ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuật ngữ “hẹp ống sống cổ” được dùng trong lâm sàng để chỉ quá
trình bệnh lý, bẩm sinh hoặc mắc phải ở cột sống cổ làm hẹp đường kính ống
sống [44,74]. Phần lớn tác giả đều thống nhất đường kính trước- sau ống sống
bằng hoặc nhỏ hơn 13mm được coi là hẹp ống sống cổ [2,36,44].
Ống sống cổ dài 14cm đi từ đốt sống cổ C1 đến C7, được tạo bởi thân
đốt sống, cuống, cung sau đốt sống cổ, khớp gian đốt, các dây chằng dọc sau,
dây chằng vàng, dây chằng bao khớp [15]. Tất cả các nguyên nhân làm thay
đổi cấu trúc của các thành phần tạo nên ống sống đều có thể gây hẹp ống
sống. Trong lòng ống sống cổ có chứa tủy sống, các rễ thần kinh. Vì vậy hẹp
ống sống cổ có thể làm ảnh hưởng đến chức năng của tủy và rễ thần kinh, tạo
ra bệnh cảnh lâm sàng đa dạng và phong phú. Có khi lâm sàng chỉ là đau cột
sống cổ, cũng có khi biểu hiện bằng rối loạn cảm giác, giảm vận động hai chi
trên hoặc tứ chi, teo cơ biến dạng chi. Đặc biệt có thể khó thở do ảnh hưởng
đến hoạt động của cơ hoành…Bệnh lý này tuy không gây nguy hiểm đến tính
mạng nhưng nếu xử lý muộn sẽ gây tàn phế, làm giảm khả năng lao động của
bệnh nhân. Nhưng trên thực tế, giai đoạn đầu của bệnh thường bị bỏ qua do
triệu chứng lâm sàng của bệnh nhiều khi chỉ là những biểu hiện dị cảm, tờ bỡ,
đau cột sống cổ nên người bệnh không đi khám. Vì vậy khi bệnh nhân đến
bệnh viện thường bệnh đã ở giai đoạn nặng, việc điều trị tốn kém và khả năng
phục hồi các chức năng khó khăn tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Nguyên nhân của hội chứng hẹp ống sống cổ rất đa dạng, được xếp vào
hai nhúm chớnh là hẹp ống sống cổ bẩm sinh và hẹp ống sống cổ mắc phải.
Hẹp ống sống mắc phải thường do những nguyên nhân như thoái hóa cột sống
cổ, chấn thương, thoát vị đĩa đệm, khối u, viêm cột sống [7,29]…Tại Việt
Nam trước đây việc chẩn đoán và tìm nguyên nhân tổn thương của hẹp ống
1
sống cổ gặp nhiều khó khăn. Từ khi cú mỏy chụp cộng hưởng từ việc xác
định những tổn thương của hẹp ống sống trở nên dễ dàng, an toàn, chính xác
hơn. Nhờ đó có thể phát hiện các bệnh lý và điều trị sớm tránh những tổn
thương không hồi phục gây tàn phế cho người bệnh [9,24].Tuy nhiên ở Việt
xuấtt hiện khi bệnh nhân ở lứa tuổi hoạt động thể chất nhiều. Hẹp ống sống cổ
bẩm sinh có thể dẫn đến chèn ép tủy sống mà không có tiền sử chấn thương
và đôi khi không có bằng chứng thoái hóa xương. Các dấu hiệu lâm sàng có
thể phân biệt được với thoái hóa cột sống. Phẫu thuật cải thiện bốn trong số
sáu bệnh nhân [50].
Năm 1979, Countee và Vijayanathan [33], đã báo cáo các trường hợp
bệnh nhân còn trẻ liệt tứ chi sau chấn thương và đường kính ống sống cổ của
họ chỉ dưới 14mm thậm chí nhỏ hơn.
Năm 1996, Inoue H [47] và cộng sự, trong “Phõn tích hình thái của ống
sống cổ, ống màng cứng và tủy sống cổ, ở các đối tượng bình thường dựa vào
3
chụp cắt lớp vi tớnh’’ đó đưa ra kết luận: các biến đổi thoái hóa cột sống làm
cho ống sống bị hẹp lại, dẫn tới chèn ép tủy sống. Thoái hóa cột sống cổ
thường quan sát thấy phổ biến ở đoạn giữa của cột sống cổ, ở đây ống sống cổ
hẹp, kích thước tủy sống cổ lại to nhất, vì thế tủy sống dễ bị chèn ép hơn khi
cột sống thoái hóa.
Các nghiên cứu của Hoa Kỳ đều cho số liệu thống kê tương tự nhau , tỷ
lệ hẹp ống sống chiếm khoảng 13 -14% bệnh nhân của chuyên khoa thần kinh
và khoảng 3 – 4% tại các phòng khám đa khoa [37].
Năm 2000, Maiuri F [55], trong nghiên cứu " hẹp ống sống cổ do cốt
hóa dây chằng dọc sau ở các bệnh nhân Italia: điều trị phẫu thuật và kết quả
điều trị" đã đưa ra kết luận: để điều trị cốt hóa dây chằng dọc sau thì phẫu
thuật tốt nhất là giải phóng chèn ép từ phía trước lấy đi dây chằng dọc sau bị
cốt hóa thường có kết quả cải thiện hoặc làm giảm bớt các triệu chứng thần
kinh ở hầu hết bệnh nhân.
Theo Benzel WC [29], bệnh lý tủy cổ là nguyên nhân phổ biến nhất gây
rối loạn chức năng cột sống ở người già. Bệnh lý của tủy cổ là kết quả của hẹp
ống sống cổ. Hẹp ống sống cổ có thể do thoái hóa và bẩm sinh. Việc điều trị
phẫu thuật là cần thiết. Nhưng việc chẩn đoán có thể khó khăn vỡ cỏc dấu hiệu
và triệu chứng có thể rất khác nhau và không có dấu hiệu đặc trưng của bệnh.
Năm 2006, Nguyễn Đỡnh Dõn [2] trong nghiên cứu “Một số nhận xét
về sự thay đổi đường kính trước - sau ống sống cổ và chỉ số Pavlop ở nhóm
người trưởng thành bình thường với nhóm người có bệnh lý cột sống cổ’’ đã
đưa ra kết luận: các bệnh nhân có đường kính trước sau ống sống cổ ở một
5
trong các đốt sống từ C1 đến C7 nhỏ hơn 13 mm và chỉ số Pavlop nhỏ hơn
0,78 thỡ cú cỏc biểu hiện lâm sàng của bệnh lý cột sống cổ.
Năm 2009, Nguyễn Trung Sơn [16], trong “Nghiên cứu một số đặc
điểm lâm sàng và hình ảnh học của hội chứng hẹp ống sống thắt lưng – cùng”,
đã đưa ra nhận xét: có 100% bệnh nhân có bất thường trên phim chụp cộng
hưởng từ, có 95% bệnh nhân có tổn thương đĩa đệm, có 72,5% có hẹp lỗ tiếp
hợp, có 80% bệnh nhân cú rỏch dây chằng dọc sau.
1.2. Đặc điểm giải phẫu – chức năng cột sống cổ
1.2.1. Đặc điểm chung của vùng cột sống cổ
Cột sống là trụ cột của thân người, chạy từ bờ dưới xương chẩm đến
hết xương cùng-cụt. Cột sống được cấu tạo từ 32 hoặc 33 đốt sống và được
chia thành năm đoạn: đoạn cổ, đoạn lưng, đoạn thắt lưng, đoạn cùng, đoạn
cụt.
Cột sống cổ với chức năng chủ yếu làm trục đỡ và vận động đầu, có
khả năng vận động linh hoạt hơn cột sống thắt lưng do có sự quay quanh C2
của C1 và khả năng đàn hồi của đĩa đệm. Tủy cổ nằm trong ống sống cổ có
nhiệm vụ tiếp nối toàn bộ các đường dẫn truyền thần kinh quan trọng từ não
bộ xuống thân mình. Đồng thời dẫn truyền các cảm giác cảm thụ bản thể
thông qua các tế bào tủy, các sợi dẫn truyền và cỏc đụi thần kinh sống. Quá
trình vận động bất hợp lý lâu ngày cùng với những bệnh lý mắc phải trong
cuộc sống sẽ làm thay đổi các cấu trúc bình thường của cột sống cổ gây ra các
rối loạn chức năng của cột sống cổ [14].
1.2.2. Đặc điểm các đốt sống cổ
Cột sống cổ nối từ lỗ chẩm đến đốt lưng thứ nhất (D1), là trụ cột để giữ
và vận động đầu. Cột sống cổ gồm 7 đốt sống, 5 đĩa đệm và một đĩa đệm
nhập vào vỏ xương của đốt sống, còn ở phần trung tâm sắp xếp lỏng dần vòng
quanh nang của nhân nhày. Giữa các lớp có vách ngăn được gọi là yếu tố đàn
hồi. Ở vùng riềm của vòng sợi lại được tăng cường thêm một dải sợi móc chặt
vào nền xương. Tuy vòng sợi có cấu trúc bền chặt nhưng ở phía sau và sau
bên của của vòng sợi lại tương đối mỏng, được coi như điểm yếu, là nơi dễ bị
lồi vào và thoát vị đĩa đệm.
Nhân nhày là một khối gelatin nằm trung tâm đĩa đệm, có vòng xơ bao
quanh. Chất gelatin dạng sợi có đặc tính ưa nước, trong đó chất glycoprotein
có chứa nhiều chất sulfat có tác dụng hút nước và ngậm nước đồng thời ngăn
cản khuếch tán nước ra ngoài, do đó nhân nhày luôn có xu hướng phình to ra,
co giãn đàn hồi, có tác dụng làm giảm chấn động cột sống trong các động tác
cúi, ngửa, xoay sang hai bên. Ở người trưởng thành lượng nước giảm dần và
làm giảm tính chất của đĩa đệm.
8
Hình 1.2. Hình ảnh đĩa đệm cột sống cổ [75 ]
1.2.4. Các dây chằng cột sống
Các dây chằng chính là dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây
chằng vàng. Những dây chằng này liên quan trực tiếp đến bệnh lý hẹp ống sống.
Dây chằng dọc trước phủ thành trước thân đốt sống và phần trước của
vòng sợi, có tác dụng ngăn cản đĩa đệm thoát vị ra trước và ngăn không cho
cột sống gấp quá mức.
Dây chằng dọc sau phủ thành sau của thân đốt sống và của vòng sợi
đĩa đệm, phần bên của dây chằng dọc sau bám vào màng xương của cỏc thõn
cung đốt sống. Tuy nhiên dây chằng dọc sau không bám sát đến bờ sau mỏm
múc nờn vị trí này được coi là điểm yếu dễ xảy ra thoát vị bên.
Dây chằng vàng phủ mặt sau của ống sống từ cung đốt sống này đến
cung đốt sống khác, tạo nên một bức vách thẳng ở phía sau ống sống, có tác
dụng hạn chế sự nộn ộp quá mức lờn cỏc đĩa đệm, ngăn cản sự thoát vị ra sau
và sự gấp đột ngột của cột sống. Sự phì đại của dây chằng vàng là nguyên
nhân chớnh gõy hẹp ống sống cổ từ phía sau và có thể chèn ép vào tủy sống
kinh, màng cứng, màng mềm, màng nuôi, khoang dưới nhện chứa dịch não-
tủy, mô mỡ, hệ thống tĩnh mạch [15,19].
Đường kính ống sống cổ:
Kích thước của ống sống đoạn cổ có tầm quan trọng về lâm sàng trong
các bệnh cảnh chấn thương, thoái hóa, viêm [60]. Chụp X quang cột sống cổ
nghiêng là phép đo điển hình kích thước của ống sống. Đó là đo đường kính
ống sống trên mặt phẳng đứng dọc từ mặt sau của mỗi thân đốt sống tới điểm
gần nhất của thành sau ống sống. Tuy nhiên, do các dao động của độ phóng
đại và khoảng cách từ nguồn tia X đến phim X quang, cũng như từ đối tượng
đến phim, đều có thể ảnh hưởng tới phép đo này. Để tránh điều đó Pavlop và
cộng sự [67] đã sử dụng tỷ số giữa đường kính của ống sống và đường kính
của thân đốt sống. Giá trị của tỷ số này dưới 0,8 mm là hẹp ống sống cổ.
đường kính trước- sau ống sống cổ
* Chỉ số Pavlop =
(đơn vị tính bằng mm). đường kính trước- sau thân đốt sống
11
Tuy nhiên, chụp X quang thường quy chỉ có khả năng đánh giá các cấu
trúc xương, trong khi các bất thường mô mềm cũng là những nguyên nhân
gây hẹp ống sống. So sánh các phương pháp nghiên cứu X quang khác hiện
có để đánh giá cột sống thì chụp cộng hưởng từ có khả năng phát hiện được
các bất thường tinh vi ở cả mô mềm lẫn mô xương làm cho kỹ thuật này có độ
nhạy cao trong chẩn đoán bệnh lý của cột sống cổ [43,86]. Do đó, sử dụng
chụp cộng hưởng từ có thể đo được chính xác đường kính ống sống đoạn cổ.
Năm 2009, Morishita Y và các cộng sự [60], trong phương pháp nghiên
cứu đã đo đường kính ống sống bằng cách chụp cộng hưởng từ theo mặt
phẳng đứng dọc ở những bệnh nhân đau vùng cột sống cổ mà không có triệu
chứng thần kinh, độ tuổi trung bình từ 17 đến 93. Sau đó để số hóa, các nhà
nghiên cứu đánh dấu 77 chấm trờn cỏc hỡnh chụp cộng hưởng từ (vị trí như
hình 1.4 dưới đây) và đo, đã đưa ra kết luận : đường kính trước - sau của cột
dịch não- tủy ở ngang mức của một cuống đốt sống nhất định chính là đường
Tủy cổ thấp từ C5 đến C8.
14
1.2.8. Hệ thống thần kinh cổ và sự chi phối
Hình 1.5. Liên quan giải phẫu của đốt sống cổ C
4
[63]
Mỗi khoanh tủy cho ra một đôi rễ vận động, một đôi rễ cảm giác. Các
rễ trước và rễ sau của khoanh tủy hợp lại tạo thành dây thần kinh sống. Từ các
rễ của khoanh tủy cao sẽ tạo nên đám rối thần kinh cổ, chi phối cảm giác vùng
chẩm gáy và vận động các cơ vùng cổ. Từ các rễ của khoanh tủy thấp tạo ra
đám rối thần kinh cánh tay. Đám rối này có bảy ngành cùng: thần kinh cơ- bì,
thần kinh giữa, thần kinh trụ, thần kinh quay, thần kinh nách, thần kinh bì-
cánh tay trong, thần kinh bì- cẳng tay trong, chi phối vận động và cảm giác
hai tay.
Hạch giao cảm cổ phân nhánh cho các dây thần kinh sống. Khi thần kinh
giao cảm này bị kích thích sẽ gây chóng mặt, nhức đầu, ù tai, đỏ mặt, loạn
cảm họng
15
Sự chi phối vận động, cảm giác, phản xạ thần kinh cổ được tóm tắt như
sau [1,13,25]:
Rễ
Định khu rối
loạn cảm giác
Vận động
Động tác vận
động
Phản xạ
C2
Vùng chẩm, tai
Tam đầu, trụ
sau, trụ quay,
duỗi các ngón,
duỗi và dạng
ngón cái
Duỗi cẳng tay,
duỗi các ngón,
duỗi và dạng
ngón cái
Tam đầu
C8
Mặt trong cánh
tay đến hai
ngón trong
cùng
Cơ gấp ngón
tay và bàn tay
Gấp cổ tay, gấp
các ngón và gấp
ngón vào bàn
tay
Trụ úp
16
Hình 1.6. Sơ đồ phân bố thần kinh cảm giác cơ thể [63]
17
Mạch máu:
Mạch máu nuôi đốt sống cổ: Nhánh động mạch cổ lên, động mạch cổ
sâu, động mạch đốt sống.
Mạch máu nuôi tủy cổ chủ yếu do động mạch đốt sống, tách ra từ động
mạch dưới đòn, chạy trong các lỗ ngang từ đốt sống C6 đến C1 rồi vào trong sọ.
Hạn chế vận động cột sống cổ.
1.3.1.2. Hội chứng rễ [1,6,10,14, ]:
Các triệu chứng đau, rối loạn cảm giác, vận động và phản xạ tương ứng
với vùng phân bố của rễ thần kinh cổ bị tổn thương, teo cơ khi rễ bị chèn ép
lâu ngày.
19
Đau kiểu rễ cổ: là triệu chứng thường gặp và xuất hiện sớm nhất, đau
lan truyền theo một nhóm rễ thần kinh cổ bị tổn thương, có thể một bên hoặc
hai bên.
Tính chất đau: đau nhức nhối, đau như điện giật, đau tăng lên khi ho hắt
hơi, khi vận động cột sống cổ. Đau lan từ gáy xuống cánh tay, cẳng tay, có thể
đến cỏc ngún, hoặc đau đầu vùng chẩm gáy tùy theo rễ tổn thương.
Một số nghiờm phỏp căng rễ: dấu hiệu bấm chuông, dấu hiệu
Lhermitte, dấu hiệu Spurling:
Dấu hiệu bấm chuông: khi ấn vào cạnh sống nơi xuất chiếu của rễ thần
kinh (hoặc ấn vào khe liên đốt), bệnh nhân thấy đau lan truyền hoặc giật mạnh
xuống dọc theo dây thần kinh.
Dấu hiệu Spurling: bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghiêng đầu về bên đau,
thầy thuốc dùng tay ộp lờn đỉnh đầu bệnh nhân, đau xuất hiện ở rễ bị tổn
thương do làm hẹp lỗ ghép.
Dấu hiệu Lhermitte: Khi bệnh nhân cúi đầu có cảm giác như điện giật
bất ngờ lan từ cột sống cổ tới lưng.
Rối loạn cảm giác kiểu rễ.
Đây là triệu chứng chủ quan của người bệnh nhưng là triệu chứng hay
gặp. Bệnh nhân thường tờ bỡ và giảm cảm giác vùng bả vai hoặc tờ bỡ như
kiến bò lòng bàn tay và các ngón tay. Vùng rối loạn cảm giác rất có giá trị
chẩn đoán rễ tổn thương [25].
Liệt kiểu ngoại vi do tổn thương rễ.
Phụ thuộc vào vị trí tổn thương. Các triệu chứng này thấy rõ ở chi trên.
Liệt thường không hoàn toàn. Bệnh nhân khó thực hiện các động tác như
21
động và mất cảm giác sõu, cũn cảm giác nụng bờn tổn thương, mất cảm giác
nụng bờn đối diện[13,64].
Ngoài ra còn một số triệu chứng khác như khó thở, chóng mặt, cơn
ngã gục, mờ mắt do rối loạn tuần hoàn hệ sống- nền.
1.3.2. Các phương pháp thăm dò cân lâm sàng thường được áp dụng
1.3.2.1. Chụp X quang cột sống cổ thường quy
Là một xét nghiệm thường quy với ba tư thế: thẳng, nghiêng, chếch 3/4.
X quang cột sống cổ có thể hiển thị các vấn đề có ảnh hưởng đến xương, như
viêm xương, gãy xương, hoặc khối u của xương. Chụp X quang cũng có thể
đưa ra một số tổn thương của thoái hóa, mức độ thoái hóa. Dựa vào phim X
quang, người ta có thể đánh giá đường cong sinh lý của cột sống, khớp đốt
sống, khoang gian đốt, kích thước lỗ tiếp hợp, mật độ xương và cấu trúc
xương, các dị tật bẩm sinh Qua đây, có thể có các dầu hiệu gợi ý nguyên
nhân như loãng xương, mỏ xương, tiêu xương thân đốt sống, hẹp lỗ tiếp hợp,
hẹp khe cột sống …Trong trường hợp chấn thương, chụp X quang cột sống
cho phép phát hiện tổn thương nhanh. Tuy vậy hầu hết các cấu trúc mô mềm
của cột sống, chẳng hạn như các dây thần kinh, đĩa đệm, và cơ vùng cổ,
không hiển thị trên phim X quang cột sống [24,30,83].
Hình 1.8. Hình thoái hóa cột sống cổ (trên phim chụp X quang cột sống cổ)
[30].
22
1.3.2.2 Xét nghiệm dịch não- tủy
Dịch não - tủy là thành phần lưu thông trong khoang dưới nhện, được
hình thành từ đám rối mạch mạc.
Bình thường dịch não - tủy là một dịch trong suốt không màu, thể tích
khoảng 100 -150ml. Ở tư thế nằm, áp lực đo qua thắt lưng là 12-18cm nước.
Dịch não- tủy hầu như không chứa tế bào, chỉ vài tế bào lympho trong một ml
dịch não- tủy. Hàm lượng protein trong dịch não- tủy từ 0,2g/l đến 0,5g/l, chủ
yếu là albumin [4,8,77].
cổ. Trước khi chụp CHT, bệnh nhân sẽ được yêu cầu loại bỏ bất kỳ vật bằng
kim loại, chẳng hạn như đồ trang sức, chìa khóa Những bệnh nhân có cấy
kim loại trong cơ thể như một máy tạo nhịp tim hay thay khớp sẽ không được
chụp phương pháp này [3,9,23,83,87].
Hiện nay, các thành phố lớn tại Việt nam, máy chụp cộng hưởng từ đó
cú ở một số cơ sở y tế công lập và tư nhân góp phần to lớn vào chẩn đoán
bệnh, đặc biệt các bệnh lý về tủy sống.
- Tính ưu việt của phương pháp CHT.
CHT là phương pháp chẩn đoán hình ảnh cho các thông tin đầy đủ nhất
và trung thực nhất về mặt giải phẫu trong đa số các trường hợp. Nó có thể
thăm khỏm cỏc mụ mềm với các lớp cắt mỏng(1mm) và tạo hình ảnh theo các
chiều trong không gian.
Trên phim cộng hưởng từ, người ta có thể quan sát cùng một bệnh lý
với nhiều hình ảnh tương phản nhau qua các xung T1W, T2W, T2 FLAIR,
T2*, khuếch tán và bản đồ ADC, T1 gadolinium, giúp thấy rõ khu vực tổn
thương và ảnh hưởng đối với mô kế cận. Trong một số trường hợp đặc biệt có
24
thể chỉ định chụp cộng hưởng từ động. Ngoài ra, hệ thống đo đạc phong phú
của máy CHT giúp thầy thuốc khá đầy đủ thông tin về tổn thương.
Sự vô hại của phương pháp CHT là một ưu thế rất lớn. CHT còn được
dùng để phát hiện các bệnh lý về thần kinh của thai nhi mà không ảnh hưởng
tới sức khỏe của thai nhi [3,9,83].
- Chỉ định chụp cộng hưởng từ
Tất cả các bệnh lý não.
Các bệnh lý cơ-xương-khớp: bệnh lý cơ-xương-khớp, dây chằng, cột
sống vv
Các bệnh lý mắt, tai, mũi, họng.
Các bệnh lý tim mạch.
Các cơ quan nội tạng khác: gan, thận, tụy, lách
- Chống chỉ định của chụp cộng hưởng từ.