Mục lục
1
LỜI NÓI ĐẦU
Bất kì quốc gia nào trên Thế Giới nếu muốn phát triển kinh tế thì điều
quan trọng nhất mà đất nước đó phải có là vốn. Vốn càng nhiều thì càng tiết
kiệm được thời gian và rút ngắn được khoảng cách phát triển so với nước
khác.
Vốn là chìa khóa, là nhân tố quan trọng mà bất cứ nước nào đều hướng
tới. Với một nước đang phát triển, điều kiện kinh tế còn đang khó khăn như
nước ta thì không chỉ chú trọng đến thu hút vốn trong nước mà còn cần phải
huy động vốn và các nguồn viện trợ khác từ nước ngoài. Nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức ( viết tắt là ODA) là một trong những nguồn vốn quan
trọng được huy động từ nước ngoài. Đây là nguồn vốn cần thiết cho nhiều dự
án đầu tư của chính phủ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm
nghèo ở các nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Chính
vì thế mà tùy điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các nước khác nhau mà nhà
nước của nước đó đưa ra các biện pháp thu hút vốn ODA khác nhau.
Dựa vào sự quan trọng của ODA với nền kinh tế các nước mà nhóm
chúng em lựa chọn đề tài nghiên cứu: Vai trò của ODA với nền kinh tế. Thực
trạng thu hút vốn ODA ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013.
Do nhận thức còn hạn chế nên bài viết sẽ có nhiều sai sót, chúng em
mong nhận được sự đóng góp từ phía thầy cô và các bạn để bài làm của chúng
em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
2
I, VAI TRÒ CỦA ODA ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
1. Khái niệm và đặc điểm ODA
• Khái niệm:
ODA là tên viết tắt của Official Development Assitance -Hỗ trợ phát triển
chính thức hay Viện trợ phát triển chính thức. (Hỗ trợ phát triển chính thức là một
hình thức đầu tư nước ngoài. Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là
Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm
theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Những điều kiện ràng buộc này có thể là
ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm
chí cả ràng buộc về chính trị. Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường là các
điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với
nước nhận tài trợ. Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải
mua hàng hóa và dịch vụ của nước mình… Canada yêu cầu cao nhất, tới 65%. Thụy
Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỷ lệ
ODA yêu cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của Nhà tài trợ thấp. Nhìn chung, 22%
viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia
viện trợ. Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi
ích của nước viện trợ. Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi
ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ.
- Có khả năng gây nợ (Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có
thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ
nần do không có khả năng trả nợ.
Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là
cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong
khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng
cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
2. Phân loại ODA
Theo hình thức cung cấp (tính chất)
• Không hoàn lại (nghĩa là nhận viện trợ không, và kèm theo một số điều kiện
thỏa thuận)
• Vay ưu đãi (lãi suất thấp hoặc không lãi suất))
• Vay hỗn hợp
Theo phương thức cung cấp (cách thức)
4
• Hỗ trợ dự án
5
-Thông tư số 181/2013/TT-BTC, ngày 03/12/2013 về việc hướng dẫn thực hiện
chính sách thuế và ưu đãi thuế đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ
trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ.
4. So sánh ODA với một số nguồn vốn khác
Dòng vốn đầu tư nước ngoài diễn ra với nhiều hình thức. Mỗi hình thức có
đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau. Theo
tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoài chính như sau:
• Tài trợ phát triển vốn chính thức (ODF – official development finance).
Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (ODA -offical
development assistance) và các hình thức viện trợ khác. Trong đó, ODA
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF.
• Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại.
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
• Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế.
• Nguồn vốn ODA.
So sánh nguồn viện trợ nước ngoài (ODA) và nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI)
ODA FDI
Giống nhau +, Là nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài có tác động tích cực tới nền
kinh tế của các nước nhận, đồng thời thỏa mãn một số mục tiêu kinh
tế- xã hội của nước đầu tư.
+, Gắn liền với rủi ro, thường là rủi ro hối đoái.
Đối tượng Các nước chậm và đang phát
triển
Các nước có tiềm năng về phát
triển kinh tế, thị trường
Mục đích Hỗ trợ KT các nước đang và
kém phát triển
Thu lợi nhuận từ việc đầu tư.
xá, thủy lợi và hạ tầng xã hội như văn hóa, giáo dục, y tế. Những cơ sở hạ tầng kinh
tế xã hội được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện qua
trọng thúc đấy tăng trưởng kinh tế của các nước nghèo.
ODA dưới dạng viên trợ không hoàn lại giúp các nước viện trợ tiếp
thu thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân
lực.
Dù cho các nước tài trợ không muốn chuyển giao những công nghệ cao nhưng
trên thực tế vẫn có những công nghệ cao đã được chuyển giao làm tăng thêm tiềm
7
lực khoa học công nghệ cho các nước tiếp nhận. Khả năng này thường được chuyển
giao qua các dự án hỗ trợ kĩ thuật với nhiều loại hình khác nhau và gắn với các dự
án khác nhau, như các dự án về huấn luyện đào tạo chuyên môn, các dự án về cung
cấp thiết bị vật liệu độc lập,…
Bên cạnh đó ODA giúp các nước đang phát triển, phát triển nguồn nhận lực, bảo
vệ môi trường. Một lượng ODA lớn được các nước tài trợ và các nước tiếp nhận ưu
tiên dành cho đầu tư phát triển ngành giáo dục đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả của lĩnh vực này. Bên cạnh đó một lượng ODA quá lớn đã dùng để đầu
tư vào các lĩnh vực y tế ,đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Nhờ có sự tài trợ của cộng
đồng quốc tế mà các nước đang phát triển cải thiện chỉ số phát triển con người của
quốc gia mình.
Giúp các nước nhận hoàn thiện cơ cấu kinh tế
Đối với các nước đang phát triển, khó khăn kinh tế là điều không tránh khỏi,
trong đó nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày một gia tăng là
tình trạng phổ biến. Vì vậy ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán
cân thanh toán quốc tế của các nước phát triển.
Đặc biệt là các khoản trợ cấp của IMF có chức năng lành mạnh hóa cán cân
vãng laic ho các nước tiếp nhận từ đó ổn định đồng bản tệ.
Bên cạnh đó việc chuyển các chính sách kinh tế đóng vai trò trung tâm sang
chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển kinh
tế tư nhân cần phải có một lượng vốn, do đó cần có hỗ trợ ODA từ các nước
những hàng hóa mới từ nước tài trợ, yêu cầu có những ưu đãi đối với nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế và có khả
năng sinh lời cao.
+, Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng gắn với
việc mua sản phẩm từ các nước này mà không hợp lý , thậm chí là không cần thiết
đối với những nước nhận viện trợ.
+, Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt
nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA bắt buộc nước nhận
ODA phải chấp nhận một khoản ODA dịch vụ hàng hóa do họ sản xuất.
+, Tác động của yếu tố tỉ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn
lại tăng lên.
9
Ngoài ra Nước giàu cấp tiền lãi xuất thấp cho nước nghèo để mua sự ủng hộ về
chính trị, mua quyền khai thác tài nguyên, mua thị trường.
Đôi bên cùng có lợi, nhưng hại thì nước nghèo gánh, hại về môi trường, hại về
chính trị (tham nhũng, hối lộ, quan chức băng hoại đạo đức, nhắm mắt trc những
việc gây hại cho dân ). Đồng thời, lượng tiền vao nhiều sẽ làm tăng quy mô lạm
phát là đương nhiên. Do ODA là ngoại tệ nên khi có một luồng ngoại tệ lớn đổ vào
nền kinh tế,mà thường là ngoại tệ mạnh, thì đồng nội tệ dễ bị ngoại tệ lấn át, điển
hình là hiện tượng đô la hóa tại Việt Nam vài năm trở lại đây.
5.2, ODA với nước tài trợ
Chấp nhận tài trợ ODA, những nước phát triển cũng đồng thời chấp nhận bớt đi
một phần ngân quỹ, chấp nhận rủi ro trả nợ chậm của các nước được nhận đầu tư.
Nhưng đổi lại, các nước đầu tư ODA cũng nhận được các lợi ích không hề nhỏ cho
đất nước mình. Bản thân các nước phát triển nhận thấy lợi ích của mình trong việc
viện trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
và thị trường đầu tư. Xét về lâu dài, các nhà tài trợ sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế,
chính trị khi kinh tế các nước nghèo tăng trưởng, cụ thể như:
• Về kinh tế, nước tài trợ ODA được hưởng những ưu đãi về thuế quan, dễ
dàng xâm nhập thị trường và đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả
2, Tình hình thu hút ODA ở Việt Nam
Tiếp nối những thành tựu đạt được trong thu hút vốn ODA giai đoạn 1993-
2006, hội nghị CG 12/2006 đã đề ra kế hoạch phát tiển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-
11
Cam kết vốn ODA của các nhà tài trợ thời kì 2006 – 2013
(Đơn vị: Tỷ USD)
2010 phát triển xã hội và môi trường bền vững, hội nhập quốc tế và khu vực, hài
hòa thủ tục và nâng cao hiệu quả viện trợ…Từ đó đến nay, nước ta vẫn đạt được
nhiều thành tựu trong thu hút nguồn vốn ODA trong bối cảnh toàn cầu có nhiều
biến động. Thể hiện qua bảng số liệu sau:
Năm Cam kết Ký kết Giải ngân Tỷ lệ ký
kết/cam kết
2006 4.450 2824.58 1785 63.47%
2007 5.430 3795.9 2176 69.91%
2008 5.014,6 4348.5 2253 86.72%
2009 8.063,78 6131.38 4105 76.04%
2010 7.900 4.093 3.500 40,15%
2011 7.300 6.900 3.500 94,5%
2012 6.400 5.900 4.015 92,12%
2013 6.500 7000 4000 107,69%
Biểu đồ 1: Cam kết, ký kết, giải ngân vốn ODA của VN giai đoạn 2006-2013
Biểu đồ 2: Sự phát triển của nguồn vốn ODA từ 2006- 2013
Cam kết Ký kết Giải ngân
Biểu đồ
1:
-, Tăng gấp 1,57 lần so
với năm 1993 – 2005.
-, Tăng 1,6 lần so
với giai đoạn 1993 -
2005
thuận tiện cho việc di chuyển các nguồn nguyên vật liệu, giảm tắc đường,
giảm tối thiểu thời gian không cần thiết để tập trung phát triển, đặc biệt
ngành công nghiệp nặng. Đặc biệt năm 2014, theo ông Nguyễn Văn Ích - vụ
trưởng vụ Khoa học công nghệ - Bộ Giao thông vận tải: Bộ chuẩn bị đầu tư
các dự án tích hợp ITS trên quốc lộ 3 mới và khu vực miền Bắc, dự kiến đầu
tư 2.045 tỷ đồng vốn vay ODA Nhật.
• Năng lượng và công nghiệp đứng thứ 2: Vì CN năng lượng vẫn là
ngành có thế mạnh lâu dài, đem lại hiệu quả KT cao, thúc đẩy các ngành KT
khác, thị trường tiêu thụ rộng lớn. Điển hình, Nhật cũng là quốc gia đầu tiên
đang giúp Việt Nam xây dựng chiến lược công nghiệp hóa đến năm 2020 với
6 ngành mũi nhọn gồm điện tử, máy nông nghiệp, chế biến nông sản, thủy
sản, đóng tàu, môi trường và tiết kiệm năng lượng.
• Nông nghiệp vẫn cần được chú trọng phát triển vì nước ta vẫn còn là 1
nước nông nghiệp, thu nhập thấp, dân còn nghèo nên cần đầu tư vốn ODA để
xóa đói giảm nghèo. Cụ thể, nguồn vốn ODA góp phần xóa đói giảm nghèo
cho người dân nông thôn, giảm tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam từ 60% vào
năm 1993 xuống còn 10% vào năm 2012; với nguồn vốn ODA vay ưu đãi,
hệ thống hạ tầng nông nghiệp nông thôn, hệ thống điện, trường học, trạm y
tế xã đã được cải thiện; ODA cũng góp phần trợ giúp tăng cường nghiên cứu
khoa học và chuyển giao công nghệ mới trong nông nghiệp.
4, Những biện pháp thu hút vốn ODA ở Việt Nam
Theo Thứ trưởng Nguyễn Thế Phương, Việt Nam đã bước vào hàng ngũ các
nước có thu nhập trung bình. Nguồn viện trợ sẽ giảm dần về số lượng và mức độ ưu
đãi trong thời gian tới. Các khoản vốn vay ưu đãi (IDA) có lãi suất thấp nhất sẽ ít đi
và tỷ trọng nguồn vốn tín dụng có lãi suất thấp cho các nước đang phát triển (IBRD)
sẽ tăng lên (lãi suất IBRD cao hơn IDA). Vì thế để thu hút được nguồn vốn ODA,
nhất là ODA có tính ưu đãi cao thì phải đưa những biện pháp thiết thực, hiệu quả.
Cụ thể như:
1. Đổi mới và đẩy mạnh công tác quy hoạch.
14
- Thực hiện chính sách thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn, có kỹ năng làm
công tác kinh tế đối ngoại, cần có kế hoạch tuyển chọn, đào tạo nguồn cán bộ có
15
nghiệp vụ kinh tế đối ngoại, có năng lực, đáp ứng các yêu cầu chuyên môn về quản
lý, điều hành và bố trí phù hợp để thực hiện tốt các chương trình, dự án ODA.
- Kết hợp đào tạo mới, đào tạo lại, tranh thủ các nguồn tài trợ, học bổng,
khuyến khích du học tự túc để tăng nhanh lực lượng chuyên gia khoa học công
nghệ, nhà kinh doanh, quản lý giỏi, đội ngũ công chức có năng lực.
- Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và bố trí sử dụng cán bộ
nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý. Khuyến khích phát hiện, bồi dưỡng tài
năng trẻ trong hàng ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước và quản lý kỹ thuật.
5. Kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp, các ngành, đẩy mạnh tiến trình
cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư.
- Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ
giữa các ngành, đơn vị, các cấp; giữa tỉnh và các huyện, thành phố; giữa huyện và
xã để từ đó nâng cao trách nhiệm của các ngành các cấp trong xử lý công việc, để
công việc được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện.
- Kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy ở mỗi ngành, mỗi cấp, từng cơ quan trong
bộ máy hành chính sao cho hợp lý; sáp nhập, lồng ghép các tổ chức cơ quan tránh
các bộ phận trùng lắp chức năng, nhiệm vụ, bỏ những khâu trung gian gây phiền hà,
làm chậm công việc.
- Các ngành các cấp cần tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định không
phù hợp làm phiền hà đến người dân và doanh nghiệp theo hướng đảm bảo thủ tục
đầy đủ, đơn giản, giải quyết công việc nhanh chóng.
6. Nâng cao năng lực quản lý điều hành của bộ máy quản lý nhà nước và
thực hiện đề án
Việc nâng cao năng lực quản lý điều hành và tổ chức thực hiện của các
ngành, các cấp, các đơn vị là khâu có tính chất quyết định đến việc thực hiện tốt
việc thu hút và sử dụng vốn ODA. Đề cao chế độ trách nhiệm của các cấp, các
ngành, của đội ngũ cán bộ trong chỉ đạo điều hành và thực hiện theo chức năng
cao. ODA sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa đến những nguồn vốn khác( chẳng hạn như FDI)
tạo sự phát triển cho nền kinh tế. Tuy nhiên không nên đề cao quá vai trò của nguồn
vốn ODA mà chỉ nên xem ODA là nguồn vốn phụ trợ cho phát triển kinh tế trên cơ
sở huy động nội lực và kết hợp hài hòa với FDI.
17
KẾT LUẬN
Việt Nam đang bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình
ấy việc tiếp nhận nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng . Một
mặt nó giúp chúng ta tích lũy vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế, mặt khác, tạo
điều kiện giúp nước ta rút ngắn khoảng cách về kinh tế với các nước khác trên Thế
giới. Trong cơ cấu đầu tư, thu hút quốc tế, ODA là nguồn vốn quan trọng vì những
ưu thế không thể phủ nhận của nó. Nhưng đi kèm với những điều kiện có lợi, ODA
cũng là nguồn vốn mang nhiều rủi ro, thậm chí tổn thất nếu nước nhận không biết
sử dụng hiệu quả. Vì vậy, thu hút vốn ODA luôn phải gắn liền với việc sử dụng hiệu
quả nhất nguồn vốn này.
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình đầu tư quốc tế. – NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Nguồn tài liệu: />language=vi&option=newsdetails&page=1&cid=19&sid=38&id=204/C%E1%BA
%A3i-thi%E1%BB%87n-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-
%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0,-thu-h%C3%BAt-c%C3%A1c-d%E1%BB
%B1-%C3%A1n-ODA,-NGO-v%C3%A0o-v%C3%B9ng-T%C3%A2y-B
%E1%BA%AFc.htm
/>%E1%BB%83n_ch%C3%ADnh_th%E1%BB%A9c
/>ODA/183067.vgp
/>DONH-HUONG-TRONG-THOI-GIAN-TOI/93/event.tctc
/>19