Nghiên cứu liều lượng đạm bón để xây dựng công thức bón phân hợp lý thông qua chỉ số diệp lục cho ngô vụ xuân tại Thái Nguyên - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM QUỐC TOÁN

NGHIÊN CỨU LIỀU LƢỢNG ĐẠM BÓN
ĐỂ XÂY DỰNG CÔNG THỨC BÓN PHÂN HỢP LÝ
THÔNG QUA CHỈ SỐ DIỆP LỤC CHO NGÔ
VỤ XUÂN TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, Năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào. Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này
đều đã được chỉ rõ nguồn gốc. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, trước phòng
quản lý sau đại học và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài. Thái Nguyên, ngày 15 tháng 09 năm 2012
Người viết cam đoan Phạm Quốc Toán

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa

Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
vii
Danh mục các bảng biểu
viii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
x
MỞ ĐẦU
1
1.Tính cấp thiết của đề tài
1
2.Mục tiêu của đề tài

19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iv
1.3.1.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
19
1.3.2.Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
22
1.3.3.Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Thái Nguyên
25
1.4. Kết luận rút ra từ phần tổng quan tài liệu
27
Chương 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠN G PHÁP NGHIÊN CỨU
28
2.1. Đối tượng nghiên cứu
28
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm.
29
2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
29
2.3.1. Nội dung nghiên cứu
29
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu
29
2.3.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
29
2.3.2.2. Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi
32
2.4. Phương pháp phân tích số liệu

45
3.1.3.Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến khả năng chống chịu
của một số giống ngô lai
47
3.1.3.1.Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến khả năng chống đổ
của một số giống ngô lai
47
3.1.3.2.Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến một số loại sâu bệnh
hại chính
50
3.1.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến yếu tố cấu thành năng suất,
năng suất một số giống ngô lai thí nghiệm
52
3.1.4.1. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến yếu tố cấu thành
năng suất của một số giống ngô lai thí nghiệm
52
3.1.4.2. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất lý thuyết
và năng suất thực thu của một số giống ngô lai thí nghiệm
59
3.2. Xác định lượng đạm bón cho ngô vào thời kỳ 7-9 lá trên cơ sở đánh
giá tình trạng dinh dưỡng đạm của cây thông qua chỉ số diệp lục
62
3.2.1.Tình trạng dinh dưỡng đạm trong cây của một số giống ngô lai
62
3.2.1.1.Diễn biến hàm lượng đạm trong cây
62
3.2.1.2.Tương quan giữa hàm lượng đạm trong cây với năng suất
và năng suất ngô
63
3.2.2. Xác định lượng đạm bón vào thời kỳ 7-9 lá trên cơ sở đánh giá


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu
Chữ đƣợc viết tắt
CSDL
Chỉ số diệp lục
CT
Công thức
CV(%)
Hệ số biến động
ĐHNL
Đại học Nông Lâm
ĐVT
Đơn vị tính
A, B
LVN14, LVN99

VX 2011
Vụ Xuân 2011
VX 2012
Vụ Xuân 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1. Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn sinh trưởng
14
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất ngô thế giới từ năm 1961 – 2009
19
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2010
20
Bảng 1.4. Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020
22
Bảng 1.5.Tình hình sản xuất ngô Việt Nam từ năm 1960 - 2010
23
Bảng 1.6.Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên năm 2001 – 2010
26
Bảng 2.1.Các công thức thí nghiệm và thời kỳ bón đạm
30
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến thời gian sinh trưởng qua các thời
kỳ phát dục của giống ngô lai LVN14 và LVN99 vụ Xuân 2011-2012

37

58
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất lý thuyết và
năng suất thực thu của giống ngô lai LVN14 và LVN99 vụ
Xuân năm 2011-2012
60
Bảng 3.12. Hệ số tương quan giữa hàm lượng đạm trong cây với các
yếu tố cấu thành năng suất, năng suất ngô của giống ngô lai
LVN14 và LVN99 qua 2 vụ Xuân năm 2011 – 2012
64
Bảng 3.13. Hệ số tương quan giữa chỉ số diệp lục với yếu tố cấu thành
năng suất, năng suất ngô, hàm lượng protein trong hạt vụ Xuân
năm 2011 – 2012
69
Bảng 3.14. Mô hình phân tích tương quan đa biến để dự đoán năng suất
ngô và hàm lượng protein trong hạt dựa trên chỉ số diệp lục của lá
70
Bảng 3.15. Lượng đạm bón vào thời kỳ 7 – 9 lá cho ngô vụ xuân ở
Thái Nguyên theo chỉ số diệp lục
71

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1997) [23] cộng với đặc tính nông sinh học quý như: thích ứng rộng, chống chịu tốt
với các điều kiện bất thuận, hiệu suất quang hợp lớn có tiềm năng năng suất cao nên
cây ngô đã được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Ngoài chức năng làm lương thực cho người và thức ăn cho chăn nuôi thì
ngô còn là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp đặc biệt là công
nghiệp chế biến. Từ ngô người ta sản xuất ra được 670 mặt hàng khác nhau của
các ngành lương thực thực phẩm, công nghiệp dược và công nghiệp nhẹ.
Ở Việt Nam, cây ngô được di cư đến cách đây 300 năm, mặc dù là cây
lương thực đứng thứ 2 sau lúa nhưng thời gian đầu do không được chú trọng
nên cây ngô chưa phát huy tiềm năng của nó. Năng suất ngô Việt Nam những
năm 1960 chỉ đạt trên 1 tấn/ha. Đến đầu những năm 1990, nhờ hợp tác với
Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô
cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng năng suất lên gần 1,5
tấn/ha. Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô ở Việt Nam chỉ thực sự có những bước
tiến nhảy vọt từ những năm 1990 đến nay, đồng thời với việc không ngừng
mở rộng diện tích ngô lai, các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến đã được áp
dụng trong sản xuất. Ngô là cây lương thực có vị trí quan trọng được trồng ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
nhiều vùng sinh thái khác nhau, trong những năm gần đây sản xuất ngô phát
triển rất nhanh chóng. Theo thống kê 2010 diện tích trồng ngô cả nước là
1126,9 nghìn ha, năng suất đạt 40,9 tạ/ha và sản lượng đạt 4606,8 nghìn tấn
(Tổng cục thống kê, tháng 7, 2012) [28].
Để nâng cao hiệu quả sản xuất ngô ngoài việc mở rộng diện tích cần
thay đổi cơ cấu giống, đặc biệt là mở rộng diện tích trồng các giống ngô
lai, sử dụng phân bón hợp lý và áp dụng đồng bộ những biện pháp kỹ thuật
thâm canh cùng với các chính sách phù hợp. Ngô là cây phàm ăn, yêu cầu
bón nhiều phân, trong số các nguyên tố đa lượng thiết yếu thì đạm được xem

- Xác định lượng đạm bón cho ngô ở giai đoạn 7 – 9 lá thông qua chỉ số diệp lục.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Giúp các học viên củng cố kiến thức, tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa
học và áp dụng được những kiến thức lý thuyết đã học vào trong thực tiễn sản xuất.
- Kết quả của đề tài mở ra hướng nghiên cứu mới về phương pháp bón phân nói
chung, bón đạm nói riêng cho ngô và các loại cây trồng khác từ đó giúp nâng cao
năng suất các loại cây trồng; đồng thời giúp ổn định Nitơrat trong đất; nâng cao hiệu
lực đạm; giảm chi phí sản xuất; bảo vệ môi trường sống.
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Hiện nay, các giống ngô lai đang là lựa chọn của nhiều hộ nông dân tại
tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi Phía Bắc. Kết quả của đề tài bước đầu
xác định được lượng đạm tối ưu và thời kỳ bón tốt nhất để các giống ngô lai
LVN14, LVN99 phát huy được tiềm năng năng suất, từ đó nâng cao hiệu quả
kinh tế sản suất ngô tại tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Cây ngô là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, là cây ưa
nhiệt, có hệ thống rễ chùm phát triển (Ngô Hữu Tình, 1997) [23] và tiềm năng
năng suất lớn. Trong các biện pháp thâm canh tăng năng suất ngô, phân bón
giữ vai trò quan trọng nhất. Theo Berzeni và Gyorff (1996) [4], [36] thì phân
bón ảnh hưởng tới 30,7% năng suất ngô còn các yếu tố khác như mật độ,
phòng trừ cỏ dại, đất trồng có ảnh hưởng ít hơn. Sự hút các chất dinh dưỡng
thay đổi theo các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của ngô. Dựa vào biến đổi
hình thái của cây để xác định nhu cầu dinh dưỡng từng thời kỳ cho ngô.

1.2.1.1. Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai trên thế giới
Ngô lai có vai trò đặc biệt trong nền nông nghiệp của nước Mỹ. Các nhà
di truyền, cải lương giống ngô Mỹ đã sớm thành công trong việc chọn lọc và
lai tạo giống. Vào cuối thế kỷ 19, Mỹ đã có 770 giống ngô chọn lọc cải lương.
Theo E.Rinke (1979) việc sử dụng giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930,
giống lai ba và lai kép được sử dụng cho đến năm 1957, sau đó giống lai đơn
cải tiến và lai đơn đã được tạo ra và sử dụng, chiếm 80 – 85% tổng số giống
lai (Trần Hồng Uy, 1997) [30]. Mỹ là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế
giới và 100% diện tích được trồng bằng ngô lai, trong đó hơn 90% là giống lai
đơn. Năm 1997 – 1999, năng suất ngô trung bình của Mỹ là 8,3 tấn/ha trên
diện tích là 29,1 triệu ha (CIMMYT, 1999/2000) [37], là một trong số những
nước có năng suất ngô cao nhất trên thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
Lợi dụng ưu thế lai đã có từ lâu trong sản xuất nông nghiệp đối với cây
ngô, từ xa xưa những người thổ dân da đỏ ở Châu Mỹ đã biết cách gieo các
giống ngô khác nhau bên cạnh nhau, cho lai tự nhiên để nâng cao năng suất.
Trong quá trình nghiên cứu và sản xuất hiện tượng ưu thế lai ở cây ngô được
các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm. Thực hành tạp giao đầu tiên ở ngô với mục
đích nâng cao năng suất hạt là John Lorain, năm 1812 ông đã nhận thấy rằng việc
trộn lẫn các loài ngô khác nhau như người da đỏ đã làm sẽ cho năng suất ngô cao.
Tuy nhiên người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hiện tượng ưu thế lai là Charles
Darwin vào năm 1871. Bằng cách nghiên cứu hàng loạt các cá thể giao phối và tự
phối ở nhiều loài khác nhau như đậu đỗ, ngô, ông nhận thấy sự hơn hẳn của các
cây giao phấn với các cây tự thụ phấn về chiều cao, tốc độ nẩy mầm của hạt, số
quả trên cây và cả sức chống chịu với điều kiện bất thuận và năng suất hạt.
Sử dụng ưu thế lai trong tạo giống ngô lai được nhà nghiên cứu Wiliam,
Janes Beal người Mỹ bắt đầu nghiên cứu từ năm 1876, ông thu được những

Quốc là một cường quốc ngô lai của Châu Á, với diện tích 25 triệu ha, năng
suất 4,9 tấn/ha, sản lượng ngô hàng năm trên 120 triệu tấn, đứng thứ hai trên
thế giới sau Mỹ. Năng suất ngô bình quân của Trung Quốc đã tăng từ 1,5
tấn/ha những năm 50 đến 4,9 tấn/ha năm 1999 (CIMMYT, 1999/2000) [37].
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu về phân bón và bón đạm cho ngô trên thế giới
Đạm là một trong những nguyên tố dinh dưỡng có vao trò hết sức
quan trọng trong việc nâng cao năng suất ngô. Đạm là thành phần cấu trúc
của vách tế bào (William, 1993) [60]. Đạm là yếu tố cần thiết cho sự sinh
trưởng của cây và là thành phần của tất cả các protein. Khi thiếu N chồi lá
mầm sẽ không phát triển đầy đủ, sự phân chia tế bào ở đỉnh sinh trưởng bị
kìm hãm và kết quả là giảm diện tích lá, kích thước của cây và năng suất
giảm. Phân đạm có thể tạo ra sự tăng diện tích lá hiệu quả ngay từ đầu vụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
và duy trì một diện tích lá xanh lớn vào cuối vụ để quá trình đồng hóa
quang hợp đạt cực đại (Patrick, 2001[50]; Wolfe và cs, 1988 [61]). Mức
đạm thấp làm giảm số hạt và năng suất hạt (Barbieri và cs, 2000) [34],
(Minh-Tang Chang và cs, 2005) [49]. Các giống ngô lai khác nhau có thể sử
dụng phân đạm ở mức độ khác nhau, năng suất cây trồng cao cần phải cung
cấp một lượng lớn phân bón, đặc biệt là đạm (Debreczeni, K., 2000) [39].
Theo (Uhart và Andrade, 1995) [57], [58], thiếu đạm làm chậm sinh trưởng
của hai giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, giảm tốc độ
ra lá, hạn chế mạnh đến sự phát triển diện tích lá. Thiếu đạm hạn chế đến hiệu
quả sử dụng bức xạ, nhất là thời kỳ ra hoa, ảnh hưởng đến năng suất bắp tổng số.
Cũng theo hai tác giả trên việc cung cấp và tích luỹ N ở thời kỳ ra hoa có tính
quyết định số lượng hạt ngô, thiếu N trong thời kỳ này làm giảm khả năng đồng
hoá C của cây, nhất là giai đoạn ra hoa sẽ giảm năng suất hạt.
Theo De. Geus, 1973 [38], năng suất trung bình của các giống ngô lai

ngô non sự hút amonium-N nhanh hơn sự hút đạm nitrat, trái lại các cây
ngô già dạng đạm hút chủ yếu là đạm nitrat và có thể chiếm tới hơn 90%
tổng lượng đạm cây hút (Coic, 1964) (Barbieri và cs, 2000) [34].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
Năng suất ngô vùng Nhiệt đới thấp hơn năng suất ngô vùng Ôn đới bởi
chỉ số thu hoạch (HI) của ngô Nhiệt đới thấp hơn Goldsworthy và cs, 1974;
Fisher và Palamer, 1983) (dẫn theo Mitsuru, 1994 [47], 1995 [48]). Nhìn
chung, cây ngô quang hợp theo chu trình C4 và nó phù hợp nhiệt độ cao,
người ta thừa nhận là ngô có thể đạt năng suất chất khô cao ở vùng Nhiệt đới
(Evan, 1985) (dẫn theo Mitsuru, 1994) [47]. Để đạt được năng suất cao một
lượng đạm hữu hiệu phải được cây hút ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng vì từ
50 – 60% đạm trong hạt đã được lấy từ đạm đồng hoá ở trong lá và thân,
trước thời kỳ ra hoa (Crowford và cs, 1982; Mitsuru và cs, 1991b) (dẫn theo
Mitsuru, 1995) [48].
Kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã khẳng định, hiệu quả sử
dụng đạm của ngô rất thấp. Poss và Saragoni (1992) nhận thấy rằng 13 – 36
kg N/ha đã bị rửa trôi bên dưới vùng rễ ngô trong thời kỳ sinh trưởng. Mayers
(1988) đã xác định cây ngô chỉ hấp thu 20 – 40% lượng đạm cung cấp trong
suốt thời gian sinh trưởng (dẫn theo Sing và cs, 2004) [55]. Đạm rễ bị mất bởi
một phần các hợp chất đạm khoáng bị rửa trôi khỏi lớp đất cày (Misuxtin,
Peterburgxki, 1975) [46].
Năng suất ngô cao chỉ có thể đạt được khi thời gian diện tích lá xanh kéo
dài và tỷ lệ đồng hoá đạm cao sau thời kỳ ra hoa (Mitsuru, 1994) [47]. Một số
báo cáo về khả năng hút N cũng đã chỉ ra rằng tốc độ đồng hoá cực đại xảy ra
gần giai đoạn phun râu (Hay và cs, 1953; Hanway, 1962; Mengel và Barber,
1974; Bigeriego và cs, 1979) và kết thúc vào cuối giai đoạn tung phấn (dẫn theo
Mitsuru, 1995) [48]. Theo Moxolov (1979) [13], nếu mức dinh dưỡng nitơ đủ thì

ngô lai đã không phát huy được vai trò của nó. Phải đến những năm đầu của
thập kỷ 90 công tác chọn tạo giống ngô lai được các nhà khoa học coi là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
nhiệm vụ chiến lược chủ yếu, góp phần đưa nghề trồng ngô nước ta đứng
vào hàng ngũ những nước tiên tiến ở Châu Á. Trong những năm 1992-1994,
Viện nghiên cứu ngô đã lai tạo ra các giống ngô lai không quy ước là: LS-5,
LS-6, LS-7, LS-8. Bộ giống ngô lai này gồm những giống chín sớm, chín
trung bình và chín muộn, có năng suất từ 3-7 tấn/ha và đã được mở rộng trên
phạm vi toàn quốc, mỗi năm diện tích gieo trồng trên 80.000 ha tăng năng
suất 1 tấn/ha so với giống thụ phấn tự do (Trần Hồng Uy, 1997) [30].
Trong giai đoạn từ 1996 đến 2002 các nhà chọn tạo giống ngô Việt Nam
đã chú trọng đến việc tạo dòng thuần để tạo giống ngô lai. Kết quả đã đưa ra
được nhiều giông ngô lai có năng suất cao và đã đưa ra khảo nghiệm ở các
vùng sinh thái khác nhau như: LVN4, LVN10, LVN17, LVN20, LVN25
Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam trong giai đoạn này cũng
nghiên cứu và lai tạo ra giống ngô lai đơn V98 - 1. Đây là giống ngô lai đơn
ngắn ngày có tiềm năng năng suất cao chống chịu đổ ngã, nhiễm khô vằn nhẹ
(ở mức độ điểm 1 - 2), trồng được nhiều vụ trong năm, thích hợp với điều kiện
sinh thái ở Miền Nam Việt Nam (Phạm Thị Rịnh và cs) [18]. Trong giai đoạn
2006-2010 đã có rất nhiều giống ngô lai mới có năng suất, chất lượng được
đưa vào sản xuất. Bộ giống ngô lai trong sản xuất rất đa dạng về chủng loại,
hầu hết các giống được xếp vào 2 nhóm giống:
- Nhóm giống có thời gian sinh trưởng dài (LVN10, LVN98, CP888 ) bố
trí trên các chân đất bãi ven sông, đất 1 vụ lúa, đất chuyên ngô và vụ Đông sớm.
- Nhóm giống có thời gian sinh trưởng từ trung bình đến trung bình sớm
(LVN4, LVN99, VN8960, LVN145, LVN45, CP999, CP989, PC3Q, CP333,
CPA88, NK4300, NK54, NK66, NK6654, C919, DK9955, DK9901,

cho Nông dân vùng Đông Nam Châu Á” (AMNET), chúng ta đã thu thập được
một số nguồn nguyên liệu mới từ CIMMYT và các nước trong khu vực, bước
đầu tạo ra một số tổ hợp lai có triển vọng. Nhờ nguồn nguyên liệu tạo dòng khá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
phong phú và được thử nghiệm trong điều kiện sinh thái và mùa vụ nên các
giống ngô lai mới tạo ra đã tỏ ra có nhiều ưu thế hơn như: chịu hạn, chống đổ, ít
nhiễm sâu bệnh, chất lượng và màu dạng hạt tốt hơn. Điển hình là các giống dài
ngày, tỷ lệ 2 bắp/cây cao như: LVN98, LVN145 có màu dạng hạt đẹp, thời gian
sinh trưởng ngắn; một số giống ngô chịu hạn tốt, thích nghi với nhiều vùng sinh
thái khác nhau như:VN8960, LCH9, LVN61, LVN14.
Nhờ nỗ lực không ngừng trong việc nghiên cứu và ứng dụng ngô lai trong
sản xuất, đến năm 2007 giống ngô lai chọn tạo của Việt Nam chiếm 32,5% diện
tích, giống nước ngoài chiếm 52,3%. Số giống ngô có mặt trong sản xuất là 114
giống, trong đó 10 giống được ưa chuộng nhất là LVN10, CP888, B9698,
CP999, C919, G49, B9681, P11, LVN4, CP989 với diện tích chiếm gần 73%
diện tích gieo trồng, riêng giống LVN10 chiếm 25%. Khác với lúa lai, các giống
ngô lai chủ yếu sản xuất trong nước, đơn vị chính tham gia sản xuất và cung ứng
giống ngô lai là CP Group, Bioseed, SSC, NSC, Syngenta, Monsanto và Viện
nghiên cứu ngô với thị phần được thể hiện ở biểu đồ 1.1.

Biểu đồ 1.1. Cơ cấu thị phần giống ngô lai ở Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng ngành giống cây trồng Việt Nam, 2007)[1]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Kết quả theo dõi ở bảng 3.7 cho thấy, giống LVN14 bị sâu đục thân tương đương giống LVN99 Tương tác giữa giống và lượng đạm bón có ý nghĩa Số hàng hạt/bắp Thời kỳ thu hoạch hàm lượng đạm trong cây thấp nhất Cả hai giống đều có xu hướng biến động giữa các công thức tương tự như thời kỳ Tài liệu Tiếng Việt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status