Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà - Pdf 24

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CS : Cộng sự
Nxb : Nhà xuất bản
TT : Thể trọng
LMLM : Lở mồm long móng
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
ATK : An toàn khu
CN : Công nghiệp
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
TTGDTX : Trung tâm giáo dục thường xuyên
TS : Tiến sỹ
R : Raillietina
mg : Miligam
mm : Milimet
m : Mét
Km : Kilomet
A : Ascaridia
TS : Tiến sĩ
KCN : Khu công nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm 2011 - 2013 5
Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Phú Lương năm 2011 - 2013.6
Bảng 1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất 13
Bảng 2.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà ở các địa điểm kiểm tra 33
Bảng 2.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo lứa tuổi 35
Bảng 2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo mùa vụ 36
Bảng 2.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà theo phương thức chăn nuôi
38
Bảng 2.5. Triệu chứng lâm sàng của gà bị nhiễm giun đũa 39

1.2.3.2. Công tác thú y 11
1.3. Kết luận, tồn tại và đề nghị 14
1.3.1. Kết luận 14
1.3.2. Tồn tại 14
1.3.3. Đề nghị 14
Phần 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 15
2.1. Đặt vấn đề 15
2.1.1. Tính cấp thiết của đề tài 15
2.1.2. Mục tiêu của đề tài 16
2.1.3. Mục đích nghiên cứu 16
2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 16
2.2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 16
2.2.1.1. Những hiểu biết về giun đũa ký sinh ở gà 16
2.2.1.2. Bệnh giun đũa ở gà 18
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 25
2.2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 27
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1. Đối tượng 29
2.3.2. Địa điểm 29
2.3.3. Thời gian 29
2.3.4. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 29
2.3.4.1. Nội dung nghiên cứu 29
2.3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi 29
2.3.5. Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu 31
2.4. Kết quả và phân tích kết quả 33
2.4.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà ở các xã thuộc huyện Phú Lương
33

Đông; phía Bắc giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn), phía Nam và Đông Nam
giáp thành phố Thái Nguyên, phía Tây giáp huyện Định Hóa, phía Tây Nam giáp
huyện Đại Từ, phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ; huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách
trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km về phía Bắc (theo Quốc lộ 3).
1.1.1.2. Địa hình, đất đai
Địa hình Phú Lương tương đối phức tạp, độ cao trung bình so với mực
nước biển từ 100 - 400m.
Tổng diện tích tự nhiên 368,82km
2
, trong đó có đất nông nghiệp
119,79km
2
; đất lâm nghiệp 164,98km
2
(chiếm 44,73% tổng diện tích đất tự
nhiên); đất nuôi trồng thủy sản 6,65km
2
; đất phi nông nghiệp 46,63km
2
; đất
chưa sử dụng 31,64km
2
.
Đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm,
và cây công nghiệp.
1.1.1.3. Giao thông vận tải
Đường bộ của Phú Lương có nhiều đường quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua:
Quốc lộ số 3 (Hà Nội - Cao Bằng) chạy suốt từ phía Nam lên phía Bắc huyện
Phú Lương, đi qua 8 xã, thị trấn (Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Giang Tiên, Phấn Mễ,
Đu, Động Đạt, Yên Đổ, Yên Ninh); đường số 254 từ km 31 lên Định Hóa;

quân từ 2009 - 2013 là 1,06%, số người trong độ tuổi lao động chiếm 45,8%
dân số, chủ yếu là lao động nông nghiệp.
1.1.2.2. Điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng
Huyện Phú Lương chủ yếu là sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc -
gia cầm. Nhờ được đầu tư hệ thống mương máng tốt mà người dân có thể
trồng 2 vụ lúa và 1 vụ hoa màu trong một năm. Năm 2012, sản lượng lúa đạt
93.183 tấn và sản lượng màu đạt 126.183 tấn. Trong những năm gần đây, Phú
Lương đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa,
xây dựng các cụm công nghiệp nhằm thu hút đầu tư, nâng cấp hệ thống chợ
nông thôn để phát triển thương mại.
Năm 2012, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản đạt 196,0 tỷ đồng, năm
2013 đạt 268,2 tỷ đồng (tốc độ tăng bình quân 6,96% giai đoạn 2009 -2013):
trong đó nông nghiệp tăng 6,04%/năm (trong ngành nông nghiệp: trồng trọt
tăng ổn định 4,18%/năm, chăn nuôi tăng mạnh 9,76%/năm; ngành dịch vụ
2
nông nghiệp tăng mạnh đạt 18,86%), thủy sản tăng 28,45%/năm; lâm nghiệp
tăng 30,08%/năm.
1.1.2.3. Văn hóa xã hội
- Giáo dục
Trong những năm gần đây ngành giáo dục ở Phú Lương đã có những
bước phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng giáo dục.
+ Huyện đã triển khai thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp,
xây được 250 phòng học cấp 4 và 100 phòng học cao tầng (tổng vốn 13,2 tỷ
đồng chưa kể vốn của dân đóng góp) đã xây dựng được tổng số 293 phòng
học (cấp 4 là 119 phòng; cao tầng là 174 phòng). Tổng số trường đạt chuẩn
quốc gia là 15 trường. Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn ngành học Mầm non là
100%; Tiểu học đạt 97,46% (trong đó trên chuẩn là 32,4%); bậc THCS đạt
chuẩn 95,7% (trong đó trên chuẩn 23,3%).
+ Năm học 2012 - 2013 ngành giáo dục tiếp tục giữ vững quy mô mạng
lưới trường tổng số 63 đơn vị trường học: 17 trường mầm non; 27 trường tiểu

- Cây ăn quả: Diện tích trồng cây ăn quả khá lớn, song diện tích vườn tạp
là chủ yếu, cây trồng thiếu tập trung lại chưa thâm canh, nên năng suất thấp.
Sản phẩm chủ yếu mang tính chất tự cung tự cấp, chưa mang tính kinh
doanh. Cây ăn quả chủ yếu: na, nhãn, vải…
- Cây lâm nghiệp: Với đặc điểm vùng trung du miền núi, do đó diện
tích đất đồi núi khá cao. Huyện đã có chính sách chuyển giao đất, giao rừng
cho các hộ nông dân nên diện tích đất lâm nghiệp đã được nâng cao (năm
2012 đã trồng mới và trồng lại được 43,5 ha rừng). Huyện đã hướng dẫn hoạt
động và khai thác gỗ trên địa bàn theo quy định. Trong năm 2013, hiện tượng
4
chặt phá rừng trái phép đã giảm. Huyện đã làm tốt công tác phòng cháy chữa
cháy, trong năm không xảy ra cháy rừng.
- Cây đặc sản:
+ Cây chè: Với diện tích trồng chè đã có, huyện khuyến khích bà con
trồng thêm và đặc biệt là nâng cao chất lượng sản phẩm tiến tới cạnh tranh
trên thị trường.
Diện tích chè và một số cây trồng được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm 2011 - 2013
Năm 2011 2012 2013
Diện
tích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện
tích (ha)
Sản
lượng
(tấn)

đây. Kết quả điều tra số lượng gia súc, gia cầm được trình bày ở bảng 1.2.
Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Phú Lương năm 2011 - 2013
STT Vật nuôi
Năm 2011
(con)
Năm 2012 (con) Năm 2013 (con)
1 Trâu 5.683 5.526 5.390
2 Bò 35.357 36.940 38.000
3 Lợn 165.000 169.000 171.000
4 Gia cầm 2.100.00 2.200.000 2.500.000
(Nguồn: Trạm Thú y huyện Phú Lương)
Qua bảng số liệu cho thấy:
- Chăn nuôi trâu, bò: Số lượng trâu giảm nhẹ qua các năm. Năm 2011,
toàn huyện có 5.683 con trâu. Đến năm 2013, số lượng trâu giảm xuống còn
5.390 con. Số lượng bò tăng từ 35.357 con trong năm 2009 lên 38.000 con vào
năm 2011. Nguyên nhân của việc tăng số lượng như vậy, là do trong những năm
gần đây người dân đã chú trọng hơn đến chăn nuôi, phát triển kinh tế.
- Chăn nuôi lợn: Những năm gần đây trên địa bàn các xã xuất hiện một
số gia đình nuôi từ 10 - 20 lợn nái sinh sản và vài trăm lợn thịt, cùng với sự
thành lập và phát triển của trang trại chăn nuôi gia công trên địa bàn huyện,
do đó số lượng đàn lợn của huyện không ngừng tăng lên qua các năm. Năm
2011, số lượng là 165.000 con, đến năm 2013 số lượng tăng lên 171.000 con.
6
- Chăn nuôi gia cầm: Số lượng đàn gia cầm tăng lên rõ rệt. Năm 2011, số
lượng đàn gia cầm là 2,1 triệu con nhưng đến năm 2013 số lượng đàn gia cầm đã
tăng lên 2,5 triệu con. Có sự tăng lên không ngừng về số đàn như vậy là do mấy
năm trở lại đây người chăn nuôi đã chú trọng hơn trong công tác chăm sóc, nuôi
dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, công tác tiêm phòng được thực hiện triệt để. Giá
bán sản phẩm cao đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
* Công tác thú y: Huyện Phú Lương hàng năm đã tổ chức tốt kế hoạch

thì huyện Phú Lương có tiềm năng phát triển kinh tế theo hướng tổng hợp
và đa dạng.
- Về kinh tế: huyện có xuất phát điểm tương đối thuận lợi hơn so với
một số huyện trong tỉnh, thuộc loại trung bình khá so với tỉnh, tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân 11,39%/năm.
1.1.4.2. Khó khăn
- Nền kinh tế của huyện phát triển dựa chủ yếu vào nông lâm nghiệp,
trình độ lao động còn lạc hậu, chưa đáp ứng được sản xuất. Hệ thống cơ sở hạ
tầng còn thấp, đặc biệt ở những xã đồi núi xa trục đường quốc lộ, tỉnh lộ.
- Trong số diện tích đất nông lâm nghiệp, đất dốc từ 8 - 15
0
trở lên chiếm
trên 16,7%, vì vậy khó khăn cho phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Trong nông nghiệp công tác chuyển giao ứng dụng công nghệ mới
vào sản xuất còn nhiều hạn chế, chưa tạo thành vùng sản xuất hàng hóa tập
trung, chất lượng và sức cạnh tranh sản phẩm còn thấp, chưa có nhiều mô
hình sản xuất điển hình mang lại hiệu quả cao.
- Tiến độ thực hiện một số đề án còn chậm, công nghiệp - TTCN chưa
có chuyển biến tích cực, phần lớn các cơ sở CN - TTCN và dịch vụ nhỏ lẻ,
công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực song chênh lệch tỷ trọng giữa ba
lĩnh vực không lớn.
- Hệ thống thủy lợi xuống cấp, chưa đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu
của sản xuất nông nghiệp.
1.2. Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
8
1.2.1. Nội dung
1.2.1.1. Công tác áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi
- Công tác giống: tư vấn giúp bà con một số giống vật nuôi đem lại
năng suất và hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi.

nuôi thú y, làm quen với những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi hộ
gia đình, đặc biệt chú trọng công tác phòng bệnh cho vật nuôi, đồng thời tiến
hành nhiều công tác chuyên môn.
Trong thời gian thực tập tại phòng Nông Nghiệp huyện Phú Lương -
tỉnh Thái Nguyên, ngoài việc thực hiện chuyên đề tôi còn tham gia vào một số
công tác như:
1.2.3.1. Công tác chăn nuôi
* Công tác giống
Trong thời gian thực tập, qua tìm hiểu về công tác giống của huyện Phú
Lương, chúng tôi thấy rằng:
- Đối với đàn trâu, bò: Giống trâu, bò của huyện chủ yếu là giống nội
nên tầm vóc nhỏ bé, năng suất thịt không cao. Trong những năm gần đây việc
thực hiện Sind hóa đàn bò đã thay thế phần nào bò truyền thống bằng bò lai
Sind, có giá trị kinh tế cao hơn.
- Đối với đàn lợn: Trong những năm vừa qua đàn lợn nái địa phương
của huyện là Móng Cái có tỷ lệ nạc thấp, tầm vóc không lớn không còn phù
hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân, đã được chuyển sang đàn nái sinh
sản theo hướng nạc và đang ngày càng phát triển mạnh. Chúng tôi đã tư vấn
bà con cách chọn lợn để gây cho đàn nái sinh sản và một số địa chỉ để mua
giống tốt. Bên cạnh đó là việc thuyết phục người chăn nuôi chuyển từ phương
10
pháp cho lợn phối trực tiếp sang phương pháp thụ tinh nhân tạo sử dụng tinh
của lợn ngoại được cung cấp bởi các trung tâm, cơ sở sản xuất tinh có uy tín,
chất lượng cao.
-Đối với đàn gia cầm: Đa số các hộ chăn nuôi nhỏ, quy mô hộ gia đình
vẫn nuôi các giống gà nội là chủ yếu, chăn thả tự do, tận dụng nguồn thức ăn
là các sản phẩm phụ của ngành trồng trọt nên hiệu quả thấp. Các trang trại và
gia đình chăn nuôi với quy mô lớn hơn đã mạnh dạn đầu tư trang thiết bị cho
chồng trại và đưa một số giống gà, vịt hướng thịt, hướng trứng vào chăn nuôi
đạt hiệu quả tốt.

Triệu chứng của lợn khi mắc bệnh thường là: lợn yếu, chậm chạp, thân
nhiệt tăng. Bệnh thường hay gặp ở lợn con từ 10 - 20 ngày tuổi. Lợn ốm khát
nước, phân lỏng, có màu trắng vàng lẫn bọt khí, mất nước, gầy sút cân nhanh,
nếu không điều trị kịp thời lợn sẽ chết.
Điều trị:
Dùng Phardiasol, liều dùng 6ml/10kg TT, cho uống.
- Bệnh bại liệt sau đẻ
Lợn có triệu chứng nằm một chỗ, ít đi lại, khi phải đứng 2 chân sau
chụm lại, nhiều khi không đứng dậy được.
Điều trị:
Dùng Calci - Magie Glutamat, tiêm bắp, 1ml/5kg TT
- Bệnh ghẻ
Đây là bệnh ký sinh trùng dưới da của lợn do loại ghẻ ngứa
Sarcoptessuis gây nên, kèm theo viêm da mãn tính với triệu chứng ngứa, hình
thành các nếp nhăn và vẩy dày. Chúng đào hang dưới da, ăn tế bào biểu bì và
12
dịch tế bào. Thường thấy biểu hiện trên vùng da quanh mắt, má và tai, sau đó
lây qua vùng lưng, bụng và các phần khác. Nếu không điều trị kịp thời da sẽ
dầy lên, mất tính đàn hồi, dễ vỡ và bị dồn thành nếp, lông rụng dần dần đến
da bị sừng hóa. Đôi khi quan sát thấy ghẻ toàn thân, trong trường hợp này lợn
giảm ăn, gầy, chậm lớn, có khi chết do nhiễm trùng.
Điều trị:
Tiêm Invermectin liều 1ml/kg TT, kết hợp với tắm ghẻ cho lợn bệnh và
những con cùng ô chuồng, thấy hiệu quả tốt.
Ngoài công tác tiêm phòng chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc, gia
cầm, tôi và các cán bộ thú y của cơ sở thực hiện một số công tác khác: Thiến
lợn đực, tiêm dextran - Fe cho lợn con, trực và đỡ đẻ cho lợn
Kết quả công tác phục vụ sản xuất được thể hiện qua bảng 1.3.
Bảng 1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc

những kết quả nhất định. Quá trình thực tập cũng đã giúp tôi củng cố về kiến
thức chuyên môn lẫn thực tế, đặc biệt những kiến thức trong chẩn đoán và
điều trị một số bệnh cho gia súc, gia cầm làm cơ sở cho chuyên môn sau này.
1.3.2. Tồn tại
Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định trong công tác phục vụ
sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi trong thời gian thực tập
tôi tự nhận thấy mình còn một số hạn chế sau:
- Do thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên
kết quả thu được còn chưa cao.
- Đôi khi còn chưa chủ động trong công việc
1.3.3. Đề nghị
Do hiểu biết của người dân về thú y còn hạn chế, cần tuyên truyền sâu
rộng cho người dân hiểu về chăn nuôi thú y, từ đó biết áp dụng những biện
pháp khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi.
Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ.
Tiêm phòng đầy đủ cho đàn gia súc, gia cầm
Thức ăn nước uống phải hợp vệ sinh, sạch sẽ.
Thực hiện công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ thường
xuyên tránh lây lan dịch bệnh.
14
Phần 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện
Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị”.
2.1. Đặt vấn đề
2.1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta nói chung và
của huyện Phú Lương nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Các sản
phẩm của nó không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng mà
còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác. Điều này đòi hỏi sự nâng cao

Từ kết quả nghiên cứu lấy đó làm cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp
phòng trị bệnh giun đũa cho gà, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân.
Bản thân tập làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1. Những hiểu biết về giun đũa ký sinh ở gà
* Vị trí của giun đũa trong hệ thống phân loại động vật
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [16] giun đũa có vị trí trong hệ thống
phân loại động vật như sau:
Ngành: Nemathedminthes Schneides: 1886
Lớp: Nematoda (+) Rudalphi: 1808
Giun đũa gà có tên khoa học là Ascaridia galli thuộc bộ Ascaridata và
họ Ascaridae.
* Hình thái cấu tạo cơ thể
Orlov (1975) [17] cho biết giun đũa tương đối to, màu trắng ngà, con
đực dài từ 3 - 10 cm, ở đuôi có giác to trước lỗ huyệt cấu tạo bằng chất kitin,
có hai gai giao hợp to bằng nhau, kích thước của chúng thay đổi từ 0,54 - 2,4
16
mm. Con cái dài từ 7 - 12 cm. Theo Dương Công Thuận (1995) [14], giun cái
đẻ nhiều trứng, trứng có màu xám, kích thước 75 - 90 x 45 - 60 µm.
Phan Thế Việt và cs (1977) [16] cho biết: Ascaridia galli ký sinh ở ruột
non gà, gà tây màu vàng nhạt, trắng, quanh miệng có 3 lá môi, trên mỗi lá
môi có răng. Giun đực có kích thước 26 - 70 x 0,17 - 0,23 mm, có cánh đuôi
và 10 đôi gai chồi, hai gai giao hợp nhọn dài bằng nhau (0,63 - 1,95 mm) phía
trên phình to.
Giun cái dài 65 - 110 mm, âm hộ ở đoạn giữa của giun. Trứng hình bầu
dục có kích thước 0,075 - 0,092 x 0,045 - 0,057 mm, màng ngoài nhẵn, màu
tro nhạt, là loài truyền trực tiếp không cần ký chủ trung gian. Giun cái trưởng
thành trung bình mỗi ngày đẻ 72.500 quả trứng.
* Vị trí ký sinh

giai đoạn thành thục trong cơ thể gà con dưới 3 tháng tuổi kéo dài từ 30 - 35
ngày, nhưng gà 3 tháng tuổi thời kỳ này kéo dài đến 30 ngày.
Theo Orlov (1975) [17] thức ăn có phẩm chất tốt có vai trò to lớn trong
việc tăng cường sức đề kháng của gà với sự cảm nhiễm bệnh giun đũa, khi bổ
sung protit động vật vào khẩu phân sẽ tăng cường sức đề kháng của gà con với
bệnh giun đũa. Bất cứ tình trạng suy yếu nào của cơ thể do ảnh hưởng của thức
ăn kém, bệnh tật, mất máu có khả năng gây cảm nhiễm giun đũa nặng hơn.
2.2.1.2. Bệnh giun đũa ở gà
* Đặc điểm dịch tễ
Bệnh giun đũa phổ biến khắp nơi trên thế giới, nguồn lây bệnh là từ gà
mắc bệnh khi đã khỏi về mặt lâm sàng, gây bệnh thông qua thức ăn, nước
uống, dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ của công nhân, phương tiện vận chuyển,
chim hoang, chó, mèo, côn trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [5]
18
Bệnh giun đũa gà phổ biến rất rộng ở các tỉnh đồng bằng, trung du và
miền núi. Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [4] tỷ lệ nhiễm giun đũa gà
ở các tỉnh từ 33,3% - 69,8% . Tuy nhiên tỷ lệ nhiễm giun đũa gà còn phụ
thuộc vào tình trạng vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thức ăn, nước uống, nếu vệ
sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống kém thì tỷ lệ nhiễm giun đũa gà tăng cao
và ngược lại.
Orlov (1975) [17] cho biết điều kiện khí hậu ảnh hưởng đến sự phát
triển bệnh giun đũa ở gà. Về mùa đông thì trứng không phát triển được nhưng
khả năng sống của chúng vẫn tồn tại trong suốt mùa. Về mùa xuân, hè tia
nắng chiếu thẳng có thể gây chết trứng.
Permin và cs (1997) [24] đã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán
theo mùa và khí hậu tại 6 làng trong vùng Morogoro (Tanzania) trên 600 gà
được lựa chọn ngẫu nhiên, kết quả là: tất cả các gà đều nhiễm giun sán với
mức độ trung bình là 4,8 loài giun sán/gà ở mùa mưa và 5,1 loài giun
sán/gà ở mùa hè.
Mpoame và cs (1989) [22] kiểm tra trên 315 gà mua tại chợ Dschang

Ấu trùng giun đũa xâm nhập vào tuyến ruột gây tổn thương, phá hoại
niêm mạc và nhung mao ruột gây viêm, tụ máu.
Theo Dương Công Thuận (1995) [14] có nhiều trường hợp trong ruột
non gà giun cuộn thành búi, trường hợp quá nặng gây tắc ruột thậm chí rách
ruột và giun chui lên cả xoang bụng.
Giun đũa trong giai đoạn phân chia có ý nghĩa gây bệnh đặc biệt lớn vì
sự xâm nhập của ấu trùng và sự trưởng thành của chúng trong các tuyến
Libercun sẽ phá hủy sự tiêu hóa và đưa đến tình trạng gia cầm gầy yếu
(Nguyễn Thất và cs, 1975) [10].
+ Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng
Theo Dương Công Thuận (1995) [14] giun ký sinh ở gà sống được là
nhờ chiếm đoạt các chất dinh dưỡng của ký chủ. Khi số lượng ký sinh trùng
20

Trích đoạn Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo lứa tuổi Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo mùa vụ Tỷ lệ và triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh giun đũa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status