một số biện pháp giúp học sinh học tốt phần số học môn toán lớp 3 - Pdf 24

SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHẦN SỐ HỌC
MÔN TOÁN LỚP 3
PHẦN 1 – ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Qua nhiều năm dạy lớp tôi nhận thấy. Trong các môn học ở nhà trường
môn toán giữ một vai trò khá quan trọng trong nhà trường.
Môn toán bao gồm những kiến thức về số học, đo lường, hình học và đại số.
Đây là những kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm vững để tạo tiền đề cho các
em học tốt hơn môn toán ở những lớp trên, học tốt môn toán còn làm cơ sở cho
việc tính toán đúng, chính xác trong cuộc sống của các em sau này.
Việc học về cấu tạo số, ôn tập phép cộng, phép trừ trong phạm vi 1000, phép
nhân, phép chia, cách tìm x, tìm y ; sẽ tạo cho các em biết so sánh, tổng hợp,
biết những thao tác tư duy cơ bản để hình thành trí tuệ và năng lực sáng tạo cho
học sinh.
Trong môn toán nắm vững những kiến thức các em nắm chưa vững sẽ dẫn đến
các em không học tốt được môn toán.
Qua nhiều năm dạy lớp 3, tôi nhận thấy một số học sinh còn nhiều hạn chế về
việc học phần số học và đại số trong môn toán từ đó dẫn đến các em học chưa
tốt môn Toán.
Làm thế nào để giúp học sinh học tốt phần số học và đại số ở môn toán đối với
tôi là rất cần thiết, rất được quan tâm. Tôi đã cố gắng suy nghĩ tìm cách giải
quyết vấn đề trên. Nếu giải quyết được vấn đề trên sẽ giúp các em học tốt hơn
môn toán ở những lớp trên nhất là cho các em vận dụng thực tế vào cuộc sống.
Đề tài tôi viết đã được nói nhiều trong sách giáo khoa chỉnh lí môn toán ở
trường tiểu học và sách một số vấn đề về môn toán ở bậc Tiểu học đồng thời
cũng được nhiều giáo viên nghiên cứu viết. Tuy nhiên với thời gian dạy lớp 3,
tôi đã tùy theo đặc điểm tình hình cụ thể của lớp, của từng năm học mà có
những giải pháp chung nhằm giúp cho các em học tốt hơn môn Toán lớp 3. Đó
cũng chính là vấn đề tôi chọn đề tài “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
1
HỌC TỐT PHẦN SỐ HỌC MÔN TOÁN LỚP 3” Đề tài có thể áp dụng cho học

19, 4 %
14 em
38, 9%
5 em
13, 9%
Từ những năm số liệu ở bảng trên cho ta thấy.
Năm học 20 20 có 50 % đạt giỏi và khá, 50 % đạt trung bình và yếu.
Năm học 20 – 20 có 47, 2 % đạt giỏi và khá, 52, 8 % đạt trung bình và yếu.
Qua bảng thống kê trên, tôi nhận thấy kết quả học Toán chỉ đạt giỏi khá từ
50 % trở xuống phần còn lại đạt trung bình và yếu. Qua theo dõi và tìm hiểu
thực tế của từng lớp tôi nhận thấy số học sinh đạt giỏi và khá không cao là do
những nguyên nhân sau :
Các em nắm bắt chưa kĩ hay quên những kiến thức đã học ở những bài trước
hay những lớp học trước.
Do phát triển tư duy của mỗi học sinh không hoàn toàn giống nhau đặc biệt là
những học sinh tư duy phát triển chậm.
Một số phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của các em
mình.
Một số học sinh còn lơ là không chú ý nghe giảng nên không nắm bắt được bài.
Các em về không học bài, không xem lại bài, không tập làm lại các bài tập nên
không nắm và củng cố được bài học.
Học sinh còn xem nhẹ và chưa biết được tầm quan trọng của môn toán.
Từ những thực trạng trên, tôi đã cố gắng suy nghĩ tìm ra những nội dung cần
giải quyết :
3
- Tạo điều kiện cho học sinh nắm bắt lại những kiến thức cũ.
- Tư duy của các em phát triển không đồng đều, do đó tôi để đề ra kế hoạch
tổ chức cho những em tư duy phát triển chậm nắm bắt và theo kịp bài học.
- Việc liên hệ thường xuyên gia đình các em cũng không kém phần quan
trọng.

toán này các em dễ lẫn lộn, sắp nhầm cột, nếu các em không nắm hay quên cấu
tạo của các số. Khi tạo điều kiện nắm bắt lại cấu tạo số thì đặt tính sẽ chính xác
hơn ; Các số hạng cùng hàng phải thẳng cột với nhau.Ví dụ 2: Khi dạy bài
“Luyện tập” SGK lớp 3 trong trang 4) có bài: X – 125 = 344 và bài x + 125 =
266.
Tôi đã cho các em nhớ lại những kiến thức đã học ở lớp Hai bằng cách: yêu cầu
học sinh nêu lại tên gọi của x, 125, 344, 125, 266 để từ đó các em sẽ dễ dàng
tính được: lấy hiệu cộng với số trừ, sẽ được số bị trừ là lấy 344 + 125 = 469 và
tìm số hạng chưa biết lấy tổng trừ số hạng đã biết tức là lấy.
266 – 125 = 141
Ví dụ 3: Dạy bài “Luyện tập “ SGK lớp 3, trang 40 )
Có bài: X : 7 = 5 và bài 42: x = 7
Tôi yêu cầu học sinh chỉ ra đâu là số bị chia, đâu là số chia, đâu là thương, từ đó
các em dễ dàng tính được: 5 x 7 – 35 là tìm số bị chia, 42 : 7 – 35 là tìm số chia
(lấy thương nhân số chia sẽ được số bị chia, lấy số bị chia chia cho thương số
được số chia )
2/ TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
Học sinh Tiểu học tuổi còn nhỏ, các em dễ nhàm chán khi nghe giảng bằng
lời mà không có hình ảnh từ đó các em khhó hình dung và hiểu được bài và
ngược lại, khi các em gặp những hình ảnh có nhiều màu sắc, những hình ảnh
khác nhau các em cảm thấy thích thú, thích nhìn thích quan sát, thích khám phá.
Từ đặc điểm tâm lý trên khi dạy đến các bài toán có thể dùng đồng dùng dạy
học, dùng tranh ảnh tôi đã không quên dùng đồ dùng dạy học sẵn có hay tự tạo
do mình làm ra.
5
Sử dụng đồ dùng dạy học sẽ giúp cho các em thích thú học, tính nhanh và dễ
dàng tìm ra ngay được kết qảu hơn (Tính nhanh nhẩm hoặc tính viết) Trong một
tiết Toán các em dễ nhàm chán đối với những bài tính nhẩm hay tính viết nên tôi
đã không quên lồng những bài toán có sử dụng đồ dùng dạy học vào giữa tiết
học.

Học sinh lớp 3, tuổi còn nhỏ dễ phân tán sự chú ý nhất là những học sinh học
chậm toán các em ít phát biểu vì chưa hiểu kĩ bài hay ngại trả lời sai. Thông
thường chúng ta hay gọi những em giơ tay phát biểu nhưng đối với tôi sẽ theo
dõi chú ý thường xuyên gọi các em học chậm phát biểu hay lên bảng thực hành
bài tập nhiều hơn kèm lời động viên khen ngợi có làm như vậy sẽ giúp cho các
em có thói quen tập trung, chú ý hơn thích thú hơn khi nghe giảng bài.
Ngoài ra, một nguyên nhân nữa làm cho học sinh học chưa tốt môn toán là các
em cho rằng học khá giỏi các môn còn môn Toán học như thế nào cũng được.
Để khắc phục những ý tưởng trên, trong mỗi tiết sinh hoạt tôi không quên giải
thích cho các em hiểu rõ tầm quan trọng của môn toán.
Học sinh tiểu học rất thích được khen được tuyên dương. Do đó trong mỗi tiết
toán, tốt nhất là làm sao phải tổ chức cho học sinh thi đua, có tổ chức thi đua
mới tạo cho các em sự hưng phấn, ham thích học toán.
Vì dụ: Khi dạy bài “Bảng nhân 6 có bài.
6 12 18 36 60
Tôi chia bảng làm 2 cột và ghi 2 cột giống nhau. Sai đó chia 2 đội (Mỗi đội 5
em) lên thi đua tiếp sức điền đúng mỗi ô 5 điểm. Đội nào nhiều điểm đội sẽ
thắng và được tuyên dương
4/ TĂNG CƯỜNG LIÊN HỆ GIA ĐÌNH HỌC SINH.
Trong cuộc sống là không thể thiếu đối với mọi người, Nhưng nếu chỉ lo
mưu sinh mà không chú ý đến việc học của con em mình nhất là tuổi của em còn
nhỏ, suy nghĩ của các em còn hạn hẹp, ham chơi sẽ dễ dàng, các em học yếu,
chán học
7
Một số ít phụ huynh do nhu cầu mưu sinh hàng ngày đã không chú ý hay không
có thời gian chú ý đến việc học của con em mình, không biết con mình học ra
sao yếu môn gì, giỏi môn gì đến việc nghỉ học, đi học, học bài, làm bài tập ở
nhà cũng không cần biết đến hay cho rằng con mình còn nhỏ nên không cần học
nhiều hoặc nhiệm vụ dạy học đã có Thầy (Cô) nhà trường lo.
Thông thường kết quả học tập của các em thường được chúng ta thông báo qua

Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu
Đầu năm 36 9 em
25 %
14 em
38.9%
9 em
25%
4 em
11, 1 %
Giữa học kỳ I 36 12 em
33, 3%
13 %
36, 1 %
8 em
22, 2 %
3 em 8, 4
%
Cuối học kỳ I 36 17 em
47, 2 %
11 em
30, 6 %
6 em
16, 7 %
2 em
5, 5 %
Từ bảng trên qua thời gian thực hiện và nghiên cứu cho thấy
Số học sinh từ đầu năm đến giữa HKI khá giỏi tăng 5, 5%. Số học sinh trung
bình, yếu giảm 5, 5 %.
Từ giữa HKI đến cuối HKI khá giỏi tăng 8, 4 %. Số học sinh trung bình yếu
giảm 8, 4 %

nhiên để thực hiện được cách làm trên đòi hỏi chúng ta phải tốn nhiều công sức
11
và thới gian. Tôi nghĩ làm thế nào để học sinh lớp mình học tốt hơn phần số học
và đại số ở môn Toán giảm bớt học sinh học chậm môn Toán môn tôi đã không
ngại khó khăn để thực hiện những giải pháp trên.
II. Khuyến nghị

Trên đây là những kinh nghiệm tích luỹ của tôi. Bài viết này đôi khi còn
nhiều hạn chế, nhiều thiếu sót, Vì vậy, tôi rất mong sự đóng góp của anh chị
đồng nghiệp để bài viết của tôi ngày càng tốt hơn.
…………., ngày … tháng … năm 20…
Người viết
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status