Một số biện pháp sư phạm giúp đỡ học sinh yếu kém ở vùng núi tỉnh Cao Bằng trong dạy học toán lớp 10 trung học phổ thông - Pdf 24



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐÀM THU CHUNG




LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRỊNH THANH HẢI
THÁI NGUYÊN - 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tác giả luận văn
Đàm Thu Chung

i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục các từ viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình iv
MỞ ĐẦU 1

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Dạy học phân hóa 5

1.1.1 Nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học 5

1.1.2 Dạy học phân hóa nội tại 7

1.1.3 Phân bậc hoạt động trong dạy học phân hóa 11

1.2 Dạy học phân hóa với đối tượng HSYK 13

1.2.1 Một số đặc điểm của HSYK vùng núi 13

1.2.2 Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém Toán trong học

2.2.3. Căn cứ vào định hướng đổi mới PPDH 30

2.3. Yêu cầu sư phạm đối với việc giúp đỡ HS yếu, kém ở vùng núi tỉnh
Cao Bằng trong dạy học Toán lớp 10 THPT 30

2.3.1. Đối với GV 30

2.3.2. Đối với HS 31

2.3.3. Đối với các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục 32

2.4. Một số biện pháp sư phạm giúp đỡ HSYK ở vùng núi tỉnh Cao
Bằng trong dạy học Toán 10 THPT 32

2.4.1. Biện pháp 1: Phối hợp giữa dạy học phân hóa với dạy học hợp
tác theo nhóm 32

2.4.2. Biện pháp 2: Chú trọng khâu gợi động cơ, hứng thú nhận thức
trong tổ chức hoạt động toán học cho HSYK 38

2.4.3. Biện pháp 3: Quan tâm củng cố kiến thức cốt lõi, trang bị tri
thức phương pháp, xác định các quy tắc thuật giải, tựa thuật giải cho
HSYK trong giải toán 48

2.4.4. Biện pháp 4: Tăng cường sử dụng các yếu tố trực quan và hoạt
động chuyển đổi ngôn ngữ trong dạy học toán 54

2.4.5. Biện pháp 5: Hình thành kỹ năng tự học toán và khai thác hợp
lý thời gian học tập cho HSYK 63

iiDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

ĐC Đối chứng
GV Giáo viên
HS Học sinh
THPT Trung học phổ thông
TN Thực nghiệm
HSYK Học sinh yếu kém
SGK Sách giáo khoa
Nxb Nhà xuất bản
PPDH Phương pháp dạy học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.1: Kết quả thi đầu vào hai môn Văn, Toán năm học 2010 - 2011 22

Bảng 1.2: Kết quả thi đầu vào hai môn Văn, Toán năm học 2011 - 2012 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
1MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã khẳng định: "Phải đổi mới
phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
thành nếp tư duy sáng tạo của HS. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên
tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời
gian tự học, tự nghiên cứu cho HS " . Tại điều 5, chương I, Luật Giáo dục đã
ghi: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của HS; Bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng
say mê và ý chí vươn lên”. Thực hiện nhiệm vụ trên trong những năm qua
ngành giáo dục đã và đang tiến hành đổi mới rất tích cực về mọi mặt: Chương
trình, nội dung, PPDH, phương tiện dạy học Nhưng cho đến nay việc đổi
mới PPDH chưa đem lại kết quả như mong đợi. Vì thế vấn đề nghiên cứu
những biện pháp nhằm đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động học
tập của HS vẫn có tính thời sự, đặc biệt là ở những vùng khó khăn.
Theo Trần Kiều [7], trong dạy học ở trường phổ thông cần tập trung
những định hướng sau: Thừa nhận, tôn trọng, hiểu, đồng cảm với nhu cầu, lợi
ích, mục đích cá nhân của HS. Đạt được độ tin cậy, tạo sức thu hút, thuyết
phục, kích thích động cơ bên trong của HS. Dựa vào kinh nghiệm của HS,
khai thác kinh nghiệm đó, dồn thành sức mạnh trong quá trình tự khám phá.

Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu thực tế, phát hiện ra được những nguyên
nhân dẫn đến yếu kém trong học môn Toán lớp 10 ở một số trường THPT
tỉnh Cao Bằng, trên cơ sở đó đưa ra được một số biện pháp dạy học Toán 10
nhằm khắc phục tình trạng yếu kém cho HS Cao Bằng.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán lớp 10 ở trường THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp nhằm giúp đỡ HSYK môn
Toán lớp 10.
3.3. Phạm vi nghiên cứu: HSYK vùng núi tỉnh Cao Bằng trong học tập
môn Toán lớp 10 THPT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
3

4. Giả thuyết khoa học
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, có thể xác định được những căn cứ
để trên cơ sở đó nếu xây dựng được những biện pháp sư phạm thích hợp để
khắc phục những nguyên nhân yếu kém Toán của HS lớp 10 ở tỉnh Cao Bằng
và thực hiện chúng thì sẽ giúp cho HS học toán tốt hơn, góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Điều tra thực trạng việc học môn Toán của HS lớp 10 ở một số
trường THPT tỉnh Cao Bằng. Từ đó chỉ ra một số đặc điểm của HS THPT
miền núi tỉnh Cao Bằng trực tiếp ảnh hưởng đến việc dạy học toán
5.2. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc khắc phục tình trạng yếu kém
trong học môn Toán ở trường THPT.
5.3. Xác định căn cứ và đề xuất một số biện pháp sư phạm giúp đỡ
HSYK vùng núi tỉnh Cao Bằng trong dạy học môn Toán lớp 10 THPT.

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Luận văn sử dụng 27 tài liệu tham khảo và có 3 phụ lục đính kèm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
5

Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Dạy học phân hóa
1.1.1 Nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học
Nguyên tắc này liên quan mật thiết đến các đặc điểm tâm lí của HS trong
việc học toán: Mỗi HS khỏe mạnh, bình thường về mặt tâm lí không bệnh tật
đều có khả năng tiếp thu môn Toán theo yêu cầu của chương trình phổ thông.
Tuy nhiên, nếu mọi HS đều như nhau về mặt thể lực có thể học toán đạt được
yêu cầu của chương trình thì đồng thời lại có sự khác biệt về tâm lí cá nhân
giữa HS này với HS khác trong học toán. Nói một cách khác, không phải mọi
HS đều có khả năng tiếp thu như nhau. Có em tiếp thu nhanh, dễ dàng, có em
chậm và phải cố gắng nhiều hơn. Sự khác biệt cá nhân này là một tồn tại
khách quan. Đồng thời có những em có năng khiếu đặc biệt, nếu được bồi
dưỡng đúng đắn thì có thể trở thành những nhà toán học xuất sắc. Điều này
dẫn đến việc dạy toán phải vừa sức HS, tức là thích hợp với các loại đối tượng
HS, làm cho tất cả các em tiếp thu được môn Toán với sự nỗ lực trí tuệ nhất
định, đồng thời làm cho các em khá toán, giỏi toán phát triển được sở trường,
năng lực toán học của mình.
Để đạt được mục tiêu đó GV cần có một số biện pháp phù hợp trong dạy
học để đảm bảo nguyên tắc này: Nghiên cứu hệ thống câu hỏi nêu vấn đề cho
từng loại đối tượng trung bình, khá, giỏi. Nghiên cứu hệ thống bài tập cho

thú….Vì vậy sự vừa sức phải chú ý đến những đặc điểm cá biệt. Điều kiện
dạy học hiện nay ở nước ta là dạy từng lớp với khoảng 35-45 HS. Điều đó đòi
hỏi người GV phải tiến hành dạy học và giáo dục cả lớp như một tập thể học
tập, tạo điều kiện và tổ chức công tác học tập của tất cả HS, đồng thời phải
tính tới những đặc điểm cá biệt của từng HS nhằm đạt được hiệu quả dạy học
và góp phần phát triển những tư chất tốt đẹp của các em.
Để đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm cá biệt trong điều
kiện tiến hành dạy học với cả tập thể cần: Xác định mức độ tính chất khó
khăn trong quá trình dạy học để thiết lập những cách thức chủ yếu tạo nên
động lực học tập, mở rộng khả năng nhận thức của HS, suy nghĩ những biện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16
7

pháp tiến hành chung với cả lớp và với từng HS. Phối hợp hình thức lên lớp,
hình thức độc lập công tác của HS và hình thức học tập nhóm tại lớp. Trước
tập thể lớp, GV đề ra nhiệm vụ chung và dưới sự chỉ đạo của GV, từng cá
nhân suy nghĩ cách giải quyết. Trong thời gian đó, GV giúp đỡ những HSYK.
Với cách tổ chức như vậy thì chỉ là sự làm việc cùng nhau của những cá nhân
cùng học. Đó là hình thức phối hợp đơn giản nhất của các cá nhân trong tập
thể người cùng học. Một hình thức tổ chức tiết học khác là GV chỉ đạo việc
thực hiện theo nhóm những ý kiến, những ý tưởng hoặc những cách giải quyết
vấn đề khác nhau của từng người để đi đến kết luận chung của cả nhóm, sau
đó cử đại diện của mình trình bày ý kiến. Trên cơ sở đó, cả lớp trình bày và đi
đến kết luận chung, còn GV lúc này đóng vai trò là người chỉ đạo, người cố
vấn, người trọng tài. Với hình thức này thì sự phối hợp giữa hoạt động cá
nhân và tập thể đạt được hiệu quả cao hơn rất nhiều.
Để thực hiện nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức trong dạy học, đặc biệt

Tránh tư tưởng đồng nhất trình độ dẫn đến đồng nhất nội dung học tập cho
mọi đối tượng HS.
Để làm tốt nhiệm vụ này người GV cần có biện pháp phát hiện phân loại
được nhóm đối tượng HS về khả năng lĩnh hội kiến thức và trình độ phát triển
bằng cách giao nhiệm vụ phù hợp với khả năng của từng em. Nêu những câu
hỏi khó hơn cho các em có nhận thức khá giỏi, ngược lại khuyến khích các
em yếu kém bởi những câu hỏi ít đòi hỏi tư duy hơn, kèm theo những câu hỏi
gợi ý hoặc câu hỏi chẻ nhỏ. Thông thường, trong lớp học có ba nhóm đối
tượng HS: Đối tượng HSYK, đối tượng HS trung bình và đối tượng HS khá
giỏi. Đối tượng HSYK cần có sự quan tâm giúp đỡ nhiều hơn của GV, các
câu hỏi vấn đáp cần có gợi mở, chia nhỏ, còn đối tượng học khá giỏi cũng được
quan tâm song có hạn chế nhằm phát huy tối đa tính tự giác, độc lập của HS.
- Tổ chức những pha phân hóa ngay trên lớp:
Trong lớp học luôn phân ra ba nhóm đối tượng khác nhau: Nhóm HSYK,
nhóm có học lực trung bình và nhóm HS khá giỏi. Trong quá trình dạy học,
vào những thời điểm thích hợp có thể thực hiện những pha phân hóa tạm thời,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18
9

tổ chức cho HS hoạt động một cách phân hóa. Biện pháp này được sử dụng
khi trình độ HS có sự sai khác lớn, có nguy cơ yêu cầu quá cao hoặc quá thấp
nếu cứ dạy học đồng loạt. Trong những pha này, ta giao cho học sinh những
nhiệm vụ phân hóa thường thể hiện bởi bài tập phân hóa, từ đó điều khiển họ
giải những bài tập này theo từng nhóm và tạo điều kiện giao lưu gây tác động
qua lại cho người học.
Ra bài tập phân hóa là để cho các đối tượng HS khác nhau có thể tiến
hành các hoạt động khác nhau với trình độ khác nhau, họ có thể phân hóa về

theo cặp, học theo nhóm…Với hình thức này, có thể tận dụng chỗ mạnh của một
số HS khác trong cùng nhóm. Tác dụng điều chỉnh này có ưu điểm so với tác
dụng của GV là: Có tính thuyết phục, nêu gương, không có tính chất áp đặt…
- Phân hóa bài tập về nhà:
Trong dạy học phân hóa, GV không những thực hiện các pha phân hóa
trên lớp mà còn ở những bài tập về nhà, người GV cũng có thể sử dụng các
bài tập phân hóa nhưng cần lưu ý:
Phân hóa về số lượng bài tập cùng loại: Tùy theo đặc điểm từng loại đối
tượng mà GV giao số lượng bài tập thích hợp. Chẳng hạn HSYK về kĩ năng
thực hành tính toán cần giao nhiều bài tập thực hiện tính toán hơn.
Phân hóa về nội dung bài tập: Bài tập mang tính vừa sức, tránh đòi hỏi
quá cao hoặc quá thấp cho HS. Đối với HS khá giỏi cần ra thêm những bài tập
nâng cao, đòi hỏi tư duy nhiều, tư duy sáng tạo. Còn đối với HSYK, bài tập
có thể hạ thấp mức độ khó, chứa nhiều yếu tố dẫn dắt,chủ yếu là bài tập mang
tính rèn luyện kĩ năng. Ra riêng những bài tập nhằm đảm bảo trình độ xuất
phát cho những HSYK để chuẩn bị cho bài học sau.
- Phân hóa trong việc kiểm tra, đánh giá học sinh:
GV nên đưa ra yêu cầu cao hơn đối với HS khá giỏi, hạ thấp yêu cầu đối
với HSYK. Bên cạnh những câu hỏi và bài tập hướng vào yêu cầu cơ bản, cần
có những câu hỏi và bài tập nâng cao, đào sâu, đòi hỏi vận dụng kiến thức
một cách tổng hợp để phân loại được HS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20
11

1.1.3 Phân bậc hoạt động trong dạy học phân hóa
Một điều quan trọng trong dạy học là phải xác định được những mức độ
yêu cầu thể hiện ở những hoạt động mà HS phải đạt được vào cuối cùng hay ở


Ví dụ: Định lí về đường thẳng đồng quy bị cắt bởi nhiều đường thẳng
song song, ta phân bậc theo số tia trong chùm đường thẳng và số đường thẳng
song song.
- Mức độ khó, dễ của nội dung:
Nội dung của hoạt động chủ yếu là những tri thức liên quan đến hoạt
động và những điều kiện khác của hoạt động. Nội dung hoạt động càng tăng
thì hoạt động càng khó thực hiện cho nên nội dung cũng là một căn cứ phân
bậc hoạt động.
- Yêu cầu về phát triển trí tuệ của HS:
Tăng dần từ mức độ cụ thể đến trừu tượng trong quá trình HS nhận thức
khái niệm. Tăng từ mức độ đặc biệt hóa đến khái quát hóa trong quá trình HS
nhận thức định lí và tính chất.
Ví dụ: Từ định lí: “Tổng các góc trong một tam giác bằng 180
0
” (1) mà
HS đã biết, GV giúp HS phát hiện ra kiến thức mới “Định lí: Tổng các góc
trong của một tứ giác bằng 360
0
” (2), “Định lí: Tổng các góc trong của một
ngũ giác bằng 540
0
” (3), Tổng quát ta có “Định lí: Tổng các góc trong của
một đa giác n cạnh bằng (n-2).180
0
”.
- Yêu cầu về trình độ lĩnh hội của HS:
Tùy theo mức độ lĩnh hội (tính độc lập, độ thành thạo) của HS mà phân
bậc hoạt động: Tìm hiểu, tái hiện, vận dụng hay sáng tạo.
Ví dụ : Giải phương trình bậc hai có thể chia làm 3 mức độ:

- Ở HS có sức học yếu kém hoặc thiếu khả năng học tập thì vốn kiến
thức thường nghèo nàn và có thể không hình thành được phẩm chất trí tuệ
như những bạn đồng trang lứa.
Trong quá trình học tập, sự biến đổi nhận thức của HS chịu sự tác động
của nội dung, phương pháp và các hình thức dạy học dưới ảnh hưởng của điều
kiện KT-XH, phong tục tập quán, lối sống đã được hình thành ở HS. Như
vậy, đặc điểm quá trình nhận thức của HS bao gồm những yếu tố đã ổn định
và những yếu tố mới phát triển trong quá trình dạy học và giáo dục. Đặc điểm
nổi bật trong tư duy của HSYK ở vùng núi là thói quen lao động tri óc chưa
bền, ngại suy nghĩ. Trong học tập, HS có thói quen suy nghĩ một chiều, dễ
thừa nhận điều người khác nói. Khi nêu kết luận hay hiện tượng, HS ít đi sâu
tìm hiểu nguyên nhân, ý nghĩa hoặc những diễn biến và ý nghĩa của sự việc,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 23
14

hiện tượng đó. Các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ, tính
kiên trì, tính kỷ luật của HS chưa được chuẩn bị chu đáo. Quá trình chuyển
hoá nhiệm vụ, yêu cầu học tập, cũng như cơ chế hình thành ở bản thân HS
diễn ra còn chậm. Do sống từ nhỏ trong không gian rộng, tiếp xúc nhiều với
thiên nhiên, nên nhận thức cảm tính của HS phát triển khá tốt. Cảm giác, tri
giác của các em có những nét độc đáo, tuy nhiên còn thiếu toàn diện, chưa
thấy được bản chất của sự vật, hiện tượng. Quá trình tri giác thường gắn với
hành động trực tiếp, gắn với màu sắc hấp dẫn của sự vật tạo ra xúc cảm ở HS.
Đối tượng tri giác của HS chủ yếu là sự gần gũi cây cối, con vật, thiên nhiên;
Tri giác thời gian bằng những quy ước có tính cộng đồng nhỏ thiếu chuẩn
mực, như: Khoảng vài quả đồi, vài cối gạo, buổi làm thay cho các đại lượng
đo thời gian và không gian.

việc giải quyết nhiệm vụ học tập.
- Giảm hứng thú học tập cũng như mức độ động cơ nhận thức; Hình thành
dần dần hệ thống động cơ khác không phù hợp với hoạt động trí tuệ tích cực.
- Đánh mất niềm tin vào chính mình, cảm thấy không đủ sức lĩnh hội tài
liệu mới và tự cho rằng tất cả mọi nỗ lực cũng không thể nào vượt qua sự thất
bại trong học tập.
- Sự vi phạm các qui chế đối với HS trong học đường ngày càng trầm trọng.
Tuy nhiên, các tác giả đều nhất trí cho rằng với những tác động sư phạm
đúng đắn, có thể ngăn ngừa được hoặc làm giảm bớt những hậu quả nêu trên.
Vì vậy việc phân loại đối tượng HSYK là một việc làm rất cần thiết và phải được
tiến hành ngay từ đầu năm học. Vậy cần xét xem với những nguyên nhân cơ bản
nào đã tạo nên lực cản trong quá trình tiếp thu kiến thức toán học của HS?
Chúng tôi đã tìm hiểu thực tế giảng dạy toán ở THPT thông qua hình
thức dự giờ thăm lớp; Trao đổi với đồng nghiệp trong tổ, nhóm chuyên môn;
Rộng hơn nữa là qua những lần tham gia các cuộc hội thảo, các lớp bồi dưỡng
chuyên môn do các cấp (Sở Giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo) tổ
chức, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng HSYK
Toán. Có thể xem xét các nguyên nhân từ một số khía cạnh như sau:
- Về điều kiện xã hội:
Tình hình kinh tế xã hội ở nước ta có nhiều biến đổi dẫn đến nhu cầu về
vật chất, tinh thần của mỗi người ngày một cao. Bên cạnh mặt tích cực chiếm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25

Trích đoạn Biện pháp 3: Quan tâm củng cố kiến thức cốt lõi, trang bị tr Biện pháp 4: Tăng cường sử dụng các yếu tố trực quan và hoạt Biện pháp 5: Hình thành kỹ năng tự học toán và khai thác hợp Biện pháp 7: Xây dựng hệ thống bài tập để nâng cao kỹ năng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status