ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hoá đang có tốc độ phát triển
nhanh. Đái tháo đường thai kỳ là (ĐTĐTK) là một thể đặc biệt của đái tháo
đường. Tỷ lệ ĐTĐTK thay đổi từ 1-14%[20], [28] các thai phụ, tuỳ theo vùng
địa lý, theo chủng tộc. Bệnh có xu hướng tăng nhất là khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương, trong đó có Việt Nam [2], [14], [15], [16].
Đái tháo đường thai kỳ nếu không được chẩn đoán và điều trị sẽ gây
nhiều tai biến cho mẹ và thai nhi bao gồm sảy thai, thai chết lưu, tiền sản
giật,tử vong chu sinh không rõ nguyên nhân, thai to dẫn đến đẻ khó. Trẻ sơ
sinh có nguy cơ bị hạ đường máu, hạ canxi máu, tăng hồng cầu và vàng da;
khi trẻ đến tuổi dậy thì dễ bị béo phì, rối loạn dung nạp đường huyết và đái
tháo đường. Nguy cơ đối với người mẹ là tăng huyết áp và đặc biệt là đỏi tháo
đường type II thực sự sau này. [30], [31], [44], [46], [49].
Theo khuyến cáo của hộ nghị quốc tế lần thứ 4 về ĐTĐTK tại Mỹ,
những phụ nữ có nguy cơ cao bị ĐTĐTK là những người thừa cân, béo phì
trước khi mang thai, người có tiền sử đẻ con to, tiền sử gia đình ĐTĐ thế hệ
1. Những phụ nữ có nguy cơ cao bị ĐTĐTK rất cần được sàng lọc chẩn đoán
ngay từ lần khám thai đầu tiờn.Bởi vì nếu không được chẩn đoán và điều trị,
bệnh ĐTĐTK sẽ gây nhiều biến chứng cho mẹ và thai nhi.Trên thế giới đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu về ĐTĐTK và nhờ đó các thai phụ có nguy cơ
cao được chẩn đoán và điều trị kịp thời tránh được những tai biến.
Tại Việt Nam, những năm gần đây ĐTĐTK cũng bắt đầu được các tác
giả quan tâm. Năm 2000, Nguyễn Thị Kim Chi và cộng sự nghiên cứu xác
định tỷ lệ ĐTĐTK tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội là 3,6%[7]. Năm 2002 –
1
2004 Tạ Văn Bình và cộng sự tại 2 bệnh viện Phụ sản Trung ương và Phụ sản
Hà Nội là 5,7%[4]. Theo các tác giả Vũ Bích Nga, Tạ Văn Bình, tỷ lệ
ĐTĐTK ở nhóm nguy cơ cao là 25,2% và nhóm không có nguy cơ cao là
4,8% [16].Các nghiên cứu này đều sàng lọc ĐTĐTK cho các thai phụ vào
tuần thứ 24 – 28, sẽ không phát hiện được sớm và điều trị kịp thời ĐTĐTK
cho các thai phụ có nguy cơ cao để tránh tai biến cho mẹ và thai. Xuất phát từ
3
có 13 thai nhi tử vong. Tác giả nhận định rằng đây là những rối loạn xuất hiện
cùng khi mang thai và ĐTĐ được khái niệm một cách đơn giản là những bất
thường về số lượng và chất lượng nước tiểu.
Tới những năm 1940 – 1950, các nghiên cứu tại Mỹ và Scotland đã
khẳng định tăng glucose máu mẹ làm tăng tỷ lệ tử vong sơ sinh. Ngoài ra các
tác giả cũng chỉ ra rằng trong thời mang thai có sự thay đổi tính nhạy cảm với
isulin.
Năm 1954 nghiên cứu đầu tiên về bất thường chuyển hoá cacbohydrat
ở thai phụ được tiến hành tại Boston ( Hoa Kỳ ). Nghiệm pháp sàng lọc với
50g glucose lần đầu tiên được sử dụng.
Năm 1964 O’Sullivan và Mahan đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK
dựa trên các kết quả khi làm NPDNG trên 752 thai phụ.
Năm 1979 tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK của O’Sullivan và Mahan dựa
vào kết NPDNG uống 100g trong 3 giờ đã được Hội phụ khoa Hoa Kỳ
khuyến cáo sử dụng, uỷ ban quốc gia về ĐTĐ của Hoa Kỳ đã công bố tiêu
chuẩn này.
Thuật ngữ “ Gestational Diabetes Mellitus ”; ĐTĐTK lần đầu tiên được
đưa ra bởi Jorgen Pedersen năm 1967 tại Copenhagen nhưng định nghĩa về
ĐTĐTK mới được chính thức công nhận ở hội nghị thế giới lần thứ nhất về
ĐTĐTK tại Chicago năm 1980.
Cũng trong năm 1980, tổ chức y tế thế giới lần đầu tiên đưa ra tiêu
chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK. Sau đó nhiều nghiên cứu về chẩn đoán, điều trị, và
theo dõi ĐTĐTK ở các nước trên thế giới lần lượt được công bố.
4
1.3. TÌNH HÌNH ĐTĐTK TRấN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.3.1. Thế giới
Tỷ lệ ĐTĐTK thay đổi khác nhau tuỳ theo quốc gia, theo vùng, theo
chủng tộc. Tỷ lệ dao động từ 1% đến 14%[15], [19]. Theo một số nghiên cứu
cho thấy ở phụ nữ da trắng, tỷ lệ ĐTĐTK thấp hơn so với nhóm phụ nữ Ấn
5,7
N.T.P.Thảo 2007 BV Bạch mai 7,9
Vũ Bích Nga 2008 BV phụ sản TƯ
BV Bạch Mai
7,8
1.4. Chuyển hoá carbohydrate ở thai phụ bình thường
Chuyển hoá glucose ở thai phụ bình thường có 3 đặc điểm cần chú ý đó
là: giảm nhạy cảm với insulin, tăng insulin máu và nồng độ glucose mỏu lỳc
đúi thấp[3], [27], [33].
1.4.1. Giảm nhạy cảm với insulin
Kháng insulin có xu hướng tăng dần trong suốt thời gian mang thai
song hành với các hormone. Cỏc mụ nhạy cảm với insulin bao gồm gan, cơ
vân. Gan tăng sản xuất glucose khi đói trong khi nồng độ insulin khi đói tăng
cao rõ rệt, điều này dẫn đến giảm nhạy cảm của gan với insulin[28].Vào giai
đoạn mang thai, các thai phụ giảm 40% sự nhạy cảm của cỏc mụ ngoại vi với
insulin
1.4.2. Tăng insulin máu
6
Nhiều nghiên cứu cho thấy ở thai phụ co hiện tượng tăng insulin máu,
tăng nhu cầu insulin để kiểm soát glucose máu.Sự bài tiết insulin đáp ứng
tăng dần khi truyền glucose. Nồng độ insulin tăng ở thai phụ là do thay đổi
chức năng của tế bào đảo tuy. Ngoài ra ở phụ nữ cú thaicũn thấy hiện tượng
tăng độ thanh thải insulin [26].
1.4.3. Nồng độ glucose mỏu lỳc đúi giảm
Trong thời kỳ mang thai, dinh dưỡng bào thai phụ thuộc hoàn toàn vào
nguồn nhiên liệu chuyển hoá từ cơ thể. Nguồn năng lượng này được khuyến
tán và vận chuyển thông qua tuần hoàn rau thai. Sự vận chuyển liên tục nhiên
liệu qua rau thai làm tăng các “khoảng trống năng lượng”của cơ thể người mẹ
do không được cung cấp thức ăn liên tục. Khi hiện tượng này xẩy ra, cơ thể
mẹ xuất hiện các phản ứng thích nghi nhằm đảm bảo hai quá trình: cung cấp
tạo điều kiện cho tích trữ mỡ của cơ thể mẹ, sự tích mỡ đạt mức tối đa vào
giữa thời kỳ mang thai. Vào nữa sau của thai kỳ có hiện tượng kháng insulin,
đồng thời nhu cầu insulin của các thai phụ cũng tăng khi thai càng phát triển
gây thiếu hụt insulin tương đối. Sự kết hợp của hai yếu tố trên làm cho thai
phụ có xu hướng dần tới ĐTĐ ở nưả sau của thai kỳ. Nồng độ của
progesteron, estrogen, HPL, do rau thai tiết ra tăng song song với đường cong
phát triển thai. Nồng độ các hormon rau thai tăng dần theo trọng lượng rau
thai sẽ làm tăng bài tiết của đảo tuỵ, giảm đáp ứng với insulin và tăng tạo
ceton. ĐTĐTK xuất hiện vào khoảng tuần thứ 24 của thai kỳ, khi mà rau thai
sản xuất một lượng đủ các hormon gõy khỏng insulin[9], [12].
1.5.1.1. Vai trò của estrogen và progesteron với sự kháng insulin
8
Vào giai đoạn sớm của thai kỳ, cả hai hormon này tác động trên hoạt
động của insulin lại khác nhau. Estrogen có thể tăng đáp ứng của cơ với
insulin trong khi progesteron thì lại chất đối kháng nhẹ với insulin, giảm
nhạy cảm của mô với insulin, vì vậy hai hormon này có thể trung hoà cho
nhau. [55], [66]. Nờỳ người bình thường sử dụng cả 2 hormon này sẽ làm
tăng nồng độ ceton, tăng triglycerit và tăng acid béo tự do mà không làm thay
đổi nồng độ glucose máu.
1.5.1.2. Vai trò của cortisol với sự kháng insulin
Nồng độ cortisol tăng khi mang thai, vào giai đoạn cuối thai kỳ, nồng
độ cortisol tăng gấp 3 lần ở người không mang thai[66]. Rizza và cộng sự sử
dụng kỹ thuật clamp trong nghiên cứu ở những người được truyền liều cao
cortisol, tác giả nhận thấy rằng có sự tăng sản xuất glucose ở gan và giảm
nhạy cảm[54].
1.5.1.3. Vai trò của prolactin với sự kháng insulin
Trong thời kỳ mang thai, nồng độ prolactin tăng gấp 7-8 lần[65].
Skouby thăm dò mối liên quan giữa nồng độ prolactin và trình trạng dung nạp
đường glucose ở thai phụ bình thường và thai phụ ĐTĐTK bằng cách tiến
hành làm nghiệm pháp dung nạp đường huyết vào nữa sau của thời kỳ thai
đầu tăng cân và lớn nhanh. Nếu tăng glucose mỏu thỡ gõy thai to, tập trung
chủ yếu vùng ở vùng ngực gây đẻ khó.
1.6. Yếu tố nguy cơ đối với ĐTĐTK
10
Các nghiên cứu dịch tễ học về ĐTĐTK phát hiện nhiều điểm chung,
giống ĐTĐ typ II. Những phu nữ mắc bệnh ĐTĐTK có xu hướng hay gặp ở
người nhiều tuổi, có thừa cân trước khi mang thai. Vì vậy theo khuyến cáo
của Hội nghị Quốc tế (HNQT) lần thứ 4 về ĐTĐTK tại Hoa Kỳ năm 1998
thỡ cỏc thai phụ sau có nguy cơ dễ mắc ĐTĐTK[15], [48].
- Béo phì:
Ở người béo phì cú trỡnh trạng kháng insulin, tăng tiết insulin phát
hiện qua nghiệm phát dung nạp glucose bị rối loạn, dễ dẫn đến bệnh ĐTĐ.
Người béo phì có tỷ lệ bị ĐTĐ cao và có tới 80-90% người bị ĐTĐ có béo
phì ở Mỹ. Hầu hết các nghiên cứu đều nhận thấy tỷ lệ ĐTĐTK ở nhóm phụ
nữ béo phì cao [14].
Theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới đề nghị cho khu vực Châu Á
– Thái Bình Dương tháng 2/2000, BMI ≥ 23 được coi là thừa cân và béo phì.
Tạ Văn Bình và cộng sự trong nghiên cứu thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐTK giữa
hai nhóm BMI ≤ 23 và BMI ≥ 23 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <
0,005[4].
- Tiền sử gia đình:
Tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ, đặc biệt là người ĐTĐ thế hệ thứ nhất
là một trong những yếu tố nguy cơ cao của ĐTĐTK chiếm 50-60% so với
nhóm không có tiền sử gia đình. Nghiên cứu của Maggee cho thấy ở nhóm có
tiền sử gia đỡnh thỡ ĐTĐTK cao hơn 40%. Theo Wagaarach thấy tỷ lệ mắc
ĐTĐTK của thai phụ có tiền sử gia đình là 5,2% trong khi nhóm không có
tiền sử là 3,9%.
- Tiền sử đẻ con ≥ 4000g:
11
Cân nặng trẻ lúc đẻ vừa là hậu quả của ĐTĐTK vừa là yếu tố nguy cơ cho
có Việt Nam có tỷ lệ ĐTĐTK cao. Khi nghiên cứu 180 thai phụ Châu Á,
Gunton (úc ) năm 1998 thấy tỷ lệ ĐTĐTK là 10,6%. Với nghiên cứu của
Moses tỷ lệ là 12,2%. Henry O.A và cộng sự thấy tỷ lệ ĐTĐTK ở các thai
phụ gốc Việt Nam Là 7,8%( 144/ 1839).
Tại Hội nghị lần thứ 4 về ĐTĐTK, các yếu tố nguy cơ ĐTĐTK đựoc chia
là 3 mức độ
13
Bảng 1.6: Phõn loại nhóm nguy cơ và khuyến cáo sàng lọc ĐTĐTK
của HNQT lần thứ tư về ĐTĐTK[47]
Nguy cơ Đặc điểm Khuyến cáo sàng lọc
Nhóm
nguy cơ
cao
Có một hoặc nhiều hơn các yếu tố sau:
Thừa cân, béo phì trước khi mang thai
Trong gia đình có người bị ĐTĐ
Tiền sử ĐTĐTK
Tiền sử đẻ con to ≥ 4000g
Đường niệu dương tính
Sử dụng test sàng lọc
từ lần đầu tiên đến
khám thai , nếu
không bị ĐTĐTK thì
nhắc lại vào tuần thứ
24 -28 của thai kỳ.
Nhóm
nguy cơ
trung bình
Không có các đặc điểm của nhóm
nguy cơ cao và nguy cơ thấp
Thai phụ ĐTĐTK dễ bị tăng huyết áp hơn các thai phụ bình thường
[29][62]. Tỉ lệ bị tăng huyết áp trong thời gian mang thai có thể đạt tới
10%[64]. Nghiên cứu của Vambergue và cộng sự tại 15 trung tâm Bắc Phỏp
đó chỉ ra rằng các thai phụ bị ĐTĐTK có tỉ lệ bị cao huyết áp là 17% tăng hơn
so với nhóm chứng chỉ là 4,6% (P<0,005) [65].
Bệnh sinh của tăng huyết áp trong thời gian mang thai vẫn chưa được
rõ ràng, có nhiều yếu tố góp phần làm tăng huyết áp. Người ta thấy rằng ở
người ĐTĐTK, chính sự giảm dung nạp glucose và kháng insulin giữ vai trò
sinh lý bệnh chủ yếu làm tăng nguy cơ bị tăng huyết áp[22],[52],[57], [62].
Hiện tượng kháng insulin có tác động lên hệ thần kinh giao cảm. Kháng
insulin làm nồng độ insulin máu tăng sẽ kích thích giải phóng nor-epinephrine
làm tăng tần số tim và huyết áp tâm thu, tác dụng này vượt trội hơn cả tác
dụng giãn mạch trực tiếp của insulin trên mạch máu. Cường insulin mỏu gõy
phì đại tế bào cơ trơn mạch máu dẫn tới co hẹp và cứng lòng mạch. Cường
insulin máu, giảm dung nạp glucose còn gây rối loạn lipid mỏu(tăng
triglyceride và giảm HDL) dẫn tới xơ vữa mạch máu. Ngoài ra cường insulin
còn ảnh hưởng tới bơm vận chuyển Ca++ATP và bơm vận chuyển Na+K+
ATP, làm tăng nồng độ Ca++ trong tế bào từ đó dẫn đến tăng trương lực
mạch máu[53].
Tăng huyết áp trong thời gian mang thai có thể gây ra nhiều biến chứng
cho mẹ và thai nhi như là: tiền sản giật, sản giật, co giật, đột quỵ, suy gan, suy
15
thận, thai chậm phát triển trong tử cung, đẻ non và chết chu sinh. Vì vậy đo
huyết áp thường xuyên, theo dõi cân nặng, tìm protein niệu cho các thai phụ
ĐTĐTK là việc làm rất cần thiết, nhất là vào nửa sau của thai kỳ[59].
-Tiền sản giật và sản giật
Thai phụ ĐTĐTK có nguy cơ bị tiền sản giật cao hơn các thai phụ
thường. Tiền sản giật bao gồm các triệu chứng: tăng huyết áp, có protein niệu,
acid uric máu tăng> 6mg/dl[29],[62]. Thậm chớ có bệnh nhân bị hội chứng
HELLP(Hemolysis, Elevated Liver enzyms, Low Platelet) rất rõ gồm các
điều trị. Nếu không được điều trị sẽ dễ dàng dẫn tới viêm đài bể thận cấp, từ
đó gây ra rất nhiều các tai biến khác như nhiễm toan ceton, đẻ non, nhiễm
trùng ối[69].
- Đẻ non
Người bị ĐTĐTK tăng nguy cơ đẻ non so với thai phụ không bị đái
tháo đường. Tỉ lệ đẻ non ở phụ nữ ĐTĐTK là 26% trong khi ở quần thể
thường chỉ là 9,7%. Các nguyên nhân dẫn đến đẻ non là kiểm soát đường mỏu
kộm, nhiễm trùng tiết niệu, đa ối, tiền sản giật, tăng huyết áp[34],[68].
- Đa ối
Dịch ối bình thường đo được trên siêu âm khoảng 12cm vào tuần thứ
22 và tăng dần tới 17,5 cm vào tuần thứ 36.
Đa ối hay gặp ở phụ nữ mang thai bị đái tháo đường. Tỉ lệ đa ối ở các
thai phụ ĐTĐTK cao gấp 4 lần so với các thai phụ không ĐTĐTK. Trong
17
nghiên cứu của Farooq và cộng sự cho thấy tỉ lệ đa ối ở các thai phụ ĐTĐTK
chiếm tỉ lệ 18%, cao hơn so với các thai phụ không ĐTĐTK[32]. Cơ chế đa ối
do đái tháo đường còn chưa được biết rừ. Cú giả thuyết cho rằng đa ối liên
quan đến bài niệu thẩm thấu của thai nhi, nhưng điều này được bác bỏ vì kết
quả đo bài niệu của thai nhi trên siêu âm hoàn toàn bình thường[68]. Tuy
nhiờn các tác giả đều thừa nhận tăng đường máu mẹ gây ảnh hưởng tới tạo
nước tiểu của thai nhi có thể do kích thích mạn tính kết hợp với thay đổi
chuyển hóa tại thận và điều này cần các nghiên cứu thực nghiệm hiện đại hơn
để giải thích. Dịch ối nhiều thường thấy từ tuần thai thứ 26-32. Dịch ối nhiều
cũng làm tăng nguy cơ đẻ non.
1.7.1.2. Hậu quả lâu dài
Nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng các phụ nữ có tiền sử ĐTĐTK dễ
mắc ĐTĐ týp 2. Theo Hyer, khoảng 17% đến 63% các phụ nữ ĐTĐTK sẽ bị
ĐTĐ týp 2 trong thời gian sau 5 năm đến 16 năm[39]. Thường thì khoảng 50
% phụ nữ có tiền sử ĐTĐTK sẽ bị ĐTĐ type II trong tương lai. Các nghiên
cứu khác nhau với thời gian theo dõi khác nhau trờn cỏc nhúm chủng tộc khác
nồng độ insulin trong máu con vẫn còn cao. Insulin cao làm cho cỏc mụ bắt
giữ đường nhiều hơn trong khi gan trẻ sơ sinh vẫn chưa sản xuất được đủ
glucose dẫn đến hạ đường máu. Thời gian hạ đường máu kéo dài tới 24-72
giờ sau khi sinh. Vì vậy kiểm soát tốt đường máu cho các thai phụ ĐTĐTK
trong thời gian mang thai và chuyển dạ sẽ tránh được tai biến này. Và cũng vì
vậy mà cần phải theo dõi chặt đường máu cho trẻ sơ sinh trong 3 ngày đầu
sau đẻ[25],[43],[48].
19
- Hạ canxi máu sơ sinh: tỉ lệ hạ canxi máu sơ sinh của các trẻ đẻ non
hoặc ngạt có mẹ bị ĐTĐ cao hơn các trẻ có mẹ không bị ĐTĐ, trong 3 ngày
đầu tỉ lệ hạ canxi có thể đạt tới 50% nếu kiểm soát đường máu của mẹ không
tốt. Khi đường máu của mẹ không được kiểm soát tốt, mẹ sẽ bị mất ion
Mg(mangesium) qua nước tiểu, làm nồng độ Mg máu mẹ giảm dẫn đến nồng
độ Mg máu con giảm. Mất Mg sẽ ảnh hưởng tới sự bài tiết hormone PTH của
thai nhi và gây hạ canxi máu. Hạ canxi máu trẻ sơ sinh càng nặng nếu đường
máu mẹ càng cao[48].
- Đa hồng cầu: Hematocrit có thể >70% vào 2 giờ sau sinh và >65%
vào 6 giờ sau sinh. Tỉ lệ đa hồng cầu gặp từ 12-40% tuỳ theo các nghiên cứu.
Có hai lý do để giải thích hiện tượng đa hồng cầu ở trẻ sơ sinh của các bà mẹ
ĐTĐ. Thứ nhất là do thiếu oxy máu làm tăng sản xuất erythropoietin (vì tăng
đường máu, tăng insulin máu và tăng ceton máu làm tăng tiêu thụ oxy dẫn tới
bão hoà oxy máu động mạch giảm). Nồng độ erythropoietin của trẻ vào lúc
sinh sẽ tương quan với nồng độ glucose và nồng độ insulin trong nước ối và
máu cuống rốn. Thứ hai là do thay đổi phân bố dòng máu giữa nhau và thai
nhi. Bình thường thể tích máu của nhau và thai trong tử cung khoảng
110mg/kg, trong đó nhau chiếm 35%, thai chiếm 65%. Khi thiếu oxy luồng
máu phân bố sẽ thay đổi giữa nhau và thai. Đa hồng cầu cần được chăm sóc
cẩn thận vỡ gõy cô đặc máu dẫn tới tím, nhược cơ hô hấp, hạ đường máu,
hoại tử ruột và tắc tĩnh mạch[48].
- Tăng bilirubin máu: do nhiều yếu tố gây nên như là tăng khối lượng tế
Chớnh vì ĐTĐTK để lại nhiều hậu quả cho mẹ và con nên việc chẩn
đoán và điều trị kịp thời có thể làm giảm biến chứng cho mẹ, giảm bệnh lý và
tỉ lệ tử vong chu sinh cho con [42],[43].
1.8. CHẨN ĐOÁN
Chưa có tiêu chuẩn thống nhất để chẩn đoán ĐTĐTK trên toàn thế giới.
Các tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK còn là vấn đề tranh cãi mặc dù đã có nhiều
hội nghị quốc tế đề cập đến vấn đề này. Nhưng các tiêu chuẩn chẩn đoán xây
dựng dựa trên tỷ lệ bệnh tật liên quan có tính thuyết phục hơn cả. Đó là các
tiêu chuẩn xây dựng dựa trên nghiên cứu về tỉ lệ các tai biến sản khoa, tỉ lệ
mắc ĐTĐ trong tương lai của mẹ và các tai biến cho thai và trẻ sơ sinh với
mức đường mỏu đú. Tiêu chuẩn chẩn đoán dưới đây dựa trên cơ sở đó.
Tiêu chuẩn của HNQT lần thứ IV về ĐTĐTK tại Mỹ 1998 [47]
Các thai phụ được làm NPDNG với 75g glucose. Chẩn đoán ĐTĐTK
khi thai phụ có ít nhất hai giá trị lớn hơn hoặc bằng dưới đây
Thời điểm lấy mẫu Ngưỡng giá trị chẩn đoán NPDNG 75g
Lỳc đói 5,3 mmol/L
1 giờ 10,0 mmol/L
2 giờ 8,6 mmol/L
Đây là tiêu chuẩn được nhiều tác giả sử dụng, nhất là các nước châu
Âu. Tới 2004 thì hội ĐTĐ Mỹ cũng khuyến cáo có thể dùng tiêu chuẩn này.
22
1.9. ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐTĐTK
1.9.1. Mục tiêu đường máu:
Bảng 1.4: Mục tiêu ĐM cần đạt cho thai phụ ĐTĐTK theo hội ĐTĐ Hoa
Kỳ 2004[18]
Thời gian làm xét nghiệm ĐM(mmol/l)
ĐM lỳc đúi
≤ 5,8
ĐM sau ăn 2 giờ
≤ 7,2
dụng để điều trị để ĐTĐTK[20], [21] .
1.9.5. Điều trị bằng insulin:
Khi chế độ ăn và luyện tập không đảm bảo kiểm soát được glucose
mỏu thỡ thai phụ ĐTĐTK cần được điều trị phối hợp với insulin. Điều trị
insulin làm giảm tỷ lệ các biến chứng ở thai nhi. Có nhiều loại insulin như chỉ
có insulin người sinh tổng hợp là loại dược khuyến cáo dùng trong điều trị
ĐTĐ trong thời kỳ mang thai. Insulin người sinh tổng hợp hầu như không gây
dị ứng. Insulin không qua đi qua hàng rào rau thai vì vậy khụng gõy hạ
glucose máu trực tiếp của thai nhi.
Chương 2
24
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng được chọn vào nghiên cứu là các thai phụ đến khám thai tại
bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong thời gian 01/01/2010-30/-6/2010 được
tìm hiểu các yếu tố nguy cơ theo phân loại của hội nghị quốc tế lần thứ 4 về
ĐTĐTK tại Mỹ.
Bảng 2.1 : Phõn loại nhúm nguy cơ và khuyến cáo sàng lọc ĐTĐTK
của HNQT lần thứ tư về ĐTĐTK[47]
Nguy cơ Đặc điểm Khuyến cáo sàng lọc
Nhóm
nguy cơ
cao
Có một hoặc nhiều hơn các yếu tố sau:
- Thừa cân, béo phì trước khi mang thai
- Trong gia đình có người bị ĐTĐ
- Tiền sử ĐTĐTK
- Tiền sử đẻ con to ≥ 4000g
- Đường niệu dương tính
Sử dụng test sàng lọc từ