CHUYÊN ĐỀ : TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN CÁC MỐI QUAN HỆ GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ TẠI KHU VỰC CÔNG NGHIỆP HOÁ, ĐÔ THỊ HOÁ - Pdf 24


1
Chuyên đề:

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG
ĐẤT ĐẾN CÁC MỐI QUAN HỆ GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ
TẠI KHU VỰC CÔNG NGHIỆP HOÁ, ĐÔ THỊ HOÁ
Ths. Lê Xuân Kiêu
Viện Văn hóa và phát triển
Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Đặt vấn đề
Những năm gần đây, nông thôn Việt Nam đang có nhiều biến đổi mạnh
mẽ do trong quá trình th
ực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn đã chuyển một phần không nhỏ đất nông nghiệp sang xây dựng các
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch và khu đô thị mới Quá trình đó
đã mang lại cho khu vực công nghiệp hóa, đô thị hóa những tác động và thay
đổi không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn cả trên lĩnh vực văn hoá – xã hội.
Gia đình – đơn vị cấu thành cơ bản của xã hội, tất y
ếu sẽ có những biến động,
những thay đổi trên nhiều khía cạnh. Trong bài viết này, bước đầu chúng tôi
tìm hiểu tác động của chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến các
mối quan hệ gia đình, dòng họ tại khu vực công nghiệp hoá, đô thị hoá.


3
thị hoá và công nghiệp hoá năm sau luôn tăng hơn năm trước. Chỉ tính riêng
năm 2007, diện tích trồng lúa của cả nước đã giảm 125.000 hecta. Theo ước
tính, trung bình mỗi hecta đất nông nghiệp bị thu hồi ảnh hưởng đến việc làm
của hơn 10 lao động nông nghiệp. Trong giai đoạn 2000-2006, việc thu hồi đất
đã có khoảng 2,5 triệu nông dân trên cả nước bị ảnh hưởng đến đời
sống.(Hoàng Bá Thịnh,2008)
Thực tế cho thấy, phần lớn diện tích đất nông nghiệp thuộc diện “bờ
xôi, ruộng mật”, có cơ sở hạ tầng thuận lợi cho việc canh tác, thuộc các vùng
đồng bằng có mật độ dân số cao, trong đó có xã bị thu hồi đến 70-80% tổng
diện tích đất canh tác. Theo số liệu tổng hợp từ các địa phương, có 10-20% số
hộ bị thu hồi 100% dất; 20% số hộ bị thu hồ
i 60-70% đất vầ số hộ bị thu hồi
một nửa diện tích đất là 50%(Bộ NN và PTNT,2007). Hiện tượng chuyển mục
đích sử dụng đất nông nghiệp đang kéo theo sự thay đổi nhiều mặt trong đời
sống nông thôn Việt Nam. Về phương diện chung nhất, những thay đổi này
thể hiện ở hai phương diện.
Thứ nhất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghi
ệp đã góp phần
chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Cùng với sự phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng nông thôn(giao thông, hệ
thống điện, thông tin ) được đầu tưu ngày càng hiện đại, đáp ứng nhu cầu
sống, sinh hoạt, đi lại của người dân. Mạng lưới điện, thông tin liên lạc,
trường học, nhà ở của ng
ười dân đều được sửa chữa, xây mới khang trang
hơn. Việc làm cho người lao động ngày càng đa dạng: sản xuât nông nghiệp,
các làng nghề truyền thống được khôi phục, công nghiệp, xây dựng, dịch
vụ Nhờ vậy, nguồn thu của người dân cũng đa dạng và tăng cao, tính khép
kín, cục bộ, địa phương ở nông thôn dần bị phá vỡ, giao lưu kinh tế, văn hoá ở


đình.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, văn hoá gia đình thể hiện thành
gia phong(nếp nhà), thành truyền thống gia đình, dòng họ. Đó là lòng thương
yêu của cha mẹ đối với con cái, đạo hiếu của con cái với cha mẹ, lòng biết ơn
ông bà, tổ tiên, sự đùm bọc, giúp đỡ, che chở lẫn nhau giữa các thành viên gia
đình và dòng h
ọ. Đó là lòng chung thuỷ giữa vợ và chồng, sự nhường nhịn lẫn
nhau giữa anh chị em một nhà. Gia đình sống với nhau có nghĩa, có tình, êm
ấm, thuận hòa.
Trên thực tế, mặc dù có những tác động mạnh mẽ của sự phát triển kinh
tế - xã hội, về cơ bản, những giá trị trong quan hệ gia đình, dòng họ vẫn được
duy trì và bảo lưu. Ý thức gắn bó huyết thống do nhu cầu tình cả
m, quyền lợi
vẫn còn được nuôi dưỡng khá mạnh mẽ.(Ngô Văn Giá, 2007).
Tuy nhiên, những quan hệ đó cũng mang những sắc thái mới cho phù
hợp với những thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội, trong đó có sự chuyển
đổi mục đích sử dụng đất tại những khu vực công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự
tồn tại đan xen nhau giữa giá trị cũ đang bi
ến đổi và giá trị mới đang hình
thành trong quan hệ gia đình, dòng họ tại các khu vực này là đặc điểm nổi bật
trong giai đoạn hiện nay.
Sự biến đổi trong quan hệ gia đình, dòng họ
Tự do cá nhân, dân chủ trong quan hệ gia đình, dòng họ
Trong gia đình truyền thống, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia
đình được củng cố bằng chế độ tông pháp và chế độ gia trưởng. Theo đó, cả
ba mố
i quan hệ cơ bản của gia đình(vợ-chồng; cha-con; anh-em) tuân theo

6
một tôn ty, trật tự chặt chẽ, chúng được bảo lưu trong thời gian dài ở khu vực

gia đình được tăng cường.
Gia đình hạt nhân có sự độc lập về quan hệ kinh tế và tạo cho mỗi thành
viên khoảng không gian tự do tương đối để phát triển tự do cá nhân.
Quan hệ gia trưởng được thay thế bởi quan hệ bình đẳng hơn giữa
người chồng và người vợ trong gia đ
ình. Trong gia đình trước kia, nam giới
luôn giữ vị trí chủ gia đình do họ đảm nhiệm những công việc chính, nặng
nhọc. Người phụ nữ luôn ở trong tình thế là người phụ thuộc vào nam giới,
đảm nhiệm các công việc ở trong nhà(nội trợ, chăm sóc con cái ) Khi diện
tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, người đàn ông không còn giữ được thế độc
quyền trong việc nuôi dưỡng gia đình.
Trong khi đó, người phụ
nữ có cơ hội tăng thu nhập từ việc đi làm cho
khu công nghiệp, tham gia các hoạt động dịch vụ Việc kiếm tiền được
chuyển một phần hoặc sang cả người vợ. Người chủ gia đình trở nên đa dạng
hơn, có thể là người đàn ông/người chồng; người phụ nữ/người vợ; hay cả hai
vợ chồng. Quan hệ giữa vợ chồng v
ề quyền sở hữu các tài sản lớn trong gia
đình cũng thay đổi theo hướng người phụ nữ ngày càng có nhiều quyền sở hữu
các tài sản của hộ gia đình hơn.
Có thể nói, ở các khu vực công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay, quyền
tự do dân chủ của mỗi thành viên trong gia đình được tôn trọng hơn, không có
sự áp đặt một chiều của chồng đối với vợ, của cha mẹ
đối với con cái cũng
như sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái. Uy quyền độc đoán cuả
người chủ gia đình, của người đàn ông dần mất đi. Gia đình quan tâm đến lợi
ích cá nhân, không lấy quyền của cha mẹ, của người trên để áp đặt nguyện
vọng cuả con cái. Một nguyên tắc ứng xử mới của các gia đình này hiện nay

8

9
“Mỗi người một phòng, trước khi thu hồi đất thì chúng tôi
làm nhà bốn gian. Nhưng giờ chúng tôi làm nhà cao cấp hơn thì
mỗi người một phòng.”
Trong những không gian riêng như vậy, các thành viên trong gia đình ít
có điều kiện gặp nhau hơn, chỉ trong bữa ăn, mọi người có mặt đông đủ nhất.
Tuy nhiên, nếu như trước kia chỉ duy nhất có sản xuất nông nghiệp, cả ba bữa
họ ăn cùng nhau. Bây giờ, công vi
ệc khác nhau, người làm trong khu công
nghiệp, người đi bán hàng, người làm ruộng, giờ giấc khác nhau. Bữa trưa của
các gia đình khu vực đô thị hóa cũng đang có xu hướng diễn ra như trong nội
thành, tức là thường xuyên không có đủ các thành viên, chỉ có bữa tối, các
thành viên trong gia đình mới có điều kiện quây quần với nhau.
“Trước các hộ thuần nông, làm ruộng, một ngày quần tụ đủ
ba bữa. Sau khi khu công nghiệp phát triển, con em là công nhân,
ít đ
ông đủ bữa sáng, chỉ bữa tối.”.
Theo kết quả điều tra của nhóm thực hiện đề tài ở một số khu vực đang
diễn ra công nghiệp hóa, đô thị hóa, chỉ có 4,1% số người được hỏi ăn bữa
sáng cùng gia đình, với bữa trưa, còn thấp hơn nhiều: 2,3%. Đông đảo nhất
vẫn là bữa tối, 93,6% số người tham gia.
Bên cạnh đó, việc b
ố mẹ đi làm suốt ngày, phần lớn xa nhà, quỹ thời
gian dành cho việc chăm sóc con cái và người già suy giảm (do sự tham gia
của người phụ nữ vào các công việc tạo thu nhập cho gia đình) ít có thời gian
gần con, chăm sóc và theo dõi việc học tập, vui chơi của con cái, phó mặc con
cái cho nhà trường, các đoàn thể trong việc giáo dục văn hóa và nhân cách.
Phỏng vấn sâu người dân cho thấy rõ tình trạng đang trở nên phổ biến này:

10


11
chia tách đất đai theo các hộ gia đình. Các gia đình sau khi được chia đất, do
nhiều lý do, chia nhỏ miếng đất tổ tiên để bán, xuất hiện sự đan xen của nhiều
thành phần dân cư mới , từ nơi khác đến. Đối với sinh hoạt họ mạc, sự thiết
thực thể hiện trong việc lựa chọn những công việc của họ để tham gia. Theo
đó, các công việc được người dân tham gia nhiề
u nhất là: hiếu hỷ, họp họ và
giỗ tổ.
Như vậy, phương diện liên kết về quy mô vật chất có thể không chặt
chẽ như trước nhưng về phương diện tinh thần có gắn bó hơn. Nhưng ngay ở
phương diện này, những hoạt động nào dễ mang lại lợi ích thì thu hút người
tham gia nhiều hơn. Trường hợp thay đổi vị trí ưu tiên giữa giỗ tổ
và việc hiếu
hỷ là một ví dụ. Nếu trước kia giỗ tổ luôn là sinh hoạt thu hút được nhiều
người trong họ tham gia nhất thì bây giờ, vị trí đó nhường chỗ cho việc hiếu
hỷ. Mật độ tham gia thường xuyên khá cao của các hoạt động hiếu hỷ cho thấy
ý thức về quyền lợi ở đây đã rõ ràng hơn. Việc tham gia này không phải là để
cho quan hệ họ hàng được củng cố
vững chắc hơn mà là liên quan đến quyền
lợi của họ nhận được khi gia đình nhỏ của họ tổ chức hiếu hỷ. Tính thiết thực
thể hiện rất rõ. Chẳng hạn, người trong họ đến giúp đỡ tang lễ đã có ý thức
giảm thiểu tối đa những phiền nhiều cho tang chủ, hướng tới ý thức giúp đỡ
người khác một cách thiết thực và c
ụ thể nhất.
Trường hợp họp họ cũng tương tự, vị thế dòng họ vừa tác động đến
quyền lợi vật chất cũng như tinh thần của các thành viên. Họp bàn về việc
phát triển dòng họ sẽ củng cố thêm quyền lợi đó, vì thế mới có hiện tượng gia
tăng. Theo số liệu điều tra của đề tài, trước khi có chuyển đổ
i mục đích sử

nhân, thực dụng bắt đầu tác động lên những vùng đất đô thị hóa thì tình cảm
gia đình, dòng họ cũng thay đổi ít nhiều, mâu thuẫn, va chạm xuất hiện nhiều
hơn. Phỏng vấn sâu người dân về vấn đề này, câu trả lời của họ là:

13
“Trước mỗi một hộ ở đất thổ cư hẹp nhất cũng phải có
200m2, thế nhưng như nhà tôi bây giờ là 3 thế hệ rồi vẫn ở có cả lối
ra lối vào là 240m2, mỗi cặp vợ chồng chỉ được có 40-50m2 thôi,
người ra người vào chật chội bức xúc lắm. Giờ thì cái quỹ đất nó
hết rồi, nếu các cháu nó có công ăn việc làm thì ban ngày các cháu
nó đi làm thì chúng tôi ở nhà nó
đỡ người nó đỡ đông chúng tôi ở
nhà nó va chạm, nó phức tạp, tóm lại từ cái chỗ khó khăn thế nó
đâm ra va chạm. Giờ nói thực tế thôi không phải gì xa lạ cả trâu bò
gần nhau thì nó mến nhau thế nhưng người gần nhau là va chạm,
thế rồi con anh con em, bố mẹ, con cháu…Đấy là nó đông chật hẹp
ở cả một chỗ, nếu nó rộng rãi thì mỗi đứa riêng một chỗ thì không
có vấn đề gì va chạ
m đến quyền lợi kinh tế chính trị cả.” “Cái đó
xuất hiện, trước cái đấy nó ít hơn, nhưng từ ngày đất chật người
đông thì nó có xảy ra những cái va chạm. Nhiều lúc thì bố con va
chạm, anh em, các cháu…”
Từ chỗ đất đai không có giá trị, mỗi mét đất trở nên có giá khi có việc
chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Trước kia, anh em có thể cho nhau hàng
trăm mét vuông đất mà không phải tính toán nhiều. Bây giờ
, người ta có thể
chém giết nhau, anh em, họ hàng dễ dàng từ bỏ nhau chỉ vì vài centimet đất.
Những bức tường bê tông thay thế hàng rào dâm bụt hay dậu mồng tơi để định
vị lãnh thổ của mỗi gia đình đã ngăn cách cả tình người ở những khu vực này.
”Nhưng thực ra tình cảm nhà với nhà có khác. Giờ nhà cửa

cán bộ tư pháp trong thảo luận nhóm:
“Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm cho người dân
mất đất - tư liệu sản xuất - nên nhu cầu sử dụng đất cao hơn. Quan hệ
gia đình truyền thống anh em không còn như xưa, quan hệ bố, mẹ và
con cũng khác biệt. Anh - em, bố, mẹ- con tranh giành quyền lợi

15
nhiều hơn. Số vụ kiện giữa cha, mẹ-con, những người thân trong gia
đình cao hơn. Qua các hoạt động phân chia di sản chúng tôi thấy như
vậy.Mấy năm nay chủ yếu tranh chấp bố mẹ-con, anh em về đất đai.
Thậm chí con gái đi lấy chồng rồi cũng về đòi hỏi đất đai. Hiện nay,
đang giải quyết mấy vụ chưa xong. Lấn chiếm, xung đột v
ề đất đai là
chủ yếu.”
Những hiện tượng trên đây chưa phải là phổ biến trong các khu vực
đô thị hóa sau khi có chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Các hiện
tượng đó luôn bị cộng đồng làng xóm, xã hội tẩy chay, lên án nghiêm khắc
như khẳng định sức sống của các giá trị văn hóa gia đình. Nó vẫn là những
chuẩn mực xã hội để đi
ều chỉnh hành vi của con người ở thời điểm, ở những
khu vực tương đối nhạy cảm, khi mà những giá trị cũ và mới còn đan xen
nhau, đấu tranh với nhau để khẳng định vị trí của mình. Nhưng rõ ràng, sự
gia tăng những vụ việc liên quan đến đất đai thời gian gần đây cho thấy, chủ
nghĩa thực dụng, lối sống ích kỷ đã bắ
t đầu thâm nhập vào những khu vực
này.
3. Một số kết luận và kiến nghị
Chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
đã được thực tiễn kiểm nghiệm là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn trong
bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qúa

giới góp phần thiết thực tạo lập sự bình đẳng giới trong gia đình ở những khu
v
ực đang đô thị hóa; phất huy những giá trị tích cực của dòng họ nhằm xây
dựng cộng đồng dân cư văn minh, đoàn kết, phát triển./. 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Duy Bắc(chủ biên), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh
xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển bách khoa
và Viện Văn hóa, H.2008
2. Ngô Văn Giá (chủ biên), Những biến đổi về giá trị văn hóa truền thống ở
các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, Nxb CTQG, H.2007
3.
Ngô Thị Phượng, Những biến đổi xã hội ở nông thôn Việt Nam do quá trình
chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần
3, H.2008
4. Hoàng Bá Thịnh, Công nghiệp hóa và những biến đổi đời sống gia đình
nông thôn Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần 3, H.2008./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status