MỤC LỤC
Bảng 1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất 13
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm Error:
Reference source not found
Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Phú Lương năm 2011 – 2013
Error: Reference source not found
Bảng 1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất Error: Reference source not
found
Bảng 3.1. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại huyện Phú Lương. Error:
Reference source not found
Bảng 3.2. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi Error: Reference
source not found
Bảng 3.3. Các triệu chứng lâm sàng của lợn con khi mắc bệnh phân trắng Error:
Reference source not found
Bảng 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo mùa vụ Error: Reference
source not found
Bảng 3.5. Tỷ lệ lợn chết do mắc bệnh phân trắng theo ngày tuổiError: Reference
source not found
Bảng 3.6. Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng hai loại thuốc
Norfloxacin 5% và Colistin Error: Reference source not found
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CS
E.coli
Nxb
PTTH
THCS
TT
TTGDTX
LT
ST
1.1.1.2. Địa hình, đất đai
Địa hình Phú Lương tương đối phức tạp, độ cao trung bình so với mực
nước biển từ 100 – 400m.
Tổng diện tích tự nhiên 368,82 km
2
, trong đó có đất nông nghiệp
119,79 km
2
; đất lâm nghiệp 164,98 km
2
(chiếm 44,73% tổng diện tích đất tự
nhiên); đất nuôi trồng thủy sản 6,65 km
2
; đất phi nông nghiệp 46,63 km
2
; đất
chưa sử dụng 31,64 km
2
.
Đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm,
và cây công nghiệp.
1.1.1.3. Giao thông vận tải
Đường bộ của Phú Lương có nhiều đường quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua:
Quốc lộ số 3 (Hà Nội – Cao Bằng) chạy suốt từ phía Nam lên phía Bắc huyện
Phú Lương, đi qua 8 xã, thị trấn (Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Giang Tiên, Phấn Mễ,
Đu, Động Đạt, Yên Đổ, Yên Ninh); đường số 254 từ km 31 lên Định Hóa;
Quốc lộ 37 từ ngã ba Bờ Đậu (Cổ Lũng) qua huyện Đại Từ sang Tuyên
Quang… mang lại cho Phú Lương nhiều thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.1.4. Điều kiện khí hậu, thời tiết
Khí hậu , thời tiết của Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với
gia cầm. Nhờ được đầu tư hệ thống mương máng tốt mà người dân có thể
trồng 2 vụ lúa và 1 vụ hoa màu trong một năm. Năm 2011, sản lượng lúa đạt
93.183 tấn và sản lượng màu đạt 126.183 tấn. Trong những năm gần đây, Phú
Lương đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa,
xây dựng các cụm công nghiệp nhằm thu hút đầu tư, nâng cấp hệ thống chợ
nông thôn để phát triển thương mại.
Năm 2011, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản đạt 196,0 tỷ đồng, năm
2012 đạt 268,2 tỷ đồng (tốc độ tăng bình quân 6,96% giai đoạn 2008 -2012):
Trong đó nông nghiệp tăng 6,04%/năm (trong ngành nông nghiệp: Trồng trọt
tăng ổn định 4,18%/năm, chăn nuôi tăng mạnh 9,76%/năm; ngành dịch vụ
nông nghiệp tăng mạnh đạt 18,86%), thủy sản tăng 28,45%/năm; lâm nghiệp
tăng 30,08%/năm.
1.1.2.3. Văn hóa xã hội
- Giáo dục
Trong những năm gần đây ngành giáo dục ở Phú Lương đã có những
bước phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng giáo dục.
+ Huyện đã triển khai thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp
xây được 250 phòng học cấp 4 và 100 phòng học cao tầng (tổng vốn 13,2 tỷ
đồng chưa kể vốn của dân đóng góp) đã xây dựng được tổng số 293 phòng
học (cấp 4 là 119 phòng; cao tầng là 174 phòng). Tổng số trường đạt chuẩn
2
quốc gia là 15 trường. Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn ngành học Mầm non là
100%; Tiểu học đạt 97,46% (trong đó trên chuẩn là 32,4%); bậc THCS đạt
chuẩn 95,7% (trong đó trên chuẩn 23,3%).
+ Năm học 2011 – 2012 ngành giáo dục tiếp tục giữ vững quy mô
mạng lưới trường tổng số 63 đơn vị trường học: 17 trường mầm non; 27
trường tiểu học; 16 trường THCS và 01 TTGDTX, 02 trường PTTH. Giáo
dục Mầm non có số trẻ ra lớp tăng 1,9% so với năm học trước; giáo dục tiểu
học tỷ lệ huy động trẻ vào lớp 1 giảm 0,2% so với năm học trước; giáo dục
THCS số lớp giảm 18 lớp, số học sinh giảm 693 em so với năm học trước.
- Cây lâm nghiệp: Với đặc điểm vùng trung du miền núi, do đó diện
tích đất đồi núi khá cao. Huyện đã có chính sách chuyển giao đất, giao rừng
cho các hộ nông dân nên diện tích đất lâm nghiệp đã được nâng cao (năm
2012 đã trồng mới và trồng lại được 43,5 ha rừng). Huyện đã hướng dẫn hoạt
động và khai thác gỗ trên địa bàn theo quy định. Trong năm 2012, hiện tượng
chặt phá rừng trái phép đã giảm. Huyện đã làm tốt công tác phòng cháy chữa
cháy, trong năm không xảy ra cháy rừng.
- Cây đặc sản:
+ Cây chè: Với diện tích trồng chè đã có, huyện khuyến khích bà con
trồng thêm và đặc biệt là nâng cao chất lượng sản phẩm tiến tới cạnh tranh
trên thị trường.
Diện tích chè và một số cây trồng được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm
2011 – 2013
Năm 2011 2012 2013
Diện tích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện tích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện tích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
STT Vật nuôi Năm 2011 (con) Năm 2012 (con) Năm 2013 (con)
1 Trâu 5.683 5.526 5.390
2 Bò 35.357 36.940 38.000
3 Lợn 165.000 169.000 171.000
4 Gia cầm 2.100.000 2.200.000 2.500.000
(Nguồn Trạm Thú y huyện Phú Lương)
Qua bảng số liệu cho thấy:
- Chăn nuôi trâu, bò: Số lượng trâu giảm nhẹ qua các năm. Năm 2011,
toàn huyện có 5.683 con trâu. Đến năm 2013, số lượng trâu giảm xuống còn
5.390 con. Số lượng bò tăng từ 35.357 con trong năm 2011 lên 38.000 con vào
năm 2013. Nguyên nhân của việc tăng số lượng như vậy, là do trong những năm
gần đây người dân đã chú trọng hơn đến chăn nuôi, phát triển kinh tế.
- Chăn nuôi lợn: Những năm gần đây trên địa bàn các xã xuất hiện một
số gia đình nuôi từ 10 – 20 lợn nái sinh sản và vài trăm lợn thịt, cùng với sự
thành lập và phát triển của trang trại chăn nuôi gia công trên địa bàn huyện,
5
do đó số lượng đàn lợn của huyện không ngừng tăng lên qua các năm. Năm
2011, số lượng là 165.000 con, đến năm 2013 số lượng tăng lên 171.000 con.
- Chăn nuôi gia cầm: Số lượng đàn gia cầm tăng lên rõ rệt. Năm 2011,
số lượng đàn gia cầm là 2,1 triệu con nhưng đến năm 2013 số lượng đàn gia
cầm đã tăng lên 2,5 triệu con. Có sự tăng lên không ngừng về số đàn như vậy
là do mấy năm trở lại đây người chăn nuôi đã chú trọng hơn trong công tác
chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, công tác tiêm phòng được thực
hiện triệt để. Giá bán sản phẩm cao đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn
nuôi.
* Công tác thú y: Huyện Phú Lương hàng năm đã tổ chức tốt kế hoạch
tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm. Công tác kiểm tra xuất nhập con giống
và kiểm soát giết mổ được thực hiện nghiêm ngặt.
Hiện nay, người dân đã nhận thức được lợi ích của việc tiêm phòng cho
đàn gia súc, gia cầm nên công tác tiêm phòng đạt hiệu quả cao, góp phần làm
1.1.4.2. Khó khăn
- Nền kinh tế của huyện phát triển dựa chủ yếu vào nông lâm nghiệp,
trình độ lao động còn lạc hậu chưa đáp ứng được sản xuất. Hệ thống cơ sở hạ
tầng còn thấp đặc biệt ở những xã đồi núi xa trục đường quốc lộ, tỉnh lộ.
- Trong số diện tích đất nông lâm nghiệp, đất dốc từ 8 – 15
0
trở lên
chiếm trên 16,7%, vì vậy khó khăn cho phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở
hạ tầng.
- Trong nông nghiệp công tác chuyển giao ứng dụng công nghệ mới
vào sản xuất còn nhiều hạn chế, chưa tạp thành vùng sản xuất hàng hóa tập
trung, chất lượng và sức cạnh tranh sản phẩm còn thấp, chưa có nhiều mô
hình sản xuất điển hình mang lại hiệu quả cao.
- Tiến độ thực hiện một số đề án còn chậm, công nghiệp – TTCN chưa
có chuyển biến tích cực, phần lớn các cơ sở CN – TTCN và dịch vụ nhỏ lẻ,
công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực song chênh lệch tỷ trọng giữa ba
lĩnh vực không lớn.
- Hệ thống thủy lợi xuống cấp, chưa đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu
của sản xuất nông nghiệp.
7
1.2. Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1. Nội dung
1.2.1.1. Công tác áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi
- Công tác giống: tư vấn giúp bà con một số giống, vật nuôi đem lại
năng suất và hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi.
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng, tư vấn, phổ biến kiến thức về chăn
nuôi cho bà con nông dân.
1.2.1.2. Công tác thú y
- Tuyên truyền, vận động nhân dân làm tốt công tác vệ sinh thú y,
có ảnh hưởng đến kết quả sản xuất. Nhận thức được tầm quan trọng trong
công tác giống nên trong thời gian thực tập tôi đã giúp đỡ người chăn nuôi
bình tuyển, lập hồ sơ theo dõi từng cá thể để chọn làm giống. Đồng thời chọn
lọc những đàn gia súc, gia cầm mang phẩm chất tốt. Từ đó đánh giá, sắp xếp
chúng theo giống và thành các nhóm: Nuôi thịt, đực hậu bị, nái hậu bị, đảm
bảo nâng cao phẩm chất, chất lượng đàn gia súc.
1.2.3.3. Công tác vệ sinh thú y
Công tác vệ sinh chăn nuôi là một trong những khâu quan trọng quyết
định đến thành quả trong chăn nuôi. Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề
này, trong suốt thời gian thực tập tại cơ sở, tôi giúp các hộ gia đình thực hiện
tốt quy trình vệ sinh thú y sao cho chuồng nuôi luôn thoáng mát về mùa hè,
ấm áp về mùa đông. Sau mỗi lứa xuất chuồng thì quét vôi khử trùng và đảm
bảo khoảng cách hai lứa nuôi là 7 ngày.
1.2.3.4. Công tác phòng bệnh
Vấn đề phòng bệnh cho gia súc là hết sức cần thiết, với phương châm
‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’ đã cho thấy vấn đề phòng bệnh bằng vacxin là
quan trọng và cần thiết. Đặc biệt với những hộ gia đình chăn nuôi nhiều gia
súc, tiêm vacxin giúp cơ thể tạo miễn dịch, chủ động chống lại sự xâm nhập
của tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, vi rút) tăng sức đề kháng cho cơ thể. Vì vậy
tiêm phòng vacxin phải được thực hiện thường xuyên đúng lịch quy định
nhằm giảm thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi.
9
1.2.3.5. Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Trong suốt thời gian thực tập tại cơ sở, tôi luôn ý thức được trách
nhiệm công việc của mình, kết hợp giữa kiến thức đã học từ nhà trường và sự
giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn cùng cán bộ thú y tôi đã được tham gia điều
trị một số bệnh sau:
* Tụ huyết trùng lợn
- Triệu chứng: Thời gian nung bệnh 1 – 2 ngày có khi chỉ vài giờ, bệnh
thường có 3 thể: Thể quá cấp, thể cấp tính, thể mãn tính.
* Bệnh phân trắng lợn con
- Nguyên nhân:
+ Do vi khuẩn E.coli
+ Do thức ăn, nước uống
+ Lợn con nuôi dưỡng kém
Thành phần thức ăn cho lợn nái không cân đối sẽ đẻ ra lợn con yếu, còi
cọc, dễ bị mắc bệnh.
Thiếu thức ăn dẫn đến lợn mẹ không đủ sữa cho lợn con bú, lợn con
yếu và háo sữa liếm láp chất thải nền chuồng dễ bị ỉa chảy.
Thức ăn thừa đạm mỡ, dẫn đến thành phần sữa thay đổi lợn con sẽ bị
rối loạn tiêu hóa, ỉa chảy.
+ Lợn con nuôi dưỡng kém: Thiếu sữa (do lợn mẹ bị viêm vú), thay đổi
thức ăn đột ngột (khi cai sữa) dẫn đến rối loạn tiêu hóa, nước uống thiếu hoặc
bẩn quá.
+ Do yếu tố chuồng trại: Quá ẩm ướt, quá bẩn, bị gió lùa làm cho lợn con
lạnh (nhất là 2 – 3 tuần đầu sau khi đẻ) sức đề kháng bị giảm nên mắc bệnh.
- Triệu chứng:
Đa số lợn con mắc bệnh thân nhiệt không cao, phân là một biểu hiện
chủ yếu của bệnh giúp cho việc chẩn đoán dễ ràng.
Giai đoạn đầu, nửa ngày hay một ngày trước khi bệnh thể hiện rõ thấy
lợn con đi ngoài khó, đuôi cong, phân táo đen và nhỏ như hạt đỗ đen.
Giai đoạn sau có triệu chứng phân bắt đầu lỏng dần có màu vàng hoặc màu
trắng, sau là màu vàng xanh. Tùy theo lứa tuổi đi tả nhiều lần, phân bết, dính xung
quanh hậu môn. Tỷ lệ mắc bệnh cao sau những ngày mưa rét, ẩm ướt và nhiệt độ
thay đổi đột ngột. Lợn gầy sút nhanh, bú kém, bỏ bú, ủ rũ, đi lại không vững, nôn
11
ra sữa đã đông chưa tiêu, mùi phân tanh, thối. Lợn yếu rất nhanh, lông xù, da mất
đàn hồi do mất nước nhiều, tỷ lệ tử vong cao 40 – 70 – 100%.
- Bệnh tích:
Lợn chết mất nước nghiêm trọng và xác khô, gan có màu nâu đen, dạ
Hanmectin – 25%.
Liều lượng 1ml/10kg TT. Nếu nặng có thể tiêm nhắc lại 2 lần sau 7
ngày. Kết quả điều trị 7 con, tỷ lệ khỏi 100%.
1.3. Kết quả thực hiện
Bảng 1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc
Số lượng
(con)
Kết quả (An toàn, khỏi)
Số lượng
(con)
Tỷ lệ (%)
1. Phòng bệnh bằng vaccine An toàn
Dịch tả lợn 218 218 100
Tụ huyết trùng lợn 255 255 100
Xoắn trùng 40 40 100
Chó dại 78 78 100
2. Điều trị bệnh Khỏi bệnh
Phân trắng lợn con 80 76 95%
Ghẻ lợn 7 7 100
3. Công tác khác An toàn
Thiến lợn đực 105 105 100
Tiêm dextran – Fe 130 130 100
Trực lợn đẻ 12 12 100
Qua bảng 1.3 ta thấy kết quả tiêm phòng an toàn 100%. Tuy nhiên kết
quả trong suốt thời gian thực tập chưa cao nhưng một phần nào đã giúp tôi
vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, thêm tự tin vào tay nghề của
mình.
1.4. Kết luận, tồn tại và đề nghị
1.4.1. Kết luận
2.1. Mở đầu
2.1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong
ngành nông nghiệp của Việt nam. Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật
nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho người tiêu dùng và phân bón cho sản
xuất nông nghiệp. Ngày nay chăn nuôi lợn có tầm quan trọng đặc biệt, làm
tăng kim ngạch xuất khẩu đây cũng là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho nền
kinh tế quốc dân. Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của trang trại
và nông hộ thì việc phát triển đàn lợn là việc làm cần thiết
Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng
và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân.
Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo,
tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân.
Tuy nhiên để chăn nuôi lợn có hiệu quả, cần phải giải quyết nhiều vấn
đề, vấn đề vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm. Bởi dịch bệnh xảy
ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến đàn lợn, làm ảnh hưởng đến
chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm. Trong chăn nuôi lợn, bệnh phân
trắng ở lợn con rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và
sức sinh trưởng của lợn giai đoạn bú sữa. Đây là một bệnh thường xuyên xảy
ra trong nhiều trại lợn và các hộ gia đình nuôi lợn ở nước ta.
Bệnh phân trắng xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau như đều kiện
thời tiết, khí hậu thay đổi bất thường, chuồng trại, điều kiện vệ sinh, chế độ
nuôi dưỡng kém Các nguyên nhân trên đã làm giảm sức đề kháng của lợn,
tạo điều kiện cho vi sinh vật có hại ở đường tiêu hóa phát triển mạnh, gây bội
nhiễm như E.coli, Samonella, clostridium Trong những năm gần đây, trên
15
địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái nguyên bệnh lợn con phân trắng xảy ra
hết sức nghiêm trọng, đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể về bệnh
phân trắng lợn con trên địa bàn huyện.
Xuất phát từ thực tiễn trên được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu trường Đại
đoạn nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm.
Khối lượng lợn con đạt được qua các thời điểm có liên quan mật thiết
với nhau. Lợn con 20 ngày đầu mỗi ngày tích lũy 9 – 14g protein/ngày trong
khi đó khối lượng lợn tích lũy được 0,3 – 0,4g protein/ngày.
* Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện
Cơ quan tiêu hóa của lợn con theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và
hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa.
Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc
sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần
(dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít).
Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh,
lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột
non lúc sơ sinh 0,11 lít).
Dung tích ruột già lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ sinh,
lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích
ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít), (Trần Văn Phùng và cộng sự, (2004) [13]).
Dịch tiêu hóa tiết ra ban ngày 31%, ban đêm 69% cho nên lợn con bú nhiều vào
ban đêm. Đến ngày sắp cai sữa dịch vị tiết ra cân bằng, ban ngày 49% và ban
đêm 51%. Hai tuần đầu trong dịch vị dạ dày lợn con chưa có HCl nên tính kháng
khuẩn chưa cao vì vậy lợn con hay bị bệnh đường ruột nhất là bệnh phân trắng.
* Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt
Lợn con sơ sinh tỷ lệ nước trong cơ thể cao đến 82% chỉ 30 giây sau
đẻ, lượng nước đã giảm đến 1,5 – 2% kèm theo nhiệt độ cơ thể giảm dần đến
5 – 10
0
C. Sau 3 tuần tuổi thân nhiệt của lợn con tương đối ổn định và lên đến
39 – 39,5
0
C. Lợn con mới đẻ cần được sưởi ấm những ngày đầu bằng thùng
úm, ổ, có đèn sưởi hoặc bếp than, củi nhất là những đêm trời lạnh. Chế độ
sữa chiếm tới 18 – 19%, trong γ – globulin chiếm số lượng khá lớn (30 – 35%),
γ – globulin có tác dụng tạo sức đề kháng cho nên sữa đầu có vai trò quan
trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con. Lợn con hấp thụ γ – globulin
bằng con đường ẩm bào. Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử γ – globulin
giảm đi rất nhiều theo thời gian. Phân tử γ – globulin chỉ có khả năng thấm qua
thành ruột non tốt nhất trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra. Do đó lợn con được bú
sữa đầu càng sớm càng tốt. Nếu không được bú sữa đầu thì từ 20 – 25 ngày
18
tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể. Do đó những con lợn con không
được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao.
2.2.1.2. Đặc điểm của bệnh lợn con phân trắng
* Nguyên nhân
Theo Nguyễn Xuân Bình, (1996) [2] bệnh lợn con phân trắng thường
xảy ra đối với lợn con từ 2 – 30 ngày tuổi. Do nhiều nguyên nhân dẫn đến sự
rối loạn tiết dịch nên chất đạm trong sữa là cafein không được tiêu hóa bị thải
ra ngoài nên có phân màu trắng. Các nguyên nhân đó là:
- Do khẩu phần ăn của lợn mẹ thiếu chất dinh dưỡng như đạm, khoáng,
vitamin nhất là vitamin A. Nên sau khi sinh sữa mẹ bị thiếu chất, lợn con bị suy
dinh dưỡng, màng nhầy của ruột không được bảo vệ nên rất dễ bị cảm nhiễm
với vi trùng Colibacille, Samonella… gây bệnh tiêu chảy.
- Do thay đổi đột ngột khẩu phần ăn của lợn mẹ trong thời kỳ cho con bú
hoặc sữa mẹ quá nhiều lợn con bị dư chất đạm không tiêu hóa hết được, trôi
xuống ruột già ở đó có một số vi khuẩn như E.coli sử dụng, phân hủy chất đạm,
sản sinh ra một số độc tố gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy.
- Do đặc điểm sinh lý của lợn con trong thời kỳ 3 tuần tuổi luôn luôn
biến đổi nhất là hệ thống men tiêu hóa. Do vậy dễ bị nhiễm bệnh đường tiêu
hóa gây tiêu chảy.
- Do thời tiết thay đổi đột ngột đang nắng chuyển sang mưa, nhiệt độ
thấp mà ẩm độ lại cao, làm cho cơ thể lợn con mất cân bằng giữa sản nhiệt và
truyền nhiệt. Do đó sẽ tiêu hao năng lượng để chống lạnh. Nếu lạnh kéo dài
lệ cảm nhiễm của bệnh giảm rõ rệt.
Theo Erwin M.Kohler (2001) [21] cũng nêu ra một số nguyên nhân gây bệnh.
Một số các yếu tố môi trường và ký chủ ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm
E.coli ở lợn sơ sinh. Dạ dày và ruột của lợn con nhanh chóng bị tràn ngập vi
trùng, ngay sau khi sinh, rất nhiều trong số chúng “ bất hại” nhưng nếu xuất
hiện với số lượng lớn E.coli lợn có thể bị nhiễm bệnh sau khi sinh.
- Số lượng lớn E.coli thường hiện diện ở ngay môi trường nếu có ẩm
ướt, bẩn và thông thoáng kém. Tuy nhiên nguồn nhiễm bệnh quan trọng nhất là
20
là lợn con khác mắc bệnh tiêu chảy E.coli. Những con này sẽ thải tới một tỷ
E.coli/1cc phân lỏng.
- Nhiệt độ có thể là ảnh hường môi trường quan trọng nhất làm lợn khỏe
lên. Lợn con mẫn cảm lớn với cái lạnh và yếu tố stress này làm giảm sức đề
kháng của lợn với các bệnh kể cả E.coli
Trương Lăng (2000) [11] cho rằng nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn
con chủ yếu do hai nguyên nhân chính: Vi khuẩn và các nguyên nhân không
phải do vi khuẩn.
* Những hiểu biết về vi khuẩn E.coli
- Đặc điểm hình thái
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [7] Escherichia coli thuộc họ
Enterobacteriacea, nhóm Escherichae, loài Escherichia có những đặc điểm
chung sau đây: Nhuộm màu gram (-), không tạo thành nha bào.
Vi trùng này có lông, nhưng cũng có khi có thể gặp những biến chứng
không di động và không có lông, chúng không tạo bào tử. Cũng cá biệt có
Serotyp nhóm 08 và 09 tạo bào tử.
- Đặc điểm nuôi cấy
Trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, mọc trên môi trường dinh dưỡng
bình thường, chúng vẫn có khả năng sinh sản cao thậm chí trong môi trường
nước sinh lý, ở nhiệt độ 15 – 16
0
phá hủy khi đun ở 100
0
C trong 2 giờ), chịu được chất cồn, acid HCN 1N trong
2 giờ, bị phá hủy bởi formol 0,5%.
+ Kháng nguyên K hay còn gọi là kháng nguyên bề mặt. Chúng bao
quanh tế bào vi khuẩn có bản chất là Polisaccharide. Nhiều ý kiến cho rằng
kháng nguyên K có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trước
các yếu tố phòng bệnh của vi khuẩn.
+ Kháng nguyên H: Là kháng nguyên không có tính chịu nhiệt cao, tuy
nhiên khi đun sôi ở 2 giờ 30 phút tính kháng nguyên, khả năng ngưng kết, kết
hợp của kháng nguyên H đều bị phá hủy. Tất cả các nhóm kháng nguyên O
khác nhau thuộc E.coli đều có một loại type kháng nguyên tốt.
22