Tiểu luận Phân tích chính sách thuế Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế thu nhập cá nhân - Pdf 24

Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

MỤC LỤC

Lời mở đầu 2
Chương 1 : Tổng quan về Thuế TNCN và lạm phát 3
1. Thuế thu nhập cá nhân 3
1.1 Giới thiệu 3
1.2 Quan điểm, mục tiêu và yêu cầu của Thuế TNCN 3
1.2.1 Quan điểm và mục tiêu 3
1.2.2 Yêu cầu của Thuế TNCN 4
2. Lạm phát 4
2.1 Khái niệm lạm phát 4
2.2 Phân loại lạm phát 5
2.2.1 Lạm phát vừa phải 5
2.2.2 Lạm phát phi mã 5
2.2.3 Siêu lạm phát 5
2.3 Các chỉ số đo lường lạm phát 5
2.4 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát 6
2.4.1 Lạm phát do cầu kéo 6
2.4.2 Lạm phát do cung 6
2.4.3 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ 7
Chương 2 : Ảnh Hưởng của Lạm Phát đến Thuế TNCN 7
1. Lạm phát tác động đến thuế TNCN hiện nay 7
1.1 Lạm phát tác động đến thuế TNCN từ tiền lương tiền công 7
1.2 Lạm phát tác động đến thuế TNCN từ thu nhập trên vốn 13
2. Thuế TNCN ảnh hưởng đến lạm phát ở Việt Nam 14
Chương 3 : Nhận Xét và Kiến Nghị 15
1. Nhận xét 15
1.1 Kết quả đạt được 15
1.2 Những mặt hạn chế 15

HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 2
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
VÀ LẠM PHÁT
1. Thuế Thu Nhập Cá Nhân
1.1 Giới thiệu :
Luật thuế thu nhập cá nhân (Thuế TNCN) được Quốc Hội khóa XII, kỳ họp
thứ 2 thông qua và ban hành ngày 21/11/2007, số hiệu 04/2007/QH12, về việc quy
định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế
và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu điều tiết thu nhập của cá nhân,
được xây dựng trên các nguyên tắc “lợi ích”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế”.
Theo nguyên tắc lợi ích thì mọi người trong xã hội đều được hưởng những thành
quả phát triển của đất nước về thể chế luật pháp, cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an
ninh trật tự … đồng thời cũng có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình
cho xã hội thông qua việc nộp thuế. Nguyên tắc “công bằng” và “khả năng nộp
thuế” thể hiện ở chỗ: người có thu nhập cao hơn thì nộp thuế nhiều hơn, người có
thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn, người có
thu nhập thấp chưa phải nộp thuế. Thời gian qua ở nước ta, khoảng cách chênh lệch
về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng
có xu hướng ngày càng tăng (trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2004, khoảng
cách này đã tăng từ 3,7 lần lên đến 13,5 lần). Như vậy, việc áp dụng thuế thu nhập
cá nhân sẽ góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính
sách thuế và hạn chế sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng
lớp dân cư, đồng thời Nhà nước sẽ nắm được thông tin về thu nhập của cá nhân góp
phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
1.2 Quan điểm, mục tiêu và yêu cầu của Thuế TNCN :
1.2.1 Quan điểm và mục tiêu

khoảng thời gian nhất định.
Lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế. Điều này có
thể được tóm tắt trong phương trình của Fisher :
M.V = P.Y
Trong đó: M: Lượng cung tiền danh nghĩa
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
P: Chỉ số giá (mức giá trung bình)
Y: Sản lượng thực
HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 4
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

Nếu mức giá điều chỉnh để giữ cho sản lượng thực tế duy trì ở mức sản
lượng tiềm năng Y*, mức sản lượng này được giả định không thay đổi, thì khi đó
tổng khối lượng tiền lưu hành (M) và mức giá trung bình (P) phải vận động cùng
nhau. Và nếu thêm vào đó là tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì (P) lại tăng rất
nhanh. Quan điểm trên giúp ta hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng không chỉ ra
nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát.
• Quan điểm khác cho rằng lạm phát là việc phát hành tiền giấy vượt quá mức
đảm bảo, vì vậy gây ra sự mất giá của tiền giấy làm cho giá cả hàng hóa bị đẩy lên
cao.
• Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư
liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động). Khi mức giá chung của
giá cả và chi phí tăng, thì lạm phát xảy ra.
Khi mức giá chung (P) tăng lên thì sức mua của đồng tiền sẽ giảm xuống.
Nhìn chung, lạm phát là sự gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu
thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên
đồng loạt trong nền kinh tế.
2.2. Phân loại lạm phát:
Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh tế học chia lạm phát ra làm 3 loại :
2.2.1 Lạm phát vừa phải (còn gọi là lạm phát nước kiệu hay lạm phát một

 Chi tiêu của Chính phủ tăng lên làm cho mức cầu về hàng hoá tăng.
 Ngân hàng Trung ương tăng lượng cung tiền.
 Khu vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên chi tiêu dùng của các hộ gia
đình và đầu tư tự định tăng lên.
 Người nước ngoài tăng mua hàng hóa và dịch vụ trong nước.
Trong các phân tích trên, tổng cầu tăng làm cho sản lượng tăng lên, đồng
thời mức giá cũng tăng làm xảy ra tình trạng lạm phát trong ngắn hạn. Song nếu nền
kinh tế chưa đạt được mức sản lượng tiềm năng thì việc tăng tổng cầu trong trường
hợp này trở thành một chính sách lạm phát có hiệu quả để thúc đẩy sản xuất xã hội
làm cho kinh tế tăng trưởng.
2.4.2 Lạm phát do cung (lạm phát do chi phí đẩy):
Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít mà chi phí sản xuất tăng
vượt quá mức tăng của năng suất lao động thì sẽ sinh ra lạm phát do chi phí đẩy.
Chi phí sản xuất tăng lên tạo áp lực “đẩy” giá bán sản phẩm tăng lên hoặc có thể
làm giảm mức cung ứng hàng hoá của xã hội. Chi phí sản xuất tăng lên có thể xuất
phát từ những nguyên nhân sau :
 Tiền lương tăng lên trong khi năng suất lao động không đổi
 Thuế tăng, lãi suất tăng
 Thiên tai mất mùa, chiến tranh…
HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 6
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

 Giá các nguyên vật liệu chính tăng cao…
2.4.3 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ
Những nhà kinh tế học thuộc phái tiền tệ cho rằng lạm phát là do lượng cung tiền
thừa quá nhiều trong lưu thông gây ra và được giải thích bằng phương trình số lượng sau:
M.V = P.Y
Trong đó: M: Lượng cung tiền danh nghĩa
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
P: Chỉ số giá (mức giá trung bình)

Luật quy định thuế thu nhập cá nhân thực hiện ổn định trong 5 năm, nhưng
trong 5 năm giá cả đã biến động rất nhiều và mức lương tối thiểu đã được Chính
phủ thay đổi tăng lên theo từng năm thì mức thuế thu nhập không còn phù hợp là
điều dễ hiểu. Do đó thuế thu nhập cá nhân không nên đưa ra con số khởi điểm chịu
thuế “cứng’ như hiện nay. Thuế không thể đi trước hoặc đi sau đời sống xã hội.
Vì vậy, để không ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người trong đó có cán
bộ, công chức, viên chức, Luật thuế thu nhập cá nhân cần được nghiên cứu sửa đổi
trong thời gian sớm nhất, trong đó phải tính đến mức độ lạm phát qua từng năm để
chính sách thuế không còn bất cập như hiện nay.
Các nhà kinh tế học thường phân biệt 2 loại lạm phát : lạm phát có thể tiên
liệu và lạm phát không thể tiên liệu. Lạm phát không tiên liệu được xem là không
hiệu quả vì nó không cho phép điều chỉnh hành vi con người một cách tối ưu đối
với sự tăng giá. Hệ thống thuế thu nhập thường thì không được chỉ số hóa theo lạm
phát. Thế nhưng ngay cả khi lạm phát được tiên liệu một cách hoàn hảo, lạm phát
vẫn gây ra những lệch lạc.
Ví dụ thực tế cho thấy : Ông Nguyễn Văn A (độc thân) công tác ở Công ty X,
có thu nhập lương 1 gói là 9 triệu đồng (đã trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc). Lạm
phát được tiên liệu hoàn hảo là 12%.
Theo luật thuế TNCN hiện hành thì Ông A được giảm trừ cho bản thân là 4
triệu đồng. Thu nhập chịu thuế là 9 triệu – 4 triệu = 5 triệu đồng, theo biểu thuế
TNCN thì Ông A đóng thuế bậc 1, thuế suất 5%, số tiền thuế TNCN phải nộp là : 5
triệu x 5% = 250 ngàn đồng/tháng.
HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 8
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

Do tình hình lạm phát, giá cả hàng hóa trên thị trường tăng 12%, Công ty cho
phụ cấp trượt giá 12% vào trong lương 1 gói của Ông A, lúc này lương 1 gói làm
tròn của Ông A là 10,1 triệu đồng. Thu nhập chịu thuế 10,1 triệu – 4 triệu = 6,1 triệu
đồng, theo biểu thuế TNCN hiện hành thì Ông A đóng thuế bậc 2, thuế suất 10%, số
tiền thuế thu nhập cá nhân phải nộp là : 6,1 triệu x 10% = 610 ngàn. Thu nhập danh

phát 60%, lương danh nghĩa tăng 60% để bù đắp trượt giá. Thu nhập danh nghĩa : 4
triệu x (1+60%) = 6,4 triệu, làm cho Ông B phải chịu thuế TNCN bậc 1 với thuế
suất 5%, thu nhập chịu thuế là : 6,4 – 4 = 2,4 triệu. Thuế TNCN phải nộp của Ông
B là : 2,4 x 5% = 120 ngàn (tính gần 1 ngày lương của Ông B lúc đầu)
Theo TS Trần Du Lịch “ Lạm phát là thuế vô hình đánh vào toàn dân. Mà
người thu nhập càng cố định thì thiệt hại càng lớn”. Chính vì vậy, lạm phát càng
tăng lên thì thu nhập thực tế của người dân càng giảm, sự sụt giảm cho thấy tác
động mạnh đến những người thu nhập thấp, mặc dù đã cộng vào tỷ lệ trượt giá vào
trong tiền lương.
Mức tăng giá tiêu dùng Nhóm I, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, đã lên tới
65% trong giai đoạn 2009 - 2012. Nếu đề xuất mức thu nhập tối thiểu chịu thuế
chỉ tăng có 50%. Có nghĩa là lạm phát đã đánh thuế vô hình vào thu nhập của người
dân, và người nghèo hơn phải đóng thuế thu nhập.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ năm 2009-2012, theo Tổng Cục thống kê, CPI
chung năm 2009 tăng 6,88%, năm 2010 tăng 9,19%, năm 2011 tăng 18,13%, còn
năm 2012 mục tiêu Chính phủ đặt ra là tăng khoảng 9%. Như vậy, CPI năm 2012 so
với năm 2009 đã tăng trên 50%.
Mức tăng này còn cao hơn nếu tính theo CPI nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn
uống, gọi chung là Nhóm I. Năm 2009, CPI Nhóm I tăng 26,13%, năm 2010 tăng
10,71%, 2009 tăng 8,71%. Giả sử CPI Nhóm I năm nay tăng bằng mức CPI chung
là 9% thì với cách tính trên, CPI Nhóm I năm 2012 so với năm 2009 tăng tới trên
HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 10
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

65%. Những con số này cho thấy, CPI chung và CPI Nhóm I năm 2012 so với năm
2009 đều tăng vượt 50%. Trong khi đó, mức giảm trừ 6 triệu và 2,4 triệu đồng mà
theo dự thảo điều chỉnh thuế TNCN dự định áp dụng từ năm 2014 chỉ tăng 50% so
với năm 2009. Có nghĩa, nếu so với mức tăng CPI thì mức tăng giảm trừ gia cảnh là
thấp hơn, ngay cả khi chỉ tính tới năm 2012. Hay nói cách khác, cùng một loại hàng
hóa dịch vụ, 6 triệu và 2,4 triệu của năm 2014 sẽ mua được ít hơn so với 4 triệu và

tối thiểu thay đổi thì mức tính thuế cũng thay đổi, theo tình hình kinh tế - xã hội ở
nước ta thì mức dao động có thể từ 8-10 lần. Ví dụ : năm 2006, mức lương tối thiểu
450 nghìn đồng, mức chịu thuế 4 triệu đồng (tỷ lệ 8,88 lần), khi mức lương tối thiểu
lên 830 ngàn thì là: 830.000 x 8,8 = 7,3 triệu đồng, và đến tháng 5/2012 thì
1.050.000 x 8,8 = 9,24 triệu . Mức lương tối thiểu từ tháng 05/2012 là 1.050.000
đồng và nếu áp dụng thu nhập khởi điểm chịu thuế là 6 triệu như dự thảo thì chênh
lệch với mức lương tối thiểu chỉ là 5,71 lần (so với chênh lệch 5,47 lần như hiện
hành thì tỷ lệ này là tương ứng). Tuy nhiên, luật thuế sửa đổi dự kiến áp dụng từ
2014. Lộ trình cải cách tiền lương, thông thường mỗi năm điều chỉnh lương tối
thiểu một lần, như vậy từ nay đến 2014 còn hai lần điều chỉnh lương tối thiểu. Với
tỷ lệ điều chỉnh khoảng 15 đến 20% như mấy năm qua, thì hai lần điều chỉnh sẽ là
30-40%, tức lương tối thiểu đến 2014 khoảng 1,5 triệu đồng. Tỷ lệ chênh lệch giữa
lương tối thiểu và khởi điểm chịu thuế khi đó chỉ còn 4 lần, xem như là quá thấp,
không phù hợp bối cảnh kinh tế - xã hội.
Việc lấy mức lương tối thiểu làm căn cứ tính thuế sẽ đảm bảo "độ bền" cho
đạo luật và phù hợp sự phát triển nền kinh tế : khi đời sống cải thiện thì lương tối
thiểu tăng, mức đóng thuế cũng tăng theo. Ngược lại, nếu các nhà làm luật "tính
cứng" là 6 triệu hay 7 triệu, thì đạo luật sẽ nhanh chóng lạc hậu và phải thường
xuyên sửa đổi, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát vẫn ở mức cao
Đối tượng bị thiệt khi lạm phát tăng cao là người có thu nhập trung bình và
khá. Có thể thấy điều này khi nhìn vào cơ cấu chi tiêu của các hộ gia đình có thu
nhập trên dưới 10 triệu -12 triệu đồng/tháng. Đây là nhóm hộ có tỉ lệ chi cho lương
thực, thực phẩm và hàng thiết yếu (ăn, mặc, ở) chiếm đa số, thậm chí đến 80% tổng
thu nhập. Do vậy, họ sẽ chịu tác động mạnh nhất từ việc tăng giá cả hàng hóa, dịch
vụ. Như vừa phân tích, CPI Nhóm I năm 2012 tăng hơn 65% so với năm 2009.
Nghĩa là họ đã chịu thiệt khi so với mức CPI chung và còn thiệt hơn nữa khi mua
lương thực, thực phẩm.
Ví dụ, giá nhà đất năm 2011 không tăng, thậm chí giảm, giúp kéo chỉ số CPI
chung xuống, nhưng giá lương thực, thực phẩm vẫn tăng cao. Nhiều hộ có thu nhập
trung bình không được hưởng mức giá nhà đất giảm, vì họ không có đủ tiền mua.

Vì vậy, từ những phân tích ở trên, việc điều chỉnh thuế suất thuế TNCN hoặc
điều chỉnh các mức giảm trừ để tính thuế thu nhập cá nhân phải dựa vào yếu tố lạm phát.
2. Thuế TNCN ảnh hưởng đến lạm phát ở Việt Nam:
- Theo các lý thuyết kinh tế, lạm phát và tăng giá có thể xuất phát từ nguyên nhân
cầu kéo hoặc chi phí đẩy. Trường hợp lạm phát do nguyên nhân cầu kéo làm giá cả tăng
HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 13
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

cao. Nhà nước có thể dùng biện pháp điều chỉnh tăng thuế tiêu dùng làm giảm bớt áp lực
tăng cầu giả tạo, trên cơ sở điều chỉnh lại quan hệ cung cầu.
- Nếu lạm phát nảy sinh từ chi phí đẩy, thì việc giảm thuế đối với các yếu tố đầu
vào là cần thiết nhằm giảm nhẹ áp lực tăng chi phí và tạo điều kiện hạ giá bán sản phẩm,
trên cơ sở đó lập lại quan hệ cung cầu, ổn định giá cả thị trường.
Do vậy, đối với từng loại nguyên nhân lạm phát thì từng loại thuế có những tác động
điều chỉnh khác nhau như sau :
Lạm phát cũng như là một đòn bẩy vào chính mức thuế thu nhập của người có thu
nhập. Cụ thể môi trường lạm phát cao thì làm cho các khoản mất đi từ thuế có tác động
lớn hơn rất nhiều so với môi trường lạm phát thấp (thuế trên thuế). Chính vì vậy, giảm
thuế trong môi trường lạm phát cao có tác dụng tích cực về hỗ trợ mức sống, hỗ trợ vốn
cho việc tiếp tục duy trì hoạt động đầu tư, kinh doanh. Ở Việt nam để giải quyết vấn đề
lạm phát và sự bất ổn của nền kinh tế trong thời gian qua đã có những điều chỉnh miễn
giảm thuế TNCN như :
Cụ thể trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn bị ảnh hưởng của suy thoái nền kinh tế
toàn cầu và lạm phát năm 2009, Nhà nước đã cho giãn Luật Thuế TNCN ngay từ năm
đầu tiên có hiệu lực từ ngày 0/01/2009 được Nhà nước cho miễn thuế 6 tháng đầu năm,
và mới đây cũng do ảnh hưởng nền kinh tế khó khăn và lạm phát cao, đến năm 2011,
Chính phủ đã đề xuất và được Quốc hội chấp thuận cho miễn thuế TNCN từ ngày
01/08/2011 đến 31/12/2011 đối với các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công, nằm
trong bậc 1 của biểu thuế lũy tiến. Theo hướng dẫn tại Thông tư số 113/2011/TT-BTC
của Bộ Tài chính, kể từ ngày 19-9-2011, các khoản thu nhập vãng lai trên 1 triệu đồng

 Mức giảm trừ cá nhân và giảm trừ cho người phụ thuộc theo Luật hiện hành là chưa
hợp lý, chưa tính đến sự mất giá của đồng tiền. Theo thời giá hiện nay, việc quy
định mức giảm trừ đối với đối tượng cá nhân người nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng;
mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng. Sau 2 năm triển
khai thực hiện, với tốc độ lạm phát hàng năm khá cao, mức giảm trừ này đã bộc lộ
những bất cập. Với tốc độ trượt giá hiện nay, mức thu nhập 4 triệu đồng/tháng
(tương đương 130.000 đồng/ngày) chỉ đủ để chi phí ăn ở, đi lại… cho một người ở
mức khá "tiết kiệm", mà chưa tính đến các nhu cầu giải trí, nghỉ dưỡng. Việc tích
lũy lại càng xa vời. Mức giảm trừ gia cảnh lại càng bất cập hơn, bởi đối tượng phụ
thuộc thường là những trẻ em đang trong độ tuổi ăn học, hay những người già rất
cần được chăm sóc sức khỏe. mà mức thu nhập 4 triệu đồng/tháng hiện nay chưa đủ
chi phí cho nhu cầu tối thiểu của người dân mà vẫn phải nộp thuế TNCN.
 Mức giảm trừ gia cảnh 1,6 triệu đ/người cũng sớm trở nên lạc hậu. Hơn nữa, việc
xác nhận hành chính (ở cấp chính quyền địa phương hoặc cơ quan) về vị thế và thực
HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 15
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

tế đã tính hay chưa tính giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc gây nhiều phiền toái và
khó chính xác cho cả người nộp thuế, lẫn cơ quan thu thuế.
 Biểu thuế suất quá dày, khoảng cách giữa các bậc chịu thuế quá thấp. Biểu thuế
suất như hiện nay không tạo động lực cho người dân làm việc, tăng thu nhập vì thu
nhập vừa nhích lên đã rơi vào bậc thuế khác và phải đóng thuế nhiều hơn.
 Mức giảm trừ gia cảnh hiện nay không tính đến khu vực, có nghĩa là ở nông thôn,
thành thị, miền núi hay đồng bằng đều áp dụng như nhau, nhưng thực tế cho thấy
mức chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày của một cá nhân ở thành thị là lớn hơn nhiều
so với ở nông thôn và miền núi. Thuế TNCN đã vô tình đánh vào chi phí của họ,
làm cho thu nhập thực tế giảm xuống.
 Thuế TNCN đánh trên đầu tư vốn như cổ tức, cá nhân đầu tư vốn mua cổ phần của
doanh nghiệp, sau khi doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp mới chia cổ
tức, cá nhân được nhận cổ tức, lại chịu thuế TNCN.

được mức chịu thuế cho từng thời điểm.
 Cần áp dụng kết hợp nhiều hình thức giảm trừ như : giảm trừ đối với các khoản chi
phí hợp lý trong thu nhập chịu thuế, các chi phí hợp lý của cá nhân như : chi phí
sinh hoạt bình quân, chi phí nuôi dưỡng người phụ thuộc : ăn uống, khám chữa
bệnh, học phí…, chi phí phục hồi sức lao động… nếu các cá nhân chứng minh được
các chứng từ hợp lệ, điều này còn khuyến khích các cá nhân tiêu dùng hàng hóa
dịch vụ sẽ yêu cầu đơn vị cung cấp hóa đơn chứng từ, hạn chế trốn tránh thuế trong
mua bán hàng hóa dịch vụ. Nếu cá nhân không chứng minh được chứng từ hợp lệ
thì áp dụng cách giảm trừ tiêu chuẩn.
Luật thuế TNCN phải đảm bảo việc khấu trừ những chi phí một cách hợp lý để
duy trì cuộc sống có chất lượng của cá nhân nộp thuế và tiếp tục tạo ra thu nhập.
Việc khấu trừ những chi phí hợp lý là cần thiết. Tuy nhiên, khấu trừ những khoản
chi phí nào, mức khấu trừ bao nhiêu, phương thức khấu trừ như thế nào là những
vấn đề lớn cần được cân nhắc, tính toán kỹ trên cơ sở những số liệu điều tra cụ thể,
chính xác, không nên thiết kế một cách áp đặt hoặc chung chung khó áp dụng. Để
đảm bảo việc áp dụng được chính xác và thuận tiện, việc quy định các khoản chi phí
được khấu trừ phải hết sức cụ thể, chính xác và minh bạch.
 Cần tính đến phương án điều chỉnh tăng mức khởi điểm chịu thuế tương ứng với
mức lạm phát tăng. Cụ thể : lạm phát tăng 5% thì tự động điều chỉnh khởi điểm chịu
thuế 5%.
 Cần nới rộng cơ sở tính thuế ở bậc 1 của thuế lũy tiến từng phần. Ví dụ : hiện nay
nâng lên đến 10 -15 triệu có thuế suất 5%.
 Cần miễn giảm thuế TNCN từ đầu tư góp vốn mua cổ phần vào doanh nghiệp, đặc
biệt đối với những doanh nghiệp đầu tư vào các vùng khó khăn cần khuyến khích
HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 17
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

đầu tư tư nhân, do tác động lạm phát ảnh hưởng làm giảm thu nhập thực tế và làm
giảm hiệu quả đầu tư.
PHẦN KẾT LUẬN.

tầng lớp dân cư nộp thuế, đồng thời có khả năng tăng được nguồn thu cho ngân
sách. Căn cứ tính thuế cũng cần phải quan tâm đến yếu tố gia cảnh của người nộp
thuế chịu sự ảnh hưởng của lạm phát.
Về công tác tổ chức thực hiện, chúng ta nên xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên
trách trong lĩnh vực quản lý việc kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân. Công tác
quản lý cần kết hợp ở cả nơi các cá nhân làm việc và nơi cư trú nhằm đảm bảo tính
chính xác và đầy đủ. Sự kết hợp giữa các cơ quan quản lý đối tượng lao động và cơ
quan thuế cần phải được tăng cường, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục về
thuế thu nhập cá nhân cũng phải được chú trọng hơn nữa, để thuế thu nhập cá nhân
ở Việt Nam sẽ phát triển và sớm trở thành một sắc thuế quan trọng trong hệ thống
thuế Việt Nam, phát huy tốt những vai trò và chức năng của nó để đưa nền kinh tế
phát triển liên tục và ổn định đồng thời đảm bảo được sự công bằng trong xã hội.
HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 19
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ phân tích được một số khía cạnh
của tác động của lạm phát đến thuế TNCN chưa bao quát được hết tất cả, cũng như
chưa khảo sát điều tra thực tế và chưa nghiên cứu phân tích đưa ra được mức giảm
trừ hợp lý cụ thể khi biết được tỷ lệ lạm phát. Đây là hướng nghiên cứu mở rộng
của đề tài sau này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ PGS.TS Sử Đình Thành và TS. Bùi Thị Mai Hoài, Tài chính công và phân
tích chính sách thuế, NXB LĐXH TP.HCM, 2010.
2/ Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007;
3/ Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ tài chính hướng dẫn thi
hành một số điều luật của Thuế thu nhập cá nhân.
4/ Thông tư 113/2011/TT-BTC ngày 04/08/2011 của Bộ Tài Chính
HV : Nguyễn Hồng Thái Trang 20
Đề tài : Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế TNCN. GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status