoa học trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Chi cục phát triển lâm
nghiệp, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng, phòng Thống kê, Hạt Kiểm lâm,
phòng NN&PTNT, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Thạch An và các đơn
vị liên quan cùng tất cả các bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tác giả trong thời
gian thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tuy bản thân đã có nhiều cố gắng, song do thời gian cung như khả
năng tiếp cận thông tin về đối tượng ít nhiều bị hạn chế, nên luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy tác giả mong nhận được những ý
kiến đóng góp của các thầy cô giáo, đồng nghiệp và các nhà khoa học./.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Nông Duy Trƣờng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ, ẢNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Trên thế giới 3
1.1.1. Những kết quả nghiên cứu về điều kiện lập địa và chọn loài
cây trồng 3
1.1.2. Công tác nghiên cứu giống cây rừng 4
Chƣơng 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU
VỰC NGHIÊN CỨU 26
3.1. Điều kiện tự nhiên 26
3.1.1. Vị trí địa lý 26
3.1.2. Địa hình 26
3.1.3. Khí hậu, thuỷ văn 26
3.2. Điều kiện kinh tế, xã hội 27
3.2.1. Tình hình dân cư, văn hóa xã hội 27
3.2.2. Giao thông và cơ sở hạ tầng 28
3.2.3. Văn hoá- giáo dục 28
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1. Tìm hiểu quá trình phát triển trồng rừng sản xuất ở huyện Thạch
An, tỉnh Cao Bằng 32
4.2. Đánh giá thực trạng trồng rừng sản xuất ở huyện Thạch An 35
4.2.1. Nguồn vốn đầu tư trồng rừng sản xuất 35
4.2.2. Mục tiêu trồng rừng sản xuất 36
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
4.2.3. Diện tích rừng trồng và rừng trồng sản xuất ở huyện Thạch An 38
4.2.4. Cơ cấu loài cây trồng rừng sản xuất 42
4.2.5. Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng sản xuất 44
4.2.6. Một số chính sách liên quan và ảnh hưởng đến trồng rừng
sản xuất. 46
4.3. Đánh giá khả năng sinh trưởng của các loài cây trong các mô
hình rừng trồng sản xuất phổ biến 55
4.3.1. Các mô hình trồng rừng sản xuất 55
4.3.2. Đánh giá sinh trưởng và năng suất của cây trồng trong mô hình 57
4.4. Đánh giá hiệu quả của các mô hình điển hình 59
4.4.1. Hiệu quả kinh tế 59
Dt
Tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính tán
FAO
Tổ chức Nông lương thế giới
GĐGR
Giao đất giao rừng
Hvn
Chiều cao vút ngọn trung bình
H
Tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao vút ngọn
Ho
Chiều cao tầng trội trung bình
KTLS
Kỹ thuật lâm sinh
KHLN
Khoa học lâm nghiệp
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
MH
Mô hình
NPV
Giá trị lợi nhuận ròng
NN & PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ÔTC
Ô tiêu chuẩn
TRSX
Trồng rừng sản xuất
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
Bảng 4.16: Năng suất của các mô hình điển hình 59
Bảng 4.17: Chi phí cho 01 ha của rừng mô hình cho cả chu kỳ kinh doanh 60
Bảng 4.18: Thu nhập từ khai thác cho 01 ha rừng trồng mô hình 61
Bảng 4.19: Bảng cân đối thu chi cho 01 ha rừng trồng trong các mô hình 61
Bảng 4.20: Hiệu quả kinh tế cho 01 ha rừng trồng trong các mô hình 63
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
Bảng 4.21: Công lao động tạo ra từ các mô hình rừng trồng sản xuất 64
Bảng 4.22: Kết quả điều tra, khảo sát một số cơ sở chế biến tại huyện
Thạch An và thị xã Cao Bằng sử dụng gỗ rừng trồng 65
Bảng 4.23: Phân loại nguyên liệu, sản phẩm gắn với thị trường 70
Bảng 4.24: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về phát
triển trồng RSX ở huyện Thạch An 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ix
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ, ẢNH
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Các bước nghiên cứu của đề tài 19
Sơ đồ 4.1: Các kênh tiêu thụ sản phẩm rừng trồng sản xuất tại huyện
Thạch An 72
Bản đồ:
Bản đồ 3.1: Quy hoạch 3 loại rừng - huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng 31
Ảnh:
Ảnh 4.1: Mô hình rừng trồng Thông mã vĩ thuần loài tuổi 12 tại xã
Trọng Con 56
vào 2 đối tượng là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng trồng sản xuất chưa
được quan tâm chú ý nhiều và thực tiễn sản xuất hiện nay đang đặt ra rất
nhiều vấn đề cần phải có lời giải đáp, cả về kỹ thuật, kinh tế, chính sách và thị
trường, gây ảnh hưởng trực tiếp tới người trồng rừng. Xuất phát từ thực trạng
tài nguyên rừng ngày càng suy giảm ở nước ta và khả năng quỹ đất dành cho
phát triển rừng, cùng với những đòi hỏi phải thực hiện môi trường quốc gia về
sinh thái, môi trường, kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều dự
án về phát triển rừng mà gần đây nhất là chương trình 327 phủ xanh đất trống
đồi núi trọc, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
đặt ra nhiệm vụ phải trồng 3 triệu ha rừng sản xuất (RSX) giai đoạn 1998 -
2010, tuy nhiên cho đến nay việc triển khai thực hiện công tác này chưa đạt
đượ c kế hoạch đặ t ra . Chính vì vậy, Chính phủ đã chỉ đạo trong thời gian tới
cần tập trung đẩy mạnh phát triển trồng RSX.
Thạch An là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Cao
Bằng. Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện theo địa giới hành chính là
69.044,8 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 40.214,42 ha, đất trống quy
hoạch cho lâm nghiệp là 19.745,58 ha độ che phủ của rừng đạt 58,2%. Tại
đây đã có một số mô hình trồng rừng sản xuất được xây dựng và khá đa dạng,
trong đó đặc biệt chú ý tới các mô hình nằm trong các đề tài nghiên cứu phát
triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế và bền vững vùng miền núi phía
Bắc. Tại tỉnh Cao Bằng nhiều chương trình dự án lớn đã được triển khai như:
Chương trình dự án 327; chương trình PAM 5322; chương trình 5 triệu ha
rừng (661); chương trình trồng rừng nguyên liệu giấy, dăm, gỗ dán; dự án
trồng rừng trên đất canh tác nương rẫy không cố định (Dự án 52) và chương
trình dự án chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng rừng sản xuất thu
hút được nhiều tổ chức, hộ gia đình vào công tác bảo vệ và phát triển rừng,
góp phần xói đói, giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội của tỉnh nói chung
ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30m
3
/ha/năm.
Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở
Swiziland, Julian Evans (1992) [52] đã chứng minh khả năng sinh trưởng về
chiều cao của loài Thông này khá chặt (R=0,81) với các yếu tố địa hình và đất
đai thông qua phương trình tương quan:
Y= -18,75 + 0,0544x3 - 0,000022x32 + 0,0185x4 + 0,0449x5 + 0,5346x11
Trong đó:
Y: Là chiều cao vút ngọn ở thời điểm 12 tuổi (m)
x3: Là độ cao so với mặt nước biển (m)
x4: Là độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%)
x5: Là độ dốc tuyệt đối của nơi trồng rừng (%)
x11: Là độ phì của đất đã được xác định
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Ngoài ra còn có những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác trên thế
giới về điều kiện lập địa đã chứng minh cho việc xác định vùng gây trồng và
điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là hết sức cần thiết, bởi nó
quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng.
1.1.2. Công tác nghiên cứu giống cây rừng
Có thể nói, công tác nghiên cứu giống cây rừng góp phần quan trọng
vào thành công của công tác trồng rừng sản xuất. Từ thế kỷ 18, 19, những ý
tưởng về công tác lai giống, sản xuất hạt giống và nhân giống sinh dưỡng cây
rừng đã thu được một số thành tựu nhất định: Syrach Larsen đã sản xuất được
một số cây lai có hình dáng đẹp và có ưu thế về sinh trưởng.
Các chương trình chọn giống được bắt đầu ở nhiều nước và tập trung
cho nhiều loài sinh trưởng nhanh, trong đó có Keo. Tại Braxin đã tiến hành
chọn cây trội, xây dựng vườn giống thụ phấn tự do cho loài E. maculata ngay
chống bệnh gỉ sắt Puccinia. Các công trình nghiên cứu về lai giống cũng đã
mang lại nhiều kết quả tốt phục vụ trồng rừng sản xuất (Assis, 2000),
(Paramathma, Surendran, 2000), (FAO, 1979),…
1.1.3. Những nghiên cứu về các biện pháp KTLS tác động
Để thực hiện thành công việc tạo ra những sản phẩm cây rừng một cách
nhanh nhất và rẻ nhất, bên cạnh công tác giống, các biện pháp kỹ thuật trong
tạo rừng cũng rất được quan tâm nghiên cứu. Các tác giả J.B Ball, Tj
Wormald, L Russo (1995) [53] khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng
đã đặc biệt lưu ý đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loài. Matthew, J Kelty
(1995) đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và
cây họ đậu. Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây
trồng chính. Qua đó có thể khẳng định việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu
cho cây trồng chính trước khi xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất
cần thiết.
Những nghiên cứu về phương thức, mật độ và các biện pháp kỹ thuật
trồng rừng khác cũng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, tạo cơ sở
khoa học cho phát triển trồng rừng sản xuất trong thời gian qua.
Tại Malaysia, năm 1999 (theo [58]) người ta đã tiến hành xây dựng
rừng nhiều tầng hỗn loài trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng
và Tếch với 23 loài bản địa có giá trị trồng theo băng có chiều rộng khác nhau
(10m, 20m, 30m, 40m) và phương thức hỗn giao khác nhau. Kết quả đã cho
thấy sinh trưởng chiều cao tốt ở băng 10m và 40m. Những khu đất đã bị thoái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
hoá mạnh cũng được cải tạo để trồng rừng mang lại hiệu quả cao. Azmy Hj.
Mohamed và Abd. Razak Othman (2003) [47] cho biết ở Malaysia người ta
đã sử dụng các loài tre, luồng để phục hồi những lâm phần đã thoái hoá rất có
hiệu quả. Tre luồng có thể trồng ở những khu rừng sau khai thác trắng hoặc ở
những khu vực bị khai thác quá mức.
đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá.
Trên quan điểm về sở hữu, Thomas Enters và Patrick B. Durst (2004)
(dẫn theo [59]) đã dẫn ra rằng rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở
hữu sau:
- Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước.
- Sở hữu tư nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã,
doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ.
- Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội.
Liu Jinlong (2004) [54] dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình
thực tế trong những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích
tư nhân phát triển trồng rừng như:
- Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá.
- Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước.
- Giảm thuế đánh vào các lâm sản.
- Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng.
- Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát
triển trồng rừng.
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý
chung, vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người
dân. Có thể nói, đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia
trồng rừng ở Trung Quốc mà còn gợi những định hướng quan trọng cho phát
triển rừng trồng sản xuất tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhiều đến các hình thức khuyến
khích trồng rừng. Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahannop
(2004) [56] ở Thái Lan, Ashadi and Nina Mindawti (2004) [48] ở Indonesia,
Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được
xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc
công trình sau:
Vũ Đình Hưởng, Phạm Thế Dũng và các cộng sự (2002-2005) [13] đã
phối hợp với trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) tham gia dự
án “ Quản lý lập địa và năng suất rừng trồng nhiệt đới” tại trạm Phú Bình,
Bình Dương với đối tượng là rừng trồng Keo lá tràm luân kỳ hai. Kết quả
bước đầu cho thấy việc để lại cành nhánh sau khai thác có tác động tới tăng
trưởng của rừng trồng chu kỳ 2, sau hai năm đường kính và chiều cao của các
công thức để lại cành nhánh đã lớn hơn rõ rệt so với công thức không để lại
cành nhánh.
Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình và các cộng sự (1990-1995) [33] đã
thực hiện đề tài “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp và hoàn thiện
phương pháp điều tra lập địa” đã chỉ ra rằng độ phì của đất và tiềm năng sản
xuất đất lâm nghiệp nhìn chung còn khá nhưng chưa được phát huy, sử dụng
đất có nơi chưa bền vững. Cần có quy hoạch và xây dựng chiến lược cho rừng
trồng sản xuất, có mục tiêu rõ ràng đặc biệt rừng trồng công nghiệp trên phạm
vi toàn quốc.
Ngô Đình Quế, Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1999-2000) [30] đã thực hiện
đề tài “ Xác định tiêu chuẩn phân chia lập địa (vi mô) cho rừng trồng công
nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam”. Các tác giả đã lựa chọn 4 yếu
tố để phân chia các dạng lập địa: Đá mẹ và loại đất, độ dốc, độ dày tầng đất
và thảm thực bì chỉ thị. Mỗi yếu tố lập địa lại được phân chia ra các cấp nhất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
định với từng tiêu chuẩn cụ thể. Bên cạnh đó thiết lập được bảng tổng hợp
phân chia các dạng lập địa và nhóm dạng lập địa chủ yếu, đơn giản và dễ áp
dụng; xác định các loài cây trồng chính theo thứ tự ưu tiên cho từng nhóm
dạng lập địa tại các vùng nghiên cứu; xây dựng quy trình điều tra xây dựng
bản đồ dạng lập địa cho rừng rừng trồng công nghiệp thuộc 3 vùng sinh thái
khác nhau ở Việt Nam. Ngoài các công trình đã được điểm qua ở trên, thì còn
Từ năm 1986 đến nay tập đoàn cây trồng rừng đã phong phú và đa
dạng hơn, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là việc tìm kiếm
cây bản địa được ưu tiên hàng đầu phục vụ chương trình 327. Qua nhiều năm
nghiên cứu tổng hợp, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã đưa ra đề xuất
cho 100 loài cây bản địa phục vụ các mục đích trồng rừng, trong đó có nhiều
loài đã được đưa vào sản xuất đại trà với quy mô lớn như: Quế, Mỡ, Trẩu, Sở,
Thông đuôi ngựa, Sa mộc, nhiều loài khác với quy mô nhỏ hơn như: Lim
xẹt, Lát hoa, Giổi xanh, [28], [46]
Lê Quang Liên (1991) [18] nghiên cứu di thực và kỹ thuật nhân giống
Luồng Thanh Hoá cũng đã được Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Lâm
sinh Cầu Hai thực hiện từ đầu những năm 1990 và hiện nay cây Luồng đã và
đang được phát triển rộng rãi ở một số tỉnh như Phú Thọ, Hoà Bình,… trở
thành cây cung cấp nguyên liệu có giá trị, cây xoá đói giảm nghèo cho người
dân miền núi.
1.2.3. Về kỹ thuật lâm sinh
Trong những năm gần đây, ngoài các công trình nghiên cứu tập trung
vào một số ít các loài cây như Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa,
cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng, chúng ta đã đi sâu
nghiên cứu các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu như Keo lai, Keo tai
tượng, Bạch đàn Urophylla, Thông Caribê, Các công trình quan trọng có thể
kể đến là:
Hoàng Xuân Tý và các cộng tác viên (1996) [36] về nâng cao công
nghệ thâm canh rừng trồng Bồ đề, Bạch đàn, Keo và sử dụng cây họ đậu để
cải tạo đất và nâng cao sản lượng rừng.
Mai Đình Hồng (1997) xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh Bạch
đàn Urophylla tại Thanh Sơn - Phú Thọ. Kết quả cho thấy khả năng sinh
trưởng của Bạch đàn đạt 18- 25 m
3
/ha/năm. [10].
Keo lá tràm [45].
Các loài cây bản địa trong thời gian qua cũng đã được chú ý nghiên cứu
hơn như nghiên cứu của các tác giả Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất (1997-
1998) đã chọn lựa tập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng quy trình,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
hướng dẫn kỹ thuật trồng cho 20 loài cây (Lát hoa, Dầu rái, Muồng đen,
Trám trắng,…) [44]; nghiên cứu về Lim xanh của tác giả Phùng Ngọc Lan
xác định được vùng sinh thái của loài cây này [17].
Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) [24] trong cuốn “Nghịch lý cơ bản về cây
bản địa” đã nêu rõ những thuận lợi khó khăn khi đưa cây bản địa vào trồng
rừng ở nước ta; Phạm Đình Tam (2000) [34] nghiên cứu kỹ thuật gây trồng
cây Trám trắng phục vụ cho nguyên liệu gỗ dán; Trần Quang Việt (2001) [43]
nghiên cứu kỹ thuật trồng Hông, tuy chưa đưa ra mô hình trồng tập trung đạt
kết quả nhưng cũng đã có khuyến nghị phát triển loài cây này theo hướng
nông- lâm kết hợp hoặc trồng phân tán; Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (1989-
1991) [29] đã đưa ra mô hình trồng hỗn giao Bồ đề + Dó giấy,
Về gây trồng cây đặc sản cũng đã có nhiều nghiên cứu như: Lê
Thanh Chiến (1999) [2] nghiên cứu thăm dò khả năng trồng Quế có năng
suất tinh dầu cao từ lá; Lê Đình Khả và các cộng sự [14] nghiên cứu chọn
giống Ba Kích; Đinh Văn Tự [42] nghiên cứu di thực và gây trồng Trúc sào
từ Cao Bằng về Hoà Bình; Nguyễn Hoàng Nghĩa (1995) [25] nghiên cứu
chọn và nhân giống Sở có năng suất cao, Từ năm 2004, Trung tâm
Nghiên cứu Lâm đặc sản - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã triển
khai khá đồng bộ các nội dung nghiên cứu về tình hình gây trồng, thị
trường và xây dựng mô hình trồng cây đặc sản ở vùng đệm các Vườn Quốc
gia, khu bảo tồn như Ba Bể, hồ Kẻ Gỗ,…
Từ kết quả của những nghiên cứu trên, hàng loạt các quy trình, quy
phạm và hướng dẫn kĩ thuật trồng đã được ban hành và áp dụng trồng rừng
- Lê Quang Trung và cộng sự (2000) đã nghiên cứu và phân tích các
chính sách khuyến khích trồng rừng Thông nhựa đã đưa ra 10 khuyến nghị
mang tính định hướng để phát triển loại rừng này [41].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
- Vũ Long (2000) [19] đã đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi giao và
khoán đất lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc; Đỗ Đình Sâm, Lê Quang
Trung (2003) đã đánh giá hiệu quả trồng rừng công nghiệp ở Việt Nam.
- Phạm Xuân Phương (2003) [26] đã rà soát các chính sách liên quan
đến rừng như chính sách về đất đai, đầu tư tín dụng. Tác giả cũng chỉ rõ các
chủ trương, chính sách là rất kịp thời và có ý nghĩa nhưng trong quá trình
triển khai thực hiện còn gặp nhiều bất cập. Tác giả cũng định hướng hoàn
thiện các chính sách để có quy hoạch tổng thể cho vùng trồng rừng nguyên
liệu, chủ rừng có thể vay vốn trồng rừng đảm bảo có lợi nhuận, đảm bảo rừng
được trồng với tập đoàn giống tốt.
- Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (2003) [27] đã đánh giá thực trạng
trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trong thời
gian qua; Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát (2003) [8] đánh giá thực tế triển
khai thực hiện chính sách về quyền hưởng lợi (QĐ 178).
Nghiên cứu thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm vì đây
là vấn đề có quan hệ mật thiết tới trồng rừng, có thể điểm qua một số công
trình nghiên cứu như sau:
- Nguyễn Văn Tuấn (2004) [38] đã nghiên cứu hiện trạng và xu hướng
phát triển thị trường gỗ nguyên liệu giấy vùng Trung tâm Bắc Bộ; Nguyễn
Văn Dưỡng (2004) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến định giá sản
phẩm gỗ và LSNG tại Hoành Bồ và Ba Chẽ - Quảng Ninh [6].
- Ngô Văn Hải (2004) [9], trong nghiên cứu về yếu tố đầu vào và đầu ra
trong sản xuất nông lâm sản hàng hoá ở miền núi phía Bắc, tác giả đã phân
tích những lợi thế cũng như bất lợi và hiệu quả của sản xuất nông sản hàng